Nhà văn Lê Hoài Nam là cây bút thành công ở nhiều đề tài và thể loại, ghi dấu ấn với hàng loạt tác phẩm đặc sắc cùng những giải thưởng danh giá. Trong số các truyện ngắn tiêu biểu của ông, “Lung lay bóng nguyệt” thuộc mảng đề tài lịch sử và văn học đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu đậm. Truyện không chỉ khơi gợi hứng thú thưởng thức văn học mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về hai tài năng kiệt xuất là tác giả Đặng Trần Côn và dịch giả tài hoa Đoàn Thị Điểm trong “Chinh phụ ngâm” – một kiệt tác văn chương đã in dấu trong lòng người đọc bao thế hệ.

Từ niềm yêu thích những đoạn trích trong “Chinh phụ ngâm” được dạy và học trong nhà trường và tình yêu Lịch sử, khi được đọc và nghe truyện “Lung lay bóng nguyệt” của Lê Hoài Nam, tôi đã có cái nhìn đầy đủ hơn về các nhân vật trong bối cảnh xã hội nửa đầu thể kỷ XVIII. Đồng thời càng thêm yêu mến và đồng cảm trước nỗi niềm của những con người tài hoa xuất chúng thủa ấy. Một Đoàn Thị Điểm thông minh, xinh đẹp, tài năng, đức độ. Một Đặng Trần Côn, chàng thi sĩ đa tài, giàu lòng tự trọng, có sự bứt phá ngoạn mục trong trong sáng tác để viết lên một áng văn chương để đời. Một quan thượng thư Lê Anh Tuấn trí đức vẹn toàn, thi sĩ nổi tiếng, công minh chính trực, biết trọng người tài, có tầm nhìn xa trông rộng. Một Đoàn Doãn Luân, anh trai của nữ sĩ, có tài văn chương chữ nghĩa, thi cử đỗ đạt, làm giám sinh ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Một tiến sĩ Nguyễn Kiều giỏi thơ văn, đỗ đạt, làm quan văn trong phủ chúa, phong độ, đường hoàng và lịch thiệp. Tất cả đã được nhà văn Lê Hoài Nam kể lại một cách đầy sáng tạo và cuốn hút bằng vốn hiểu biết sâu rộng về văn học và lịch sử, sự trân trọng và thấu hiểu các nhân vật của mình, để lại ấn tượng khó quên trong lòng người đọc, người nghe.

“Lung lay bóng nguyệt” được in trong “Tuyển tập truyện ngắn” của nhà văn Lê Hoài Nam

Truyện tập trung khắc họa nhân vật trung tâm là nữ sĩ Đoàn Thị Điểm trong mối quan hệ với các nhân vật khác. Qua đó, tài năng, tính cách, đức hạnh của bà đã được bộc lộ một cách đầy đủ và trọn vẹn, giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về một dịch giả xuất sắc trong “Chinh phụ ngâm”. Bà sinh ra trong một gia đình có dòng dõi Nho học. Thân phụ là cụ Đoàn Doãn Nghi, đỗ Hương cống thời Lê Trung Hưng, làm quan một thời gian rồi từ quan, về nhà dạy học. Đoàn Thị Điểm chỉ có một người anh trai là Đoàn Doãn Luân (1700 – 1735), đỗ đầu kỳ thi Hương tại Kinh Bắc, cũng sớm rời quan trường để nối nghiệp dạy học như cha. Ngay từ nhỏ, bà đã bộc lộ năng khiếu thơ văn vượt trội, thậm chí còn hơn cả cha và anh trai. Đó là tài đối đáp văn chương chữ nghĩa rất nhanh khiến người anh vừa nể phục, vừa tự hào và mừng cho em. Tuy mới ở tuổi vị thành niên nhưng bà đã có phong thái, cốt cách rất riêng, không lẫn với bất kì ai. Mỗi khi ra ngoài, bao giờ bà cũng ăn mặc tươm tất, ưa nhìn, toát lên vẻ duyên dáng, nữ tính. Người con gái ấy không chỉ xinh đẹp, tinh tế, ý nhị, lại rất khéo tay trong việc may vá, thêu thùa. Chính những điều đó mà quan thương thư Lê Anh Tuấn có ý muốn nhận nàng làm con nuôi, rồi chờ thời cơ thích hợp để tiến cử vào cung vua hoặc phủ chúa. Sở dĩ ông có ý định ấy bởi nghĩ rằng: “Đoàn Thị Điểm đã xinh đẹp lại là một tài năng hiếm gặp, có cá tính và phong cách, nếu cứ để nàng sống nơi dân dã sẽ chẳng có chàng trai ít học nào dám cưới nàng làm vợ; hơn nữa, người có phong cách không lẫn vào đám đông như vậy rất dễ trở thành mục tiêu cho những điều tiếng thị phi, không khéo làm lỡ dở một kiếp hồng nhan!”. Những lời kể của nhà văn đã giúp người đọc, người nghe có cái nhìn đầy đủ hơn về Đoàn Thị Điểm từ lúc tuổi thơ đến khi trở thành thiếu nữ đã có năng khiếu vượt trội, phong cách và thần thái thu hút được sự chú ý đối với xung quanh. Tài năng thường tỏa sáng ở những con người đặc biệt, có khí chất khác thường. Quan thượng thư sớm nhận ra điều đó nên ông ngỏ ý xin nàng về làm con nuôi để tạo điều kiện cho tài năng sớm được phát triển. Người anh trai Đoàn Doãn Luân cũng rất sáng suốt, đồng thuận cho em gái mình về làm con nuôi vị quan đáng kính ấy với lời khuyên chí lí: Ở đó cây bút văn chương của em mới được phát lộ.

