Chiến tranh đã lùi xa nửa thế kỷ nhưng những gì nó để lại vẫn âm ỉ như một vết thương chưa lành, cả trên thân thể lẫn trong ký ức của biết bao con người trên dải đất hình chữ S này. Những người lính may mắn trở về, không ít người mang trên mình thương tật suốt đời: người mất đi một phần thân thể, người sống trong những cơn đau tái phát, sức khỏe suy giảm, tinh thần bất an. Có người tưởng chừng như lành lặn nhưng bên trong cơ thể đã bị nhiễm chất độc mà quân đội Mỹ rải khắp chiến trường miền Trung và Nam Bộ. Nỗi đau ấy không dừng lại ở một thế hệ mà còn ảnh hưởng đến các đời sau.
Chiến tranh qua đi, nỗi đau ở lại

Cổng làng Đại Duy – Đoàn Đào – Hưng Yên
Cũng như bao làng quê khác trên đất nước ta thời chiến, ngôi làng nhỏ bé ở thôn Đại Duy, xã Đoàn Đào, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Đại Duy, xã Đoàn Đào, tỉnh Hưng Yên) đã lần lượt tiễn đưa những thanh niên lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Họ ra đi với trái tim tràn đầy nhiệt huyết và khát vọng cống hiến của tuổi trẻ. Bao người mẹ, người cha đã lặng lẽ tiễn con, chỉ mong con hoàn thành tốt nhiệm vụ và bình an trở về. Ngày đất nước thống nhất, có người trở về trong niềm vui sum họp. Nhưng có những người con mãi nằm lại nơi chiến trường, để lại nỗi đau xót khôn nguôi cho người thân và quê hương. Bằng những tình cảm yêu mến, trân trọng và tiếc thương, trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ xin được kể về những người lính thuộc chi Doãn tộc ở ngôi làng Đại thân thương mà mình đã thấu hiểu và gắn bó sâu sắc.

Chân dung Cựu chiến binh Doãn Quốc Trịnh
Người đầu tiên tôi muốn nói đến là anh Doãn Quốc Trịnh, sinh năm 1950 – anh cả trong gia đình. Sau khi học hết phổ thông, anh đã gác lại ước mơ của tuổi trẻ, tình nguyện khoác ba lô lên đường nhập ngũ vào năm 1970, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn khốc liệt nhất trên chiến trường miền Nam. Anh thuộc Tiểu đoàn 639, Trung đoàn 2, Đại đội 4, sau gia nhập Sư đoàn 2 – đơn vị chủ lực của ta, rồi được điều vào mặt trận Đường 9 – Nam Lào, nơi từng mệnh danh là “chảo lửa” của chiến tranh. Ở đây, giữa rừng sâu núi thẳm, nơi khói súng mịt mù, bom đạn xé trời, những trận đánh dữ dội diễn ra suốt ngày đêm. Sự sống và cái chết chỉ mong manh trong gang tấc nhưng người lính trẻ ấy vẫn cùng đồng đội kiên cường bám trụ, vượt qua mọi hiểm nguy để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Rời chiến trường Đường 9 – Nam Lào, đơn vị anh tiếp tục hành quân về Kon Tum, rồi xuôi về Nghĩa Bình (Quảng Ngãi). Mỗi bước chân các anh đều in dấu nơi miền đất khốc liệt nhất của chiến tranh. Sau đó, anh được điều về Đông Sơn – Tiên Phước (Quảng Nam), rồi vượt sông Thò Lò, nơi diễn ra nhiều trận đánh ác liệt để đến với cứ điểm Ba Tơ (Quảng Ngãi), vùng căn cứ địa cách mạng thấm máu đào của biết bao liệt sĩ. Suốt những năm tháng nơi đầu tuyến lửa, anh Trịnh cùng đồng đội phải đối mặt với muôn vàn gian khổ: bom đạn trút xuống như mưa, rừng thiêng nước độc, cái đói cái rét và những cơn sốt rừng liên miên hành hạ. Thời gian ở đây, anh đã bị nhiễm chất độc hóa học mà quân đội Mỹ rải xuống. Mãi đến năm 1976, sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, anh mới trở về quê hương. Sức khỏe giảm sút đi nhiều, anh được hưởng chế độ bệnh binh. Nhưng hậu quả mà chiến tranh để lại là người con trai đầu lòng của anh sinh ra với đôi chân tập tễnh, cháu thứ ba thì mất ngay khi vừa lọt lòng mẹ. Người vợ sau đó bị hậu sản, mắc thêm nhiều bệnh khác rồi nằm liệt giường suốt nhiều năm. Một mình anh vừa lo toan cuộc sống, vừa chăm sóc vợ hằng ngày, vừa chống chọi với bệnh tật của mình. Năm 2017, chị qua đời, để lại anh lặng lẽ, đơn côi tuổi xế chiều. Hiện nay, sức khỏe của anh rất yếu, có lúc tưởng chừng không qua khỏi.

Tấm ảnh kỷ niệm 50 năm ngày nhập ngũ của cựu chiến binh Trần Văn Ứng
Tiếp nối truyền thống gia đình, sau anh cả, người em rể Trần Văn Ứng đã tình nguyện nhập ngũ ngày 05.12.1971. Được huấn luyện làm bộ đội đặc công, anh tham gia chiến đấu tại chiến trường Thạch Hãn trong cuộc chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm lịch sử năm 1972. Trong một trận đánh ác liệt, anh bị thương nặng ở chân, đôi tai ù đặc nhưng vẫn sát cánh cùng đồng đội, chiến đấu đến cùng. Mãi đến năm 1975, khi miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, anh mới trở về, thuộc diện thương binh và mang trong mình di chứng chất độc da cam – thứ hóa chất đã âm thầm hủy hoại cơ thể người lính ngay cả khi chiến tranh đã qua. Một người con của anh sinh ra với bàn tay bị dị tật, không thể chữa trị bằng phẫu thuật, phải mang theo suốt đời. Vượt lên hoàn cảnh khó khăn cả về sức khỏe lẫn kinh tế gia đình, anh đã nỗ lực ôn thi và trúng tuyển vào Trường Đại học Nông nghiệp, học tại Hà Bắc. Sau khi ra trường, anh tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu về các giống cây trồng, vật nuôi và vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học với thực tế ở địa phương. Nhờ vậy, anh đã trở thành một kỹ sư có chuyên môn tốt, hỗ trợ tích cực cho bà con nông dân cũng như góp phần phát triển nông nghiệp ngay trên quê hương mình. Đến nay, do tuổi cao, lại mang trong người di chứng chiến tranh, sức khỏe của anh ngày càng suy giảm. Chân tay run rẩy, đi lại khó khăn, đặc biệt là đôi tai không còn nghe được nữa. Máy trợ thính cũng trở nên bất lực. Người vợ tảo tần lại bị mắc ung thư vú, phải đi trị xạ nhiều lần ở Hà Nội. Các con gái hiếu thảo nhưng đều lấy chồng xa, thỉnh thoảng mới về thăm bố mẹ được. Tuổi già bệnh tật, hoàn cảnh éo le, hai vợ chồng nương tựa vào nhau trong những ngày tháng còn lại của cuộc đời.

Niềm đam mê chơi trống và kéo nhị thường ngày của người lính già Doãn Đình Chiêu
Tinh thần yêu nước và ý chí chiến đấu đã thấm sâu vào từng thành viên trong gia đình họ Doãn. Tháng 5 năm 1978, cả ba anh em con chú con bác là Doãn Đình Chiêu, Doãn Đình Hoa và Doãn Đình Vàng lên đường nhập ngũ cùng một ngày để chiến đấu, bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Các anh cùng một đơn vị, đóng quân ở Cao Ba Lanh thuộc huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh – vùng rừng núi đầy hiểm nguy, nơi mìn pháo có thể phát nổ bất cứ lúc nào. Máu của người lính lại đổ trên mảnh đất biên cương. Trong trận đánh khốc liệt, hai anh Doãn Đình Vàng và Đoãn Đình Hoa đã dũng cảm hy sinh. Chỉ anh Doãn Đình Chiêu may mắn thoát chết, xuất ngũ năm 1982. Ngày anh trở về, ba người mẹ cùng tiễn con đi thì hai người đã khóc cạn nước mắt. Những năm tháng nơi rừng sâu nước độc, ăn uống kham khổ, sốt rét triền miên đã làm sức khỏe anh suy giảm nghiêm trọng. Cũng bởi vậy mà khi lập gia đình, anh không có con. Hai vợ chồng từng đi xin con nuôi nhưng cái số vất vả, đón đứa trẻ mới sinh về lúc chiều thì đến đêm mất. Vài lần khác, có người giới thiệu nhưng đều không thành. Giờ đây, họ chỉ biết nương tựa vào nhau, lặng lẽ đi qua tuổi già trong nỗi cô quạnh nhưng vẫn giữ trọn đạo nghĩa vợ chồng và phẩm chất cao đẹp của người lính năm xưa.
Cháy bỏng những đam mê trong tâm hồn người lính
Sau chiến tranh, những người lính ở thôn Đại Duy đã may mắn trở về. Giờ đây, có người còn, người đã mất. Những ai còn thì hầu hết đều mang trong mình di chứng của một thời bom đạn. Tuổi già lại càng khiến cho bệnh nặng thêm. Song điều đáng quý ở họ là tinh thần lạc quan yêu đời và khát vọng sống có ích vẫn cháy bỏng trong tim những cựu chiến binh. Dù có mang thương tật vĩnh viễn, dù hoàn cảnh kém may mắn nhưng họ không đầu hàng số phận, vẫn lao động và làm những việc có ý nghĩa cho cộng đồng. Có thể kể đến các anh Doãn Quốc Trịnh, Doãn Đình Chiêu, những người vốn có năng khiếu ca hát, chơi đàn, thổi sáo từ thời trai trẻ. Đến nay, dẫu sức khỏe suy giảm, bệnh tật thường xuyên, các anh vẫn nhiệt tình tham gia đội văn nghệ liên xã nhiều năm qua. Bằng tất cả đam mê và nhiệt huyết của mình, những cựu binh ấy đã say sưa với các làn điệu Chèo, Chầu văn, diễn tích Chèo cổ “Tống Trân Cúc Hoa”, vở ca kịch “Tìm lại một bài thơ” – câu chuyện tình của người lính trong chiến tranh, để lại nhiều xúc động trong lòng người xem. Những buổi biểu diễn ấy không chỉ góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống, mang lại niềm vui cho bà con mà còn giúp các anh quên đi nỗi đau bệnh tật và sự thiệt thòi về số phận. Ngoài ra, các anh còn chủ động tham mưu, đóng góp ý kiến cho chính quyền địa phương. Anh Doãn Quốc Trịnh nhiều năm liền được tín nhiệm bầu làm xã đội trưởng. Giờ đây, họ vẫn nhiệt huyết trước các việc chung của xóm thôn; sống đoàn kết, hòa thuận, gần gũi với mọi người xung quanh; cùng chung tay xây dựng cuộc sống mới ở nông thôn ngày càng phát triển.
Sự cống hiến thầm lặng của những người lính ở làng Đại Duy chỉ là một phần rất nhỏ bé trong hàng triệu người con đất Việt đã hy sinh cho dân, cho nước để có được hòa bình độc lập. Thế mới biết, cái giá của hòa bình chưa bao giờ là rẻ. Nay, tháng Bảy lại về, tháng của tri ân, tháng của lặng thầm tưởng nhớ. Giữa cuộc sống bình yên và đủ đầy hôm nay, có bao giờ ta tự hỏi: mình đã sống như thế nào để không lãng quên, để xứng đáng với những gì cha ông ta phải đánh đổi bằng máu xương mới giành được?
Hà Nội, tháng 7 năm 2025
Phạm Thị Hường






Bình luận về bài viết này