Ai cũng có một miền kí ức thẳm sâu trong tâm hồn. Đôi khi vì những bộn bề lo toan của cuộc sống mà ta tưởng như đã lãng quên hoặc đánh mất từ lâu. Nhưng không, nó vẫn vẹn nguyên, tươi mới như ngày nào. Chỉ cần một nút chạm khẽ thôi là ngân rung, là ào ạt trở về. Nay, những làn gió heo may buổi sớm mang đến tiết trời dịu mát, cảm giác thư thái dễ chịu, lòng người lại rạo rực xốn xang trước sự chuyển mình của thiên nhiên. Trên mỗi con đường, góc phố thân quen, thấy thoang thoảng “Mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió/ Mùa cốm xanh về, thơm bàn tay nhỏ”. Ấy là thời điểm thu đã về. Mùa thu của ngày khai trường ghi dấu ấn đậm sâu trong tâm trí mỗi học trò về trường xưa lớp cũ, về thầy cô bè bạn, về một thời đã xa…

Hình ảnh minh hoạ (Nguồn từ Internet)
Tôi thuộc thế hệ đầu 7X. Chúng tôi sinh ra và lớn lên trong thời kì đất nước còn muôn vàn những khó khăn thử thách, thiếu thốn trăm bề. Chiến tranh đã tàn phá khắp mọi miền quê, để lại những hoang tàn đổ nát, những khó khăn vất vả không gì kể hết được. Cuộc sống chìm ngập trong gian khổ, đói nghèo. Để có miếng ăn tồn tại qua ngày cũng là một sự vật lộn, cố gắng của nhiều người, nhiều gia đình, nói gì đến việc đầu tư cho con cái học hành. Vì thế, con đường đến trường với chúng tôi không chỉ đơn thuần là những lối đi quen thuộc mà là cả một hành trình nhọc nhằn, đầy gian nan, thử thách. Trong không khí của những ngày đầu thu tháng Chín, khi cả nước tưng bừng chuẩn bị cho Lễ khai giảng năm học mới, thì kí ức về con đường đến trường năm xưa lại mồn một hiện về trong tôi như một thước phim quay chậm. Tất cả vẫn vẹn nguyên như vừa mới hôm qua…
Chia tay mái trường PTCS cấp 1+2 ở một xã thuần nông nghèo xơ xác, tôi làm hồ sơ đăng kí thi vào lớp 10 THPT “vừa học vừa làm” năm 1986. Đó cũng là năm mở đầu cho hệ giáo dục 12 năm, thay thế cho hệ 10 năm trước đó. Lớp 7 của tôi ngày ấy chỉ có vài ba bạn thi lên cấp 3, còn lại là nghỉ học, ở nhà phụ giúp gia đình làm ruộng, chăn trâu bò, cắt cỏ, bắt cua cá…, lớn lên xây dựng gia đình, an phận với cuộc sống thôn quê. Ngôi trường mà tôi đăng kí thi vào cách nhà khoảng trên dưới 15 cây số. Thời điểm đó, ở quê tôi, những học sinh có nguyện vọng học tiếp lên cấp 3, thường có hai sự lựa chọn: một là theo học chương trình bổ túc ở Xuôi – Hới, hai là đăng kí thi vào trường THPT vừa học vừa làm Tam Đa (còn gọi là Trại Cá).
Gần ngày thi, mẹ đã dành trọn một ngày để dẫn tôi và cô bạn gái gầy gò bé nhỏ nhất lớp ở cấp 2 đi bộ đến trường cho biết đường. Con đường dài hun hút, xuyên qua những cánh đồng nối tiếp nhau của mấy xã liền. Đó là lối đi tắt gần nhất nhưng cũng chùng chân mỏi gối vì đều là đường đồng gập ghềnh, mấp mô. Song do háo hức nên chúng tôi quên cả mệt nhọc, chỉ muốn đi thật nhanh để được tận mắt nhìn thấy ngôi trường mà mình mơ ước. Đến nơi, nhìn toàn cảnh chỉ thấy mênh mông là ruộng, là thùng, là ao, là vườn và mấy dãy phòng học cấp 4 đơn sơ trống trải. Tôi bỗng thấy hoang mang lo sợ, không biết mình có đủ sức để nửa ngày học, nửa ngày lao động hay không? Nhưng chỉ cần nghĩ đến giây phút được vào học là trong lòng tràn ngập niềm vui, quên hết cả mệt nhọc và sợ hãi. Hôm ấy, vừa đúng mùa gặt xong nên những con đường ở khu vực trường còn ngổn ngang, chồng chất những đống rơm, đống rạ chưa phơi hết. Trời lúc nắng lúc mưa khiến mùi ẩm mốc bốc lên ngai ngái, nồng nặc đến khó chịu. Học sinh các lớp vẫn đang lao động đông như hội, chỗ thì cày cuốc ở ngoài ruộng, chỗ thì thu hoạch muồng nước dưới thùng – ao. Quần áo ai cũng lấm lem bùn đất nhưng tiếng nói cười râm ran vang động cả cánh đồng. Tôi và cô bạn chỉ biết đứng khép nép nhìn theo và thầm ước được như các anh chị ấy. Lần đầu được đến ngôi trường này nên cái gì với chúng tôi cũng đều lạ lẫm, bỡ ngỡ nhưng đầy háo hức, chỉ mong sao sớm được nhập học, được chính thức trở thành học sinh của ngôi trường này.
Rồi niềm mong chờ đã đến khi nhận được kết quả đỗ vào trường. Nhưng cùng với niềm vui ấy là những ngày tháng gian khổ và đáng nhớ nhất trong đời học sinh cấp 3. Đó là con đường đến trường đầy gian nan vất vả, nhất là những ngày mưa rét triền miên, kéo dài suốt mấy tháng trời vào những năm 1987, 1988. Mưa đến thối đất thối cát, đường chỗ nào cũng lầy lội, trơn trượt, ngập trong bùn đất, hoà lẫn cả phân trâu bò. Bàn chân ngày nào cũng đi bộ trên con đường dài lầy lội từ nhà đến trường nên sưng tấy, tê dại đến mức bấm xuống đường không còn cảm giác gì nữa. Tối về đều phải ngâm nước muối mới đỡ nhức. Lại thêm cái đói, cái rét của những buổi trưa vật vờ ở lại để chiều học và lao động, có lúc tưởng như kiệt sức. Giờ đây nghĩ lại, tôi cũng không hiểu vì sao thế hệ chúng tôi ngày ấy lại “phi thường” đến thế. Suốt ba năm học, hầu như ngày nào chúng tôi cũng phải chạy bộ trên những con đường đồng xa hun hút. Mặc dù đây là lối đi tắt gần hơn so với các lối khác nhưng cả đi lẫn về cũng chừng đến 30 cây số, trong khi “đường đi” đều là bờ ruộng, bờ kênh, bờ mương, bờ máng, là nổ tát, lỗ xẻ trơn trượt, gập ghềnh. Đứa nào đứa ấy chân đi đất, quần xắn cao đến mấy gấu, luôn cũng trong tư thế sẵn sàng lội qua bờ ruộng bị đứt, nhảy qua bờ mương, đường bị đào bới, xẻ ngang xẻ dọc để dẫn nước, bơm nước vào ruộng. Cứ đi một đoạn rồi lại phải chạy cho kịp giờ truy bài buổi sáng.

Hình ảnh minh hoạ (Nguồn từ Internet)
Con đường đến trường của chúng tôi ngày ấy không chỉ gian khổ vào những ngày mưa dầm giá rét mà còn ngại nhất là vào lúc tinh mơ sáng sớm. Những vạt cỏ còn ướt đẫm sương đêm, cùng với lúa hai bên bờ xoà ra, quệt hết vào ống quần khiến hôm nào cũng bị ẩm rất khó chịu. Vì thế, sáng nào đi học, chúng tôi cũng phải xắn quần lên vài ba gấu cho đỡ bị ướt. Đứa nào đứa ấy được rèn luyện đôi chân mỗi ngày nên đi nhanh thoăn thoắt. Nhưng nhiều lúc phải chạy gằn để không bị muộn học. Hôm nào gần đến nơi mà nghe tiếng trống truy bài vang lên thì coi như… “xong” rồi! Lúc ấy có “vắt chân lên cổ” cũng không thể kịp. Và chắc chắn “phần thưởng” chờ đón sẽ là bị phạt trực nhật, dọn nhà vệ sinh, tưới cây, trừ điểm thi đua mà lớp đã quy định. Đứa nào cũng sợ hết. Nhất là những học sinh nhà xa như tôi, phải đi từ lúc tờ mờ sáng mới kịp quét lớp. Có hôm đi sớm quá, còn chưa rõ mặt người. Thế nhưng, điều đáng sợ nhất với đứa nhát tối và hay sợ ma như tôi là những buổi chiều lao động về muộn, phải đi qua một đoạn đường dài vắng vẻ giáp cánh đồng, nơi có khu miếu rất thiêng (người dân thường gọi là miễu), mới về đến đầu làng. Lúc đó, trời đã tối mịt. Ếch nhái và các loại côn trùng đồng loạt cất lên những thanh âm rên rỉ não nề. Tiếng gió lào xào như vọng về từ cõi âm, nghe đến rợn người. Những hàng cây nhãn lâu năm bên đường lờ mờ trong bóng tối, hiện ra những hình thù kì quái. Tôi thấy rùng mình, lạnh khắp sống lưng, cảm giác như có ai đó đi sát ngay đằng sau. Có lần sợ quá, tôi hốt hoảng chúi đầu chạy, nhưng càng chạy càng thấy như có ai rượt đuổi theo mình. Sợ đến thót tim, chân ríu cả lại. Chỉ khi về đến đầu làng, có ánh đèn hắt ra từ các nhà hai bên đường, tôi mới đỡ sợ. Cứ thế, cắm cổ đi một mạch về nhà, quên cả đói mệt.
Nhưng cực nhất vẫn là những ngày mưa phùn gió bấc, rét cắt da cắt thịt. Ngày ấy rét hơn bây giờ rất nhiều. Con đường đến trường thực sự là gian khổ. Quần áo lại phong phanh không đủ ấm, cứ phải gồng mình lên để chống chọi với cái lạnh tê tái len vào thịt da. Mưa gió quất thẳng vào mặt rát buốt, toàn thân run lên cầm cập. Đôi chân trần tê cứng phải bấm chặt xuống đường để khỏi bị ngã. Vậy mà vẫn phải cố đi cho thật nhanh. Nhiều lúc ngã dúi dụi giữa đoạn đường lầy lội, trơn như đổ mỡ. Áo mưa chỉ là tấm ni lông cứng quèo, dọc ra từ bao phân đạm, hoặc một mảnh mỏng tang mua ngoài chợ để khoác. Gặp trận mưa to là ướt sũng từ đầu tới chân. Nhiều hôm đến trường, áo quần ướt hết, mặt mũi tím tái, chân tay lạnh cóng, cấu không biết đau. Cả giờ ngồi học cứ run lên vì rét và quần áo ẩm ướt rất khó chịu.
Cái khổ nữa là đói. Năm đầu vào lớp 10, hầu hết những học sinh ở lại buổi trưa còn chịu khó mang theo cơm nắm muối vừng, củ khoai hay bắp ngô để ăn. Nhưng sang đến năm lớp 11, rồi lớp 12 thì gần như rất ngại vì lỉnh kỉnh nên nhịn luôn. Rồi thành quen. Buổi trưa ở lại, đứa nào đứa ấy chỉ nằm co ro trên bàn, chờ đến chiều học phụ đạo, học đội tuyển hoặc lao động. Mà lao động ngày ấy đối với trường vừa học vừa làm thì đều những việc nặng như cấy lúa, gặt lúa, cuốc đất, đắp bờ, dọn cỏ, trồng cây, rồi lội xuống ao thu hoạch muồng nước, … Có hôm đói quá, người lảo đảo, run hết chân tay, làm không nổi, phải ngồi nghỉ một lúc cho hồi lại mới tiếp tục được. Bởi công việc đã chia về các tổ, tổ lại chia đều cho mỗi cá nhân. Ai cũng phải hoàn thành. Hôm nay không xong thì mai. Chẳng đứa nào muốn để hôm sau nên phải cố. Làm xong, chiều muộn lại đi bộ về nhà. Tối thức học bài đến khuya bên ánh đèn dầu leo lét. Mùa hè thì nóng hầm hập, không có quạt điện, muỗi đốt sưng chân. Mùa đông thì lạnh buốt, sáng vẫn dậy sớm ăn bát cơm rang hoặc củ khoai củ sắn rồi đi bộ đến trường. Trưa nhịn đói. Cứ thế, ròng rã suốt ba năm cấp 3. Giờ nghĩ lại, tôi không hiểu sao ngày ấy mình lại có thể chịu được gian khổ đến vậy. Mà không riêng gì tôi, cả một thế hệ chúng tôi đều như thế. Đói khổ, thiếu thốn là tình cảnh chung, ai cũng phải chấp nhận. Rồi thành quen. Và khi đã quen thì thấy nó bình thường. Được bố mẹ cho ăn học đã là một sự cố gắng lớn, là may mắn hơn rất nhiều so với những bạn cùng trang lứa phải nghỉ học giữa chừng để ở nhà làm ruộng, phụ giúp gia đình.
Theo dòng thời gian, mọi thứ đều đi vào quá vãng nhưng kí ức về một thời gian khó xưa kia vẫn luôn in đậm trong tâm trí tôi và những người bạn đầu 7X. Nhớ lại để càng thấm thía hơn giá trị của cuộc sống hôm nay: một cuộc sống bình yên, đủ đầy và chan chứa lòng biết ơn.

Cuộc sống hôm nay, bình yên, đủ đầy…( Khai giảng năm học mới 2025-2026)
Hà Nội, những ngày đầu tháng 9 năm 2025
Phạm Thị Hường





Bình luận về bài viết này