Quả đúng như vậy. Về làm con nuôi quan thượng thư, Đoàn Thị Điểm có cơ hội được tiếp cận với nhiều tác phẩm của các thi sĩ nổi tiếng thời nhà Đường như Đỗ Phủ, Lí Bạch, Khuất Nguyên, Vương Bột… trong thư phòng của cha. Nàng say sưa đọc để mở rộng vốn hiểu biết của mình. Với bản tính thông minh, linh hoạt, khéo léo trong cách giao tiếp ứng xử, Đoàn Thị Điểm đã được quan thượng thư tin tưởng giao phó cho việc truyền đạt thư từ, công văn đến các viên quan khác mà danh tiếng cũng lẫy lừng như ông. Mọi việc, nàng đều hoàn thành tốt khiến ông rất hài lòng và tin cậy. Với sự nhìn nhận thấu đáo nơi triều chính, để tránh cho con gái phải giáp mặt với Trịnh Giang, một con người nổi tiếng ăn chơi bạo liệt, sắp lên nối ngôi chúa, thượng thư Lê Anh Tuấn đã quyết định đưa nàng vào hoàng cung đảm nhận công việc giáo vụ để dạy văn chương chữ nghĩa cho các hoàng tử, công chúa, cung phi. Một lần có viên quan sứ nhà Mãn Thanh sang, vua Lê Thuần Tông đã sai Đoàn Thị Điểm ra đứng trước đoan môn đón tiếp. Đến đây, người đọc lại thêm thán phục tài ứng khẩu, đối đáp rất thông minh nhanh trí của nàng với viên sứ nhà Mãn Thanh khiến hắn chịu cứng họng trước vế đối chuẩn xác và thâm hậu. Thật là một trí tuệ hiếm có và bản lĩnh vững vàng của người con gái nước Nam dịu dàng xinh đẹp đã làm cho kẻ thù phải kinh ngạc và nể phục. “Ông ta đánh trống lảng rồi bước nhanh qua đoan môn vào hoàng cung”.

Bên cạnh việc khắc họa tài ứng đối xuất sắc của Đoàn Thị Điểm trong hoàng cung, nhà văn còn cho người đọc thấy rõ sự suy yếu nơi phủ chúa khi Trịnh Giang lên nối ngôi sau khi Trịnh Cương qua đời. Đây là cơ hội để những kẻ xu nịnh, khéo miệng nhưng bất tài như viên nội quan Hoàng Công Phụ được dịp phất lên. Ông ta đã làm mọi việc để mua vui cho chúa và âm thầm thực hiện toan tính riêng của mình. Trong khi đó, những bậc quan có tài, có đức, công minh chính trực như thượng thư Lê Anh Tuấn và Nguyễn Công Hãn thì bị điều động lên trấn giữ miền biên ải cực Bắc xa xôi hẻo lánh. Dần dà, việc điều hành trong phủ chúa đã rơi vào tay Hoàng Công Phụ. Bởi lúc đó, Trịnh Giang ngày càng ăn chơi trác táng, hoang dâm vô độ, không còn đủ sức khỏe và tinh thần để điều hành chính sự. Khi bệnh tình của chúa ngày càng trầm trọng, Hoàng Công Phụ đã cho xây dựng nhiều đền chùa to đẹp với niềm tin đức Phật sẽ phù hộ cho chúa nhanh khỏi bệnh. Nhưng chùa chiền càng mọc lên nhiều thì bệnh của Trịnh Giang ngày càng nặng thêm. Hơn thế, việc xây dựng đền chùa lại rất tốn kém đã khiến nhà chúa tăng thu các loại thuế, đẩy đời sống của người dân vào cảnh lầm than cơ cực. Trước tình trạng ấy, họ không khỏi ngao ngán, căm phẫn, oán ghét chế độ. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những cuộc nổi dậy, khi người dân kéo đến đập phá tan tành vương phủ của ông ngoại chúa Trịnh Giang.

Thượng thư Lê Anh Tuấn và Đoàn Thị Điểm đều chứng kiến cảnh suy vi nơi phủ chúa. Với tầm nhìn sâu rộng, ông đã sớm lường trước được cơ sự khi bị điều động đi xa. Thực ra ông lo cho mình thì ít mà lo cho Đoàn Thị Điểm thì nhiều. Bởi khi ông đi rồi, nàng khó mà tránh được những hiểm họa tai ương sẽ ập đến bất cứ lúc nào. Tấm lòng của người cha vì thế luôn nặng trĩu những âu lo rối bời khi nghĩ đến người con gái nuôi giỏi giang đức độ mà ông rất mực thương quý và tự hào. Đang trong tình cảnh đó thì hai cha con nhận được tin dữ từ quê nhà đưa tới: anh trai của nàng Đoàn Doãn Luân vừa qua đời vì bạo bệnh. Nén chặt nỗi đau thương, Đoàn Thị Điểm xin phép cha trở về lo hậu sự cho anh. Chính trong hoàn cảnh này, phẩm đức của nàng đã được bộc lộ rõ hơn bao giờ hết. Những lời thưa gửi đầy hiếu nghĩa của nàng cùng lời dặn dò ân cần, sâu nặng của quan thượng thư đã khiến người đọc, người nghe không khỏi xúc động và cảm thương. Nào ngờ, đó lại là lần cuối hai cha con được trò chuyện với nhau. Người con gái tài hoa, đức hạnh ấy đã từ biệt cha nuôi để trở về quê nhà làm tang lễ cho anh trai được chu toàn và chăm lo cho mẹ già, chị dâu cùng hai đứa cháu thơ dại. Giờ là lúc nàng phải thay anh gánh vác gia đình, trở thành điểm tựa vững chắc cho những người thân yêu ruột thịt của mình dựa vào.

Về quê, Đoàn Thị Điểm đã gây dựng lại nghề bốc thuốc của cha, đồng thời mở lớp dạy chữ Nho tại tư gia. Bằng cái tâm, cái tài của mình, nàng đã thu hút rất đông người tìm đến. Nhờ đó, cuộc sống của cả nhà dần trở nên ổn định và khấm khá hơn. Lớp học đã quy tụ nhiều văn nhân, thi sĩ, tạo nên một không gian học tập và giao lưu đầy sôi nổi. Cũng qua họ mà nàng biết được tin quan thượng thư Lê Anh Tuấn đã bị chúa Trịnh Giang cho người bức hại. Một thủ đoạn tàn độc nhằm loại bỏ người tài đức, công minh chính trực để giành giật ngôi vị về mình. Tin dữ ấy khiến trái tim nàng quặn thắt nỗi đau vì thương người cha nuôi đáng kính. Những hành động việc làm hiếu nghĩa của Đoàn Thị Điểm trong hoàn cảnh này khiến người đọc càng thêm trân trọng và yêu mến. Hình ảnh “Nàng chít dải khăn tang lên đầu và lập bát hương thờ người cha nuôi bên cạnh cha ruột của mình” là một nghĩa cử sâu nặng, thể hiện trọn vẹn tấm lòng ân nghĩa với những người đã khuất.

Theo thời gian, nỗi buồn đau trong nàng cũng dần nguôi ngoai bởi có nhiều bạn bè động viên an ủi, sẻ chia. Tiếng lành đồn xa, nhiều văn nhân tìm đến lớp học không chỉ lấy cớ để giao lưu, đàm đạo văn chương mà chủ yếu muốn tiếp xúc và chiêm ngưỡng dung nhan của một cô giáo xinh đẹp, tài giỏi như nàng. Trong số đó có thi sĩ Đặng Trần Côn. Chàng tự tin mang đến cho nàng thưởng lãm tập thơ mới sáng tác của mình, rồi hồi hộp chờ đợi người đẹp… khen. “Nàng chăm chú đọc một lát rồi trả lại cho Đặng”. Không ngần ngại hay né tránh, nàng nhận xét mấy câu rất thật: “Tập thơ của chàng thỉnh thoảng có những câu hay, điều đó chứng tỏ chàng có những tố chất của một nhà thơ nhưng nhìn chung thì hãy còn… nhạt lắm! Chàng chưa sang nước Tàu bao giờ mà lại có một số bài ca vịnh cảnh bên Tàu, văn ám tả và khuôn sáo quá”. Nghe những lời đó, chàng thi sĩ họ Đặng không khỏi thất vọng đến tột cùng. Mặt chàng biến sắc, tái nhợt như người thiếu máu, chỉ nói được vài ba câu ngượng nghịu rồi xin phép cáo lui. Nhưng chính những lời thẳng thắn đó của Đoàn Thị Điểm đã làm cho chàng trai họ Đặng thức tỉnh và khi trở về nhà đã “đào hầm dưới lòng đất để toàn tâm toàn ý học văn chương”. Và rồi, “Chinh phụ ngâm khúc” (Khúc ngâm của người vợ có chồng ra chiến trận, còn gọi là Chinh phụ ngâm) đã ra đời.

Trong truyện ngắn “Lung lay bóng nguyệt”, mỗi chi tiết đều được nhà văn chăm chút kĩ lưỡng và gửi gắm những dụng ý riêng, góp phần làm nổi bật phẩm chất cao đẹp của nhân vật chính. Song điều khiến tôi rất xúc động là tình yêu chân thành mà quan Tả thị lang Nguyễn Kiều đã dành cho Đoàn Thị Điểm được thể hiện qua bài thơ đầy cảm xúc. Bởi ông không chỉ là một vị quan văn có danh tiếng mà còn có tài thơ phú xuất chúng. Sau khi người vợ – con gái của quan thượng thư Lê Anh Tuấn không may qua đời sớm, ông lại nhận lệnh từ phủ chúa giao trọng trách dẫn đầu đoàn sứ bộ nước ta sang nhà Mãn Thanh để thương thuyết một việc hệ trọng. Không muốn những đứa con thơ dại của mình phải bơ vơ khi vừa mất mẹ, trong lúc này rất cần có bàn tay người phụ nữ trông nom chăm sóc hằng ngày và lo quán xuyến mọi việc trong gia đình, ông đã viết bài thơ thất ngôn bày tỏ hoàn cảnh éo le và nỗi lòng mình gửi cho Đoàn Thị Điểm. Bài thơ đã lay động trái tim người con gái họ Đoàn khiến nàng không thể chối từ lời cầu hôn chân thành và tha thiết của ông.

Nghìn trùng sứ bộ núi vây giăng

Dong duổi ai hay chuyện dữ lành

Con dại bơ vơ tìm bóng mẹ

Buồng tằm bận rộn ngóng dâu xanh

Thềm hoang cỏ mọc đâu người nhặt

Phần mộ quê nhà vắng khói nhang

Rằng tình là thế, ơn là thế

Đỏ mắt chờ mong cánh nhạn sang.

Có thể nói, từng câu chữ của bài thơ đều khiến người đọc, người nghe không khỏi rưng rưng xúc động và đồng cảm. Bài thơ đã giãi bày hết mọi nhẽ về gia cảnh cũng như nỗi mong chờ được hồi đáp, kết đọng ở câu cuối “Đỏ mắt chờ mong cánh nhạn sang”. Tôi cũng không rõ đây là bài thơ thực của Nguyễn Kiều hay là sự sáng tạo đầy tinh tế của nhà văn Lê Hoài Nam, nhưng quả thật, bài thơ đã chạm đến sâu thẳm trái tim độc giả. Khi được nghe giọng đọc đầy biểu cảm của nhà văn Võ Thị Xuân Hà, tôi đã không kiềm chế được cảm xúc như thể người trong cuộc. Chính sự chân thành tha thiết ấy đã khiến cho Đoàn Thị Điểm không nỡ chối từ. Một mặt, vì quá thương người chị bạc mệnh và những đứa trẻ; mặt khác, nàng vốn đã quý trọng nhân cách cũng như tài năng đức độ của quan Thượng Thư từ lâu nên nhận lời kết duyên cùng ông. Chỉ tiếc rằng những giây phút ngọt ngào, hạnh phúc bên nhau của hai người lại quá ngắn ngủi, chỉ vỏn vẹn vài ngày trước khi Nguyễn Kiều lại tất bật chuẩn bị cho chuyến đi sứ. Dẫu vậy, nhưng người đọc, người nghe vẫn cảm nhận rõ sự đồng điệu sâu sắc trong tâm hồn và thơ văn của hai bậc tri kỉ. Nguyễn Kiều đã thấu hiểu và đánh giá đúng về tài năng văn chương của nữ sĩ, khiến nàng rất cảm động và càng yêu ông hơn. Ngoài nghĩa phu thê, hai người còn là tâm giao – tri kỉ của nhau. Họ đã tìm thấy nhau sau bao dâu bể của cuộc đời. Nhưng liệu chuyến đi sứ lần này sẽ ra sao khi ông đã viết câu thơ đầy dự cảm “Dong duổi ai hay chuyện dữ lành.”? Người đọc cũng cảm thấy hồi hộp, lo lắng thay. Đường đi xa xôi, đầy trắc trở, công việc nhiều hiểm nguy, biết ngày nào ông mới trở về để gặp lại nàng? Liệu đây chỉ là cuộc chia tay tạm thời hay chia ly vĩnh viễn? Không ai có thể nói trước điều gì. “Nàng tiễn ông ra tận cổng thành. Hai người cứ bịn rịn mãi mới dứt ra được”. Nàng trở về trong tâm trạng nhớ thương da diết ngập lòng, mòn mỏi chờ đợi ngày gặp lại người chồng yêu dấu.

Cũng đúng vào lúc tâm trạng của nàng đang chống chếnh, bất an thì người nhà của Đặng Trần Côn đã chuyển đến một gói bưu phẩm. Bên trong là tập bản thảo viết bằng chữ Hán có tựa đề “Chinh phụ ngâm khúc”. Đoàn Thị Điểm đã ngồi vào bàn đọc liền một mạch. “Tác phẩm mô tả thời tao loạn, người đàn ông ra trận mạc, người đàn bà mỏi mắt chờ mong. Có gì đó cũng giống với tâm trạng của nàng ngóng trông người chồng đi sứ, vời vợi nghìn trùng lúc này”. Rất đồng cảm với nỗi lòng của nhân vật người chinh phụ trong tác phẩm, nàng đã chuyển ngữ rất nhanh từ nguyên tác chữ Hán sang chữ Nôm. Sau khi hoàn thành, nàng sai người hầu chuyển cả bản gốc và bản dịch mang về cho Đặng Trần Côn. Khỏi phải nói hết nỗi mừng vui khôn xiết của chàng khi đọc bản dịch. Vô cùng cảm kích và nể phục tài năng xuất chúng của Đoàn Thị Điểm, chàng đã nhanh chóng đến tận nhà để diện kiến nàng. Sau cái vái chân thành vì cảm phục là những lời nói đầy khiêm nhường và biết ơn người dịch đã “thổi hồn vào tác phẩm khiến tầm vóc của nó được nâng cao hơn bản gốc” thành những vần thơ tuyệt bút. Chàng rất xúc động và thành tâm nói với Đoàn Thị Điểm: “Nàng xứng đáng mang danh: “Hồng Hà nữ sĩ” mà người đời đã đặt cho”. Không chỉ dừng lại ở sự ngưỡng mộ, Đặng Trần Côn còn bộc bạch nỗi niềm riêng đầy tiếc nuối khi hai người không thể nên duyên chồng vợ với nhau. Trước tình cảm ấy, Đoàn Thị Điểm cũng không khỏi xúc động, chỉ biết nhẹ nhàng an ủi, vỗ về: Nếu chàng có tình cảm với tôi thì chúng ta sẽ mãi là bạn văn, tri âm, tri ngộ với nhau. Dẫu biết vậy nhưng có lẽ trong sâu thẳm tâm hồn, chàng thi sĩ ấy vẫn mang một nỗi tiếc nuối khôn nguôi suốt cả cuộc đời.

Tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của tác giả Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn Thị Điểm

Câu chuyện khép lại nhưng cảm giác buồn thương vẫn không thôi ám ảnh người đọc, người nghe, dù biết rằng đó là truyện. Hình ảnh từng nhân vật cứ lần lượt hiện lên trong sự hình dung tưởng tượng. Đặng Trần Côn trở về trong âm thầm tiếc nuối cho duyên phận. Quan Nguyễn Kiều đi sứ biết ngày nào được bình an trở về để sum vầy tình nghĩa phu thê. Còn Đoàn Thị Điểm ở lại trong tâm trạng chênh chao, cô đơn lẻ bóng, mang nặng nỗi nhớ thương chồng da diết. Có lẽ vì thế mà tác giả đã đặt nhan đề cho tác phẩm của mình là “Lung lay bóng nguyệt”. Mỗi từ ngữ đều mang một ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc, thể hiện được trạng thái tâm lý của các nhân vật. “Lung lay” gợi lên một cảm giác không chắc chắn, tượng trưng cho một trạng thái tinh thần đang chao đảo, thiếu điểm tựa. Còn “bóng nguyệt” là hình ảnh quen thuộc trong văn học, biểu tượng cho vẻ đẹp thanh khiết nhưng mong manh, dễ tan biến. Khi kết hợp lại thì “Lung lay bóng nguyệt” gợi lên sự dao động, xáo trộn trong cảm xúc và ám chỉ những cái đẹp thường mong manh, hư ảo, khó nắm giữ. Có thể nói, đây là một nhan đề rất hay, giàu sức gợi, hoàn toàn phù hợp với nội dung tác phẩm và tâm trạng nhân vật trước những biến động của cuộc đời.

Đọc và nghe lại tác phẩm, tôi càng nhận thấy sự sáng tạo của nhà văn trong cách xây dựng mạch kể. Từng tình tiết được lựa chọn và sắp xếp theo một trình tự lớp lang, hợp tình hợp lí, để lại nhiều ấn tượng và cảm xúc cho độc giả. Về từ ngữ, tôi rất tâm đắc với lớp từ Hán Việt mà nhà văn sử dụng một cách tinh tế, vừa gợi lên không khí cổ xưa, vừa giữ được vẻ trang trọng và tao nhã, phù hợp với từng nhân vật và bối cảnh truyện. Có thể kể ra một loạt từ như: đoan môn, phát tiết, thất lễ, trác tuyệt, thâm hậu, thưởng ngoạn, chính sự, bạo liệt, thưởng lãm, văn nhân, ý trung nhân, phúc đáp, tao loạn, diện kiến, trọng nhiệm, hồn cốt, tri âm, tri ngộ, … và còn rất nhiều từ ngữ biểu cảm và đắt giá khác. Câu văn linh hoạt, lời kể giàu hình ảnh và cảm xúc. Có thể nói, “Lung lay bóng nguyệt” là một truyện ngắn đặc sắc, không chỉ ở nội dung ý nghĩa mà còn là nghệ thuật kể chuyện đầy cuốn hút, để lại nỗi ám ảnh rất lâu trong tâm trí người đọc, người nghe.

(Nguồn ảnh từ Internet)

Hà Nội, tháng 3 năm 2026

Phạm Thị Hường

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành