Ở làng tôi, những năm đói kém giáp hạt, có một loại cây đã trở thành “cứu cánh” của biết bao người, bao gia đình. Một loại cây chẳng cần khoe sắc, có hoa mà không bao giờ kết trái, chỉ lặng lẽ vươn mình, dầu dãi nắng mưa, chắt chiu từng chút mỡ màu của đất mẹ để tạo nên những chùm củ, nuôi dưỡng bao phận đời. Một loại cây mà từ lá, thân, rễ, củ, đều trở thành thức ăn cho người và vật nuôi. Một loại cây mộc mạc, an lành, hiền hậu, chân chất như chính người dân quê tôi thủa ấy.  Một loại cây đã gắn bó với cuộc sống lam lũ, đói nghèo, đi qua bao nhọc nhằn mưu sinh, trở thành một phần không thể thiếu trong bữa ăn hằng ngày. Đó là cây khoai lang với thứ củ mà người Việt nâng niu gọi là “sâm Nam”, người Nhật lại trân trọng gọi là “sâm đất”. Chỉ riêng cách gọi đó thôi cũng đủ nâng tầm một loài thảo mộc dân dã nơi vườn quê, đồng nội lên ngang hàng với những gì tinh túy, cao sang và bổ dưỡng mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người.

Cây khoai lang

Kí ức về tuổi thơ nghèo khó

Có những kí ức dù nửa đời người đã trôi qua, vẫn vẹn nguyên như mới hôm nào. Với tôi, cây khoai lang là hình ảnh gắn bó đậm sâu nhất trong những năm tháng tuổi thơ nơi làng quê nghèo khó. Loại cây ấy đã cứu đói cả làng, nhất là những ngày giáp hạt hay tháng ba ngày tám. Nhiều gia đình đông con, quanh năm túng thiếu, chưa hết mùa đã hết thóc. Nồi cơm bắc lên, hơi còn nóng mà cơm đã không còn một hạt. Những đứa trẻ đang tuổi ăn tuổi lớn, lúc nào cũng đói khát. Khổ nhất là cái cảm giác “ăn dở miệng”, bụng thì rỗng, miệng vẫn thèm mà không còn gì để ăn. Đói bụng đầu gối phải bò. Nhà đông con (còn gọi là nhà con đàn), mỗi đứa một việc: lớn việc lớn, bé việc bé. Đứa lớn thì nửa ngày đi học, nửa ngày về ra đồng phụ giúp bố mẹ, rồi bắt cua bắt ốc, kéo vó, đánh rọ, kiếm thức ăn hằng ngày và bán lấy tiền đong gạo, mua mắm muối. Lớn vừa vừa, đứa thì bế em, đứa đi kiếm rau má về ăn độn. May mà ngày ấy, trời thương, rau má mọc nhiều ở các bờ ruộng, bờ mương máng, hai bên đường đất mới. Đi khoảng một hai tiếng là được đầy chặt rổ mang về. Mấy chị em lại xúm vào nhặt, mang ra ao rửa sạch, rồi thái nhỏ. Đợi nồi cơm cạn nước là cho vào ghế cùng, vùi xuống tro nóng, đốt thêm ít rơm rạ trên mặt vung cho đủ nhiệt. Cơm chín, cả nhà quây quần bên chiếc mâm gỗ, chỉ vỏn vẹn có món rau hái trong vườn hoặc kiếm ở ngoài đồng. Bát cơm xới ra, nâu sẫm một màu rau độn, chỉ loáng thoáng ít cơm trắng. Có bữa, cơm vừa nát, vừa nồng mà cũng không còn để ăn.

Cây khoai lang trong những mùa đói

Những năm mất mùa, hầu như cả làng cả xã đều phải ăn độn. Có được củ khoai để ăn là may lắm rồi. Nhưng khoai cũng theo vụ, không phải lúc nào cũng sẵn. Làng tôi, chỉ xóm phía ngoài mới gần đê. Dưới chân đê là bãi bồi sông Luộc (người dân quen gọi là bến). Mùa lũ về, nước dâng cao, đỏ lặng phù sa. Khi nước rút, để lại lớp đất đỏ mịn màng, màu mỡ, thích hợp trồng ngô khoai, đậu đỗ. Tuy diện tích bến không nhiều nhưng làng đã chia đều cho các hộ dân. Trong đó, tập trung cho khoai lang để chống đói. Mỗi nhà cũng chỉ được một đến hai, ba luống (tùy theo nhân khẩu), chạy dài tít tắp từ chân đê xuống tận mép sông.

Ngày ấy, hầu hết các nhà đều trồng giống khoai lang Trung Quốc. Tuy ăn không bở, nhanh ngán nhưng sai củ, ngọn và lá đều to, lên khỏe. Thời buổi đói kém, cốt năng suất là mừng. Ít nhà trồng giống khoai bở vì những giống này ít củ hơn, và lại dễ bị bới trộm. Thời điểm trồng khoai ở bến vào khoảng tháng Tám âm lịch. Cả làng đông vui rộn ràng như ngày hội. Nhà nào cũng huy động hết nhân lực để trồng cho kịp tiến độ. Mỗi người một công đoạn cho nhanh. Người đánh luống, người dải phân lót, người đặt dây, người thì phủ nhẹ một lớp đất, người dùng chân giậm chặt xuống cho dây khoai khỏi bị xê lệch sang vị trí khác, rồi tiếp tục phủ một lượt đất gần kín ngọn và dùng chân giậm lại lượt nữa cho thật chặt. Nhiều nhà cẩn thận, thay nhau xuống gánh nước dưới sông Luộc lên để tưới vào từng gốc cho dây khoai nhanh bén dễ. Ai cũng tất bật để hoàn thành luống khoai của nhà mình. Chỉ cần trồng trước một ngày, dây bánh tẻ, lại được tưới nước thì trông đã khác hẳn. Khoai lang là giống cây dễ trồng, dễ sống. Lớp đất phù sa màu mỡ, cùng với sương đêm ướt lạnh và nắng gió mênh mang nơi bãi bồi nên chỉ sau khoảng hai, ba tuần là các luống đã có màu xanh. Những ngọn bắt đầu vươn ra, mềm mại như bàn tay nhỏ xíu đón ánh mặt trời. Lá mới xanh non đã thay thế cho những lá già vàng úa. Đứng trên đê nhìn xuống, hàng trăm luống khoai thẳng hàng, đều tăm tắp, đang bừng lên sức sống mãnh liệt để chuẩn bị chống chọi với cái rét và sương muối cuối năm. Khoai dường như cũng biết thương người, không phụ công người mà vươn lên mạnh mẽ. Ai cũng mong mỏi, chờ đợi từng ngày để Tết ra, nhà nào cũng có rau ăn thêm chống đói.

Sau những ngày tháng Chạp rét cắt da cắt thịt là những tháng giêng hai mưa phùn gió bấc. Mưa dầm dề hết ngày này sang ngày khác, có khi kéo dài cả tháng không dứt. Bầu trời âm u một màu xám xịt. Không gian chìm sâu trong cái lạnh tê tái. Đường làng chỗ nào cũng trơn trượt, lầy lội. Người đói, vật nuôi cũng đói. Trâu bò những ngày mưa rét, ít chăn thả ngoài đồng, chỉ cột trong chuồng hoặc quanh quẩn chân đống rơm đống rạ, uể oải nhai mớ rơm ẩm mốc, thân hình rúm ró, gầy trơ xương. Lợn rít vang chuồng, đòi ăn suốt ngày. Chó mèo cụp tai, thu mình nơi góc bếp. Gà mẹ xác xơ đôi cánh, cục … cục, dẫn đàn con đi hết chỗ này đến chỗ khác mà vẫn chẳng kiếm được cái gì ăn, lại lục tục kéo nhau lên hiên nhà hoặc đỗ ở cửa bếp để ngóng chủ. Đàn gà con run rẩy, mắt nhắm nghiền, đứng củ rủ, chiêm chiếp kêu từng tiếng yếu ớt. Một khung cảnh ảm đạm đến não nề trong những ngày mưa dầm giá rét, chỉ những ai trải qua mới thấu hiểu.

Cái rét càng làm tăng thêm cái đói. Bởi đói nên có gì ăn cũng thấy ngon. Trẻ con đi học chỉ mong đến bữa, mà bữa cơm chủ yếu là độn rau, độn sắn. Rau trong vườn nhà cũng không đủ ăn. Mấy luống khoai ở bến lúc này là “cứu cánh” của các gia đình. Ngày nào, cũng lũ lượt trẻ con, người lớn mang rổ đi hái rau. Nhiều người còn “hái nhầm” sang luống nhà khác. Được cái giống khoai Trung Quốc, nó lên rất khỏe. Thời tiết mùa xuân, cây tốt bời bời, ngọn tua tủa vươn ra, mềm mại, mỡ màng. Lá bàn bạt, xanh non mơn mởn. Chỉ hái một lúc đã đầy chặt rổ, cắp về. Gạo ít nhưng có món rau đỡ trợ. Không có nước mắm, mỡ lợn nhưng đã có tích mẻ, chai nước cua muối để dành cho ngày mưa rét. Những thứ đó lại rất hợp với rau lang. Ngọn thì để luộc chấm với nước mẻ cho muối đun lên hay bát mắm cua, hết bay cả rổ. Lá thì nấu canh, cho ít nước cua nặng mùi vào, sao mà hợp đến thế. Nồi canh bắc ra xanh mướt, ngọt mềm, dậy lên cái mùi vị đặc trưng của mắm cua đồng, ngon đến khó tả, chỉ là không có cơm để ăn, chủ yếu húp vã cho no bụng. Món rau lang cứu đói ngày ấy đã trở thành một kí ức sâu đậm, để mỗi khi nhớ lại, lòng vẫn rưng rưng thương nhớ một loại cây đã nuôi dưỡng bao con người đi qua những năm tháng cơ hàn. Với tôi và có lẽ không ít người, bữa cơm ngày thiếu đói với món rau lang “thần thánh” ấy còn ngon hơn cả cao lương mỹ vị bây giờ.

Cảnh hái rau lang

Cây khoai không chỉ cung cấp những bữa rau xanh chống đói mà còn trở thành nguồn lương thực chính trong những ngày giáp hạt. Đó là thời điểm thu hoạch. Cả làng lại đông vui tấp nập mang quang gánh, liềm, cuốc ra bến dỡ khoai. Háo hức nhất vẫn là những đứa trẻ. Mỗi đứa một việc: đứa cắt dây, đứa nhặt củ, xếp vào quang xảo để bố mẹ, anh chị gánh về. Thân, lá, cuống, dễ, để dành cho trâu bò, lợn gà ăn cả tuẩn, không phải đi kiếm rau và cắt cỏ ngoài đồng. Củ thì phân loại, chọn những củ to, đều, nhẵn nhụi, dải xuống gầm giường cho thoáng, để dành, ăn sau, lại dễ “quản lí”. Củ xấu, nhỏ, dãi giun thì quây gọn vào góc bếp để ăn trước và nấu cám lấy cho tiện. Giống khoai Trung Quốc, củ tuy không bở nhưng càng để lâu càng ngọt. Những ngày mới dỡ khoai, bếp nhà thường xuyên đỏ lửa. Trẻ con hết nướng lại luộc, đến bữa thì cạo vỏ cho vào hấp cơm. Nhờ vậy mà cái đói cũng vơi bớt. Đi học, đứa nào cũng có củ khoai lót dạ buổi sáng và còn mang đi ăn và cho nhau. Những buổi đến trường ngày ấy thật vui!

Những luống khoai đến mùa thu hoạch

Nồi cám lợn được bỏ thêm ít khoai nhỏ để đỡ cám đi. Chiều tối, đứa nào cũng thích ngồi bóp nhuyễn những củ khoai trong nồi cám để còn tranh thủ chọn những củ nhẵn nhụi, bằng ngón tay, ngón chân… nếm trước. Có hôm thay nhau bới tìm, chén hết cả phần… của lợn. Vì đói nên cám có nồng đến mấy, ăn khoai trong đó vẫn thấy ngon. Và, dù có bị la mắng đến đâu, vẫn lén lút ăn với nhau. Chỉ tội cho chú lợn, tồng tộc một loáng đã hết sạch cả chậu, chủ yếu là rau, loáng thoáng ít khoai dãi, cám bổi, pha loãng với nước lã, lại rít ầm lên như lúc chưa ăn.

Nồi cám lợn được nấu thêm khoai

Nhưng khoai lang cũng chỉ được một hai tháng là hết sạch. Rồi phải chờ đến vụ mùa tháng Mười âm lịch, khi lúa ngoài đồng vừa gặt xong, bà con tranh thủ lên luống trồng khoai chiêm. Trồng khoai ở ruộng vất vả hơn nhiểu so với ngoài bãi. Bởi đất thịt nặng, ướt nhão, chứ không khô khan, tơi xốp, màu mỡ như đất phù sa. Khó nhọc nhất là đánh luống và gánh phân từ nhà ra ruộng rất xa mà lại nặng. Công việc này chủ yếu của người lớn, trẻ con chỉ phụ giúp các việc nhẹ hơn. Nhà nào nhà ấy tập trung ra đồng, mỗi người một việc. Có khi tối sẫm, không còn làm được nữa mới về. Mỗi luống khoai trồng xong là một niềm hy vọng cho những ngày giáp hạt đói kém có cái ăn. Vụ này, thường trồng các giống: khoai lang lim, củ tím, chắc nịch, bở tơi, thơm ngon và quý; khoai Hoàng Long ruột vàng, bở đỗ; khoai Nam Đàn bở trắng; khoai Trung Quốc không bở nhưng ngọt và năng suất. Giống khoai nào cũng là một loại “ngọc thực” để con người vượt qua những tháng ngày bĩ cực.

Với tôi và những bạn bè cùng trang lứa, cây khoai lang đã gắn bó trong suốt tuổi thơ nghèo khó. Đến khi vào học cấp 3 ở ngôi trường cách nhà hơn mười cây số, những củ khoai đã dần thay cho bữa ăn trưa trong những ngày ở lại để chiều lao động hoặc học phụ đạo. Cứ như thế, chúng tôi lớn lên, học hành rồi ra trường cũng là nhờ những củ khoai, củ sắn, cơm nắm muối vừng. Khoai là ân tình, ân nghĩa, ân nhân của bao người. Mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn hình dung mồn một những buổi sáng mùa đông lạnh giá, mẹ dậy sớm nhóm bếp, bắc nồi khoai luộc cho kịp giờ con đi học. Những củ khoai vừa gắp ra, nóng giãy, bốc hơi nghi ngút, được gói vào lá chuối khô cho vào ngăn cặp đã cũ nhàu. Ôm chiếc cặp nóng rực bên người mà thấy lòng ấm lại. Mẹ cũng yên tâm hơn khi buổi trưa con có củ khoai ăn cùng chúng bạn, đỡ ngại, chẳng lẽ cứ được “mời” mãi. Khoai lót dạ lúc đói lòng. Khoai gắn kết tình thân, tình làng nghĩa xóm, tình bạn, tình người, trong những lúc “một miếng khi đói bằng cả gói khi no”, quý giá vô cùng. Khoai giúp con người thấm thía lúc cơ hàn. Khoai dạy ta biết chắt chiu, quý trọng “món quà” của mẹ đất, được kết tinh từ bao mồ hôi, công sức và mong đợi của người trồng. Nhớ thương, quý trọng và biết ơn một loại cây dân dã mà thấm đượm nghĩa tình, sâu nặng hồn quê, dạt dào kí ức.

Nồi khoai luộc bên bếp lửa hồng

Cây khoai lang trong đời sống hiện đại hôm nay

Giờ đây, cuộc sống ngày càng đủ đầy và phát triển đi lên theo dòng chảy chung của xã hội. Chất lượng sống không ngừng được nâng cao, mang lại nhiều tiện ích cho con người. Mọi thứ đều có thể mua sắm thuận tiện và dễ dàng. Các món ăn trở nên phong phú, đa dạng, hấp dẫn, đáp ứng mọi khẩu vị và nhu cầu thưởng thức của nhiều người. Thế nhưng, giữa vô vàn những món ngon, sang trọng, thì củ khoai lang vẫn là thức quà quý, chứa đựng biết bao tình cảm chân thành, mộc mạc mà người ta dành cho nhau. Đặc biệt, món rau khoai lang xào tỏi vẫn được nhiều người ưa thích. Thứ rau dân dã quê mùa ấy đã có mặt trong các nhà hàng sang trọng, trở thành món “đặc sản” với giá không hề rẻ cho mỗi đĩa. Và cả củ khoai lang cũng vậy, nhất là giống khoai ngon, bở tơi thơm phức thì không phải ai cũng có điểu kiện để mua thường xuyên, nhất là những người phải chật vật kiếm sống hằng ngày. 

Món rau và củ khoai lang được nhiều người ưa thích

Ngày nay, người ta đã có nhiều giống khoai lang mới chất lượng, nhất là khoai Nhật củ tím, ruột vàng, bở tơi, thơm phức; hay khoai Điện Biên củ trắng ngà, ruột trắng, bở tung như vôi. Những loại này không chỉ rất ngon, lại có hàm lượng vi ta min cao và giàu chất xơ, một thứ tinh bột tốt cho những ai bị tiểu đường hoặc muốn giảm cân. Thời gian trồng cũng rút ngắn, không còn đằng đẵng sáu tháng như trước nữa. Nhưng trong kí ức, tôi vẫn không thể quên được những giống khoai lang ngày xưa đã cùng con người đi qua bao mùa đói và gắn liền với tuổi thơ đầy nhọc nhằn thiếu thốn, cùng suốt những năm tháng học trò của mình. Nhớ về cây khoai lang, tôi lại nhớ về miền quê nghèo đã nuôi chúng tôi lớn lên bằng những thứ mộc mạc, dân dã nhưng quý trọng và ân nghĩa một đời.

(Nguồn ảnh trong bài viết từ Internet)

Hà Nội, tháng 11 năm 2025

Phạm Thị Hường

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành