Đã đi qua hơn nửa thế kỷ của đời người, trải qua không biết bao nhiêu cái Tết cùng những đổi thay của quê hương, đất nước nhưng thế hệ đầu 7X chúng tôi, những cái Tết của thời thơ ấu vẫn đậm sâu trong ký ức. Đó là những cái Tết có nhiều cái “nhất”: thời tiết rét nhất, việc mua bán sắm sửa đơn giản nhất, ăn uống đạm bạc thiếu thốn nhất, nhưng lại vui và háo hức mong đợi nhất, không gì sánh bằng.

Những ngày giáp Tết, trời rét đến tê buốt

Chẳng cứ gì giáp Tết, tôi nhớ gần như suốt những mùa đông của thập niên 70, năm nào cũng có nhiều đợt rét kéo dài. Rét đến cắt da cắt thịt, lại kèm theo mưa phùn gió bấc nên cái lạnh càng tê buốt hơn. Khổ nỗi là không có quần áo ấm để mặc. Đêm nằm phải rải ổ, đắp cái chăn chiên, phủ thêm tấm chiếu mà người vẫn run lên cầm cập. Có được cái áo len xù xì hay cái áo bông cũ kĩ để mặc là tốt lắm rồi. Bao nhiêu áo cũ, rách lôi hết ra mặc vào trong nhưng cũng không thấm tháp gì. Đi học, đi làm, chân tay cóng đờ, mặt môi tím tái. Về nhà, phải vội vào bếp, ngồi hơ tay một lúc mới đỡ. Không chỉ người mà cả vật nuôi cũng khổ. Trâu bò lợn gà đứng run rẩy, thu mình chịu rét. Khổ nữa là đói. Đói nên càng thấy rét hơn. Cái đói và cái rét cứ đeo đẳng, bám riết từng mái nhà, từng phận người suốt những mùa đông năm nào.

Càng giáp Tết, trời càng lạnh giá. Mưa dầm dề triền miên. Đường lầy lội, đất bùn nhão nhoẹt. Bầu trời xám xịt một màu ảm đạm. Người lớn tất bật ngoài đồng gánh phân, nhổ mạ, cầy cấy cho kịp thời vụ và lo toan sắm sửa khi cái Tết đang cận kề. Dù nghèo khó đến đâu cũng phải gắng sao cho con trẻ được “no ba ngày Tết”, để mâm cơm có bánh chưng xanh, thịt mỡ, dưa hành… Những khuôn mặt bợt bạt, khắc khổ vì lao động vất vả, vì ăn đói mặc rét, vì nỗi lo cơm áo đè nặng lên đôi vai gầy guộc. Cuộc mưu sinh của người lao động chưa bao giờ là hết nhọc nhằn, lam lũ.

Chỉ có trẻ con chúng tôi là vô lo vô nghĩ và mong đợi Tết nhất. Đứa nào đứa ấy tính đếm từng ngày, từng giờ, hết tính xuôi lại tính ngược, chỉ mong đến ba mươi, mồng Một để được ăn những món ngon mà ngày thường không có, được mặc quần áo mới, được đi chúc Tết ông bà họ hàng, được ở nhà chơi tú lơ khơ, đánh đáo “ăn tiền” và nhiều trò mình thích, không phải ra đồng làm, được tập và đi xe đạp mà không bị la mắng như mọi ngày…  Chỉ nghĩ đến những giây phút đó là quên đi cái đói cái rét, cái vất vả, phải đi chăn bò, cắt cỏ, cùng với cha mẹ nhổ mạ, cấy lúa ở ngoài ruộng trong những hôm rét buốt.

Cảnh nghèo sắm Tết giản đơn, mâm cơm đạm bạc chỉ hơn ngày thường

Để có đồng tiền sắm Tết là cả một sự dành dụm, chắt chiu hàng tháng trời của hầu hết các gia đình ngày ấy. Có nhà phải bòn bán từng con gà, con vịt, thùng thóc, bao gạo, gánh khoai, gạn ao cá, cắt luống rau xanh, nhổ luống mùi già, chặt buồng chuối xanh, buồng cau, hái mớ lá trầu … và những gì có thể để bán lấy tiền tiêu Tết. Gánh hàng mua về của các bà các mẹ không thể thiếu được mớ lá dong, ống giang, măng miến, mắm muối, thêm bánh pháo tét, gói mứt, chai rượu chanh, vàng hương, bao thuốc lá Điện Biên hay Sông Cầu, một hai đôi dép, mấy bộ quần áo mới cho các con để chúng đỡ tị nạnh lẫn nhau. Còn lại là của nhà chuẩn bị. Gà thì một hai con. Thịt lợn thì đánh đụng. Chuối xanh, bưởi để bày mâm ngũ quả cũng đã có trong vườn. Đào, mận chặt ở cây hoặc xin nhau một hai cành nhỏ, gọi là có sắc xuân. Tết ngày ấy đơn sơ nhưng ấm áp nghĩa tình.

Mâm cơm ngày Tết cũng rất giản đơn, chỉ vỏn vẹn vài ba món truyền thống quen thuộc: đĩa bánh chưng, thịt gà luộc, khoanh giò, bát canh măng miến, đĩa dưa chua, hành muối, rau xào. Thế là sang lắm rồi. Nhưng đó là mâm cơm tất niên chiều ba mươi và ngày mồng Một để cúng gia tiên, được gia chủ chuẩn bị chu đáo và trang trọng nhất trong năm. Còn sang ngày mồng Hai, mồng Ba, thì nhà còn gì dùng thế. Trưa mồng Ba hóa vàng cũng là lúc thức ăn đã gọn ghẽ, coi như hết Tết. Nhà đông con, những đứa trẻ vẫn hau háu thèm. Bố mẹ luôn phải nhường cho các con. Nhiều người, Tết mới là dịp được ăn no, ăn ngon hơn ngày thường chứ chưa có để ăn đến chán. Bởi thế, món nào cũng hấp dẫn và nhớ đến suốt đời. Sau này, cuộc sống dư dả, đủ đầy, có nhiều thức ngon vật lạ nhưng chưa chắc đã tìm lại được hương vị và cảm giác như Tết xưa – Tết của thời bao cấp đầy những khó khăn thiếu thốn nên ai cũng quý trọng từng giá trị nhỏ bé của vật chất.

Mâm cơm ngày Tết, sum vầy yêu thương

Tết – niềm vui háo hức và mong đợi nhất trong năm của tuổi thơ ngày ấy

Trái với nỗi lo toan, vất vả của người lớn để có một cái Tết tươm tất, trẻ con chúng tôi lại mong Tết hơn bất cứ điều gì trong năm. Sự chờ đợi ấy đã kéo dài từ nhiều tháng, nhất là khi bước sang tháng Chạp. Đứa nào cũng xòe bàn tay ra tính đếm từng ngày, từng giờ để đến Tết. Cái giây phút ấy nó thiêng liêng và rộn ràng lắm. Chỉ nghĩ thôi mà trong lòng đã rạo rực, làm gì cũng thấy vui, chẳng cần ai thúc giục. Những ngày 28, 29 là quãng thời gian háo hức nhất, bởi được mẹ cho đi chợ, mua bộ quần áo mới hay đôi dép để diện Tết. Con trai thì dán mắt vào hàng pháo, nằng nặc đòi mua bằng được một bánh để đốt vào đêm giao thừa. Niềm vui tràn ngập trên những gương mặt, ánh mắt và nụ cười tuổi thơ, không gì bằng.

Theo mẹ đi chợ Tết, mặc áo mới đón Xuân

Háo hức nữa là kéo nhau đi xem đụng lợn nhà hàng xóm. Nghe tiếng kêu eng éc, đứa nào cũng bật dậy, làm cho xong các việc buổi sáng của mình là chạy sang ngay. Đứa nào đứa ấy đứng nép vào một góc để xem, cảm giác vừa thương con vật, vừa sợ cảnh mổ thịt, lại tò mò dõi theo từng động tác của người lớn. Đến lúc chia phần, mỗi đứa được nếm trước miếng lòng nóng hổi, béo ngậy, thơm lựng mà nhớ đến tận bây giờ.

Trưa hôm đụng lợn, nhà nào cũng có bữa “ăn tươi”. Trẻ con tíu tít chạy ra chạy vào như nhà có cỗ. Người lớn tất bật pha chế, làm món nọ món kia dành cho mấy ngày Tết. Gương mặt rạng ngời niềm vui, tạm quên đi những lo toan vất vả thường ngày. Ánh mắt yêu thương trìu mến, cùng với tiếng cười con trẻ làm cho không khí gia đình ngày giáp Tết càng thêm ấm cúng. Nghèo mà vui.

Đụng lợn ngày xưa – Tết về giữa xóm nhỏ

Vui nhất là cảnh cả nhà quây quần chuẩn bị gói bánh chưng chiều 28 Tết. Mỗi người một việc. Mẹ vo gạo, đãi đỗ, cho muối, để cho ráo nước. Những hạt gạo nếp cái tròn mẩy, trắng ngần, được ngâm no nước căng mọng lên. Đỗ xanh lòng vàng đồ chín, đánh nhuyễn, viên thành từng nắm, thơm phức. Bố cướp thịt, chẻ lạt, kê gạch, bắc bếp. Trẻ con chúng tôi đứa rửa lá, lau khô, đứa bê củi, đứa đánh nồi gang nấu cám cho sạch bóng. Làm xong, tất cả chăm chú ngồi xem bố gói bánh. Không cần khuôn mà cái nào cũng vuông vức, chặt chẽ, đều chằn chặn, mướt xanh màu lá. Bố còn gói cho mỗi đứa một cái bánh nhỏ xinh, được đánh dấu bằng những nút buộc khác nhau cho đỡ lẫn. Đứa nào cũng mong chờ giây phút luộc bánh, vớt bánh để cầm trên tay chiếc bánh của mình mà ngắm nghía, hít hà và nếm trước. Ăn lúc thèm và đói bao giờ cũng ngon nhất.

Sau bữa tối, cả nhà quây quần bên bếp lửa hồng để luộc bánh. Mấy đứa trẻ hàng xóm cũng sang góp vui khiến căn bếp rộn ràng hẳn lên. Củi gộc cho vào cháy đượm, chẳng mấy chốc nồi bánh đã sôi ùng ục. Hơi lửa tỏa ra ấm sực, má ai cũng đỏ bừng. Lũ trẻ chúng tôi háo hức ngồi nghe người lớn kể chuyện, hết chuyện cổ tích đến chuyện ma. Ngày thường thì sợ thót tim nhưng có đông người nên không còn thấy sợ mấy. Vừa nghe chuyện, vừa nướng khoai. Than hồng rực, khoai nhanh chín, kều ra, bẻ ra mỗi đứa một đoạn, nóng hổi vừa thổi vừa ăn. Mặt mũi đứa nào cũng đen nhẻm vì gặm cả vỏ. Ăn xong, cả bọn lại chơi tam cúc, tú lơ khơ, đứa nào thua bị bôi nhọ khắp mặt, nhìn nhau cười nghiêng ngả, vang động cả xóm. Không gì hấp dẫn và được cười nhiều như trò chơi này. Đến đêm, khi cơn buồn ngủ ập đến, cả lũ lăn ra ổ rơm ở gian bếp, còn ấm hơn cả chăn bông gối đệm, ngủ một mạch đến sáng, quên hết cả nhiệm vụ.

Đêm luộc bánh chưng – niềm vui đón Tết

Đêm luộc bánh chưng ấm áp ấy đã trở thành một trong những ký ức đẹp và sâu đậm nhất của Tết xưa. Nhưng còn có một âm thanh đặc biệt vang lên vào thời khắc thiêng liêng của năm mới, phải kể đến tiếng pháo. Đó là những năm pháo chưa bị cấm, tiếng pháo đã trở thành “linh hồn” của ngày Tết, thiếu tiếng pháo coi như chưa phải là Tết. Nhà có con trai, đứa nào cũng mê pháo, còn hơn cả chuyện ăn ngon hay được mặc quần áo mới. Bởi thế, phiên chợ 29, 30 Tết, kiểu gì cũng phải nằn nì mẹ mua cho bằng được bánh pháo. Nhà nghèo thì có bánh pháo tét nổ lạch tạch, lẹt đẹt; nhà khá hơn thì bánh pháo cối nổ đùng đoàng. Khoảnh khắc mong chờ và hồi hộp nhất trong đêm giao thừa của mỗi gia đình là được treo bánh pháo trước cửa và đợi đến đúng 0 giờ bắt đầu châm lửa đốt. Tiếng pháo nổ giòn giã hết nhà này đến nhà khác, mùi thuốc pháo lan tỏa khắp không gian, trở thành mùi đặc trưng của Tết. Sáng mồng Một, sân nhà như trải một tấm thảm hồng rực bởi xác pháo, tựa sắc hoa đào bung nở. Lũ trẻ lại thi nhau bới tìm những quả nào chưa nổ để đốt tiếp. Mãi đến năm 1995, Chính phủ ban hành Nghị định cấm đốt pháo vì nguy cơ mất an toàn. Những cái Tết sau đó trở nên tĩnh lặng, buồn tẻ. Người ta thấy hụt hẫng như mất đi một cái gì đó rất đỗi thiêng liêng và quen thuộc. Nhưng rồi thời gian cũng khiến cho người dân quen dần và nhận ra sự nguy hiểm của việc đốt pháo đã từng gây ra không ít hậu quả đau lòng. Trong ký ức của những thế hệ đầu 7X chúng tôi, tiếng pháo đêm giao thừa vẫn là một “bản giao hưởng” hào hùng và rực rỡ nhất mà không âm thanh nào thay thế được được trong thời khắc đất trời chuyển giao từ năm cũ sang năm mới. Những năm gần đây, pháo hoa đã rực sáng trên bầu trời ở khắp mọi nơi, tạo nên những hình thù vô cùng đẹp mắt. Mà không chỉ đêm giao thừa, pháo hoa còn lung linh tỏa sắc trong những sự kiện trọng đại của đất nước, thu hút đông đảo người xem và vô cùng tự hào.

Tiếng pháo ngày xưa gọi Tết vềhình ảnh minh hoạ

(Theo điểm i khoản 3 Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, hành vi sử dụng các loại pháo trái phép có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng.)

Sau những thanh âm rộn rã của đêm giao thừa, điều chúng tôi mong đợi nhất là buổi sáng mồng Một. Đó là được diện bộ quần áo mới đi chúc Tết ông bà, họ hàng. Tết là dịp duy nhất trong năm trẻ con được mặc quần áo mới, nên dù trời có mưa rét đến đâu cũng chỉ muốn mặc độc bộ đó để còn khoe. Trong lòng mỗi đứa trẻ tràn ngập niềm hân hoan, đúng là “vui như Tết”. Ngày ấy, chất vải không đẹp và mềm mại như bây giờ, màu sắc và kiểu may cũng đơn điệu nhưng đối với chúng tôi, nó là thứ đẹp nhất, được nâng niu giữ gìn như báu vật và cứ hà hít mãi cái mùi hồ cứng queo nhưng lại thấy nó thơm hơn bất cứ loại nước hoa đắt tiền nào sau này. Chỉ cần ai vô ý hoặc cố tình làm giây bẩn là khóc gào lên bắt đền, có khi ấm ức, giận dỗi cả ngày. Quần áo mẹ thường mua hay may rộng thùng thình để còn mặc được vài năm. Vậy mà đứa nào cũng thấy đẹp và oai lắm, chỉ muốn đi chúc Tết để khoe và được mọi người khen đẹp và chóng lớn thế. Vui nữa là được mừng tuổi một vài đồng xu hay mấy tờ tiền giấy đã cũ, chứ không mới tinh và nhiều như bây giờ. Nhưng đứa nào cũng nâng niu, quý trọng và để dành, thỉnh thoảng lại mang ra ngắm nghía, hoặc nhờ bà, nhờ mẹ giữ hộ, chứ không tự ý tiêu.

Niềm vui và sự háo hức còn kéo dài sang mồng Hai khi cả lớp hẹn nhau đi chúc Tết thầy cô. Ngày ấy đều đi bộ. Có năm đến nhà cô chủ nhiệm ở xa, cách mấy xã, chúng tôi phải hỏi thăm mãi, gần trưa mới tới nơi. Đứa nào cũng bụng đói cồn cào, chân mỏi nhừ, người mệt lả. Thấy học trò đường xa mà kéo đến đông, cô vừa xúc động vừa thương. Cô vội dỡ liền năm, sáu chiếc bánh chưng, “huy động” hết đồ ăn và cả bánh kẹo trên ban thờ xuống mới đủ chia. Miếng bánh chưng nhà cô ngon đến lạ, tận bây giờ chúng tôi vẫn còn nhớ cảm giác đó. “Ăn xong xuôi, tất cả cùng về”. Trên đường, mải trò chuyện và đùa nghịch, vui hết nấc, quên hết mệt nhọc, chẳng mấy mà đã tới nhà. Đó cũng là kỷ niệm không thể quê trong miền nhớ tuổi thơ.

Nay Tết lại về, một cái Tết văn minh, hiện đại và tiện lợi đủ thứ, mọi người không phải tất bật, vất vả, thiếu thốn như xưa, chỉ cần ra siêu thị hay gọi síp là có đủ hết. Thế nhưng với tôi và những người bạn đầu 7X, Tết của những năm tháng thời bao cấp đầy khó khăn gian khổ vẫn vẹn nguyên trong ký ức. Đó là những cái Tết nghèo mà chan chứa niềm vui, là sự háo hức mong đợi của những đứa trẻ quê đếm từng ngày, từng giờ. Vật chất tuy đạm bạc nhưng tình cảm thì luôn ắp đầy. Còn Tết ngày nay đủ đầy, sang trọng về vật chất nhưng lại nhạt và thiếu vắng đi những điều thiêng liêng khó gọi thành tên. Phải chăng khi cuộc sống càng sung túc thì con người ta càng hay hoài niệm và tiếc nuối về những giá trị tinh thần xưa cũ đang dần phai nhạt theo thời gian?

Ảnh trong bài nguồn từ Internet

Hà Nội, Tết Bính Ngọ 2026

Phạm Thị Hường

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành