1/ Tết là gì?
Một câu hỏi xưa như trái đất những cũng luôn mới như trái đất. Đời người trải qua biết bao nhiêu cái tết, nhưng mỗi lần tết đến vẫn thấy nguyên vẹn cảm xúc hồi hộp. Tết là:
– Là dịp để một số kẻ cơ hội “hối lộ hợp pháp” bằng “quà Tết”!
– Tết là mua hàng nhiều nhất, ăn uống nhiều nhất, vui nhất… Chẳng thế mà dân gian gọi là “Tết nhất”!
– Tết là ngày mà người ta đến nhà thăm nhau để rồi… rất ít khi gặp nhau!
– Tết là ngày để người ta ăn xả láng, uống vượt khả năng để rồi nếu vợ nhắc nhở thì cười khì: Tết mà!
– Tết là những ngày nghỉ đích thực của cu Tí vì chắc chắn nó không phải đi học… hè!
– Trong “Tết” có chữ “tế”, giống như cúng nên ngày Tết là ngày cúng tổ tiên!
– “Tết” có chữ “ế” vì nhiều người ham Tết đắt hàng nên đầu cơ đến mức… ế hàng!
– Trong “Tết” còn có chữ “ết”, bởi ba ngày Xuân nhiều “gà ngứa cựa” uống rượu rồi đi tìm “gà móng đỏ” để mà… mắc AIDS!
2/ Cẩm nang chúc tết
Chúc Tết tưởng như là chuyện quá quen thuộc với mỗi người, tuy nhiên vẫn có chuyện phải bàn. Ví dụ, bạn chúc ai đó “sống lâu trăm tuổi” chưa chắc người ta đã vui. Tại sao vậy?
– Trước khi xoa tay chúc cả nhà người ta “sống lâu trăm tuổi” bạn nên kiểm tra trước xem trong nhà có ai đã… 99 tuổi không!
– Đến nhà ai ở chung cư, không nên chúc người ta “Tiền vào như nước”. Vì có thể khu đó nước máy thường xuyên chảy như… nhện tè!
– Đến nhà sếp, nếu thấy vợ chồng cô thư ký đang ở đó thì không nên chúc sếp sang năm “sung sức”, câu nói đó có thể làm cho chồng cô thư ký bực mình và sếp… “giật mình”!
– Đến nhà bác sĩ hay người bán… quan tài mà chúc người ta sang năm đắt khách thì khác gì chúc xã hội nhiều ốm đau chết chóc? Tốt nhất là nói: “Chúc anh (chị) rất đắt hàng với bọn tham nhũng, bọn lừa đảo, bất chính… Và luôn ế hàng với người lương thiện”!
– Đừng chúc ai “dồi dào sức khoẻ” vì “dồi” nhiều nhà hàng làm không được vệ sinh cho lắm!
– Bạn là sinh viên ở lại nhà trọ ăn Tết? Đừng chúc chủ nhà câu nào liên quan đến tiền nhé, kẻo người ta nhớ ra bạn đang khất tiền nhà tháng cuối năm đấy!
3/ Thờ cúng tổ tiên mấy đời thì dừng lại?
Đến thế kỷ XV, Nho giáo chiếm địa vị ưu thế trong xã hội, nhà Lê đã thể chế hóa việc thờ cúng tổ tiên. Bộ luật Hồng Đức quy định rõ, việc con cháu phải thờ cúng tổ tiên 5 đời (tự mình là con, tính ngược lên 4 đời là: Cha mẹ, ông bà, cụ, kỵ); ruộng hương hỏa, ruộng đèn nhang, cơ sở kinh tế để duy trì thờ cúng tổ tiên dù con cháu nghèo cũng không được cầm bán… Đến thời Nguyễn, nghi lễ thờ cúng tổ tiên được ghi rõ trong sách “Thọ mai gia lễ.”
Không nhất thiết phải là mâm cao cỗ đầy, chỉ cần một nén hương (nhang) lên bàn thờ tổ tiên trong ngày lễ, Tết, hay ngày giỗ, con cháu trong gia đình cũng thể hiện được tấm lòng thành kính, hướng về cội nguồn, tưởng nhớ những người thân đã khuất.
Ngày nay, khi xã hội hiện đại càng ngày càng phát triển, các chuẩn mực về gia đình xưa cũ cũng dần được thây thế. “Tứ đại đồng đường” hay “Tam đại đồng đường” đã không mấy được áp dụng, thay vào đó là những gia đình đơn lẻ. Việc thờ cúng tổ tiên cũng dần thay đổi theo tiến trình này.
Trong các phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt, con trai trưởng mới là người thờ phụng chính ông bà tổ tiên. Nếu vậy, nhưng người anh em tách riêng thành một gia đình cá thể thì sao, họ có thờ phụng tổ tiên không? Câu trả lời là có, nhưng được lược giản đi rất nhiều. Họ không thờ riêng từng thế hệ các đời trước, may chăng là thờ bố mẹ, còn lại là thờ chung “gia tiên”.
Với người thờ thờ chính trong gia đình thì sẽ thờ nhiều đời. Thế hệ con thờ cha mẹ gọi là thờ một đời. Thế hệ cháu thờ ông bà nội ngoại gọi là thờ hai đời. Thế hệ chắt thờ ông bà cố gọi là thờ ba đời. Thế hệ chút (người miền Nam gọi là cháu sơ) thờ ông bà sơ gọi là thờ bốn đời.
Theo thông lệ xa xưa, khi ông bà trở thành đời thứ năm thì việc thờ phụng sẽ dừng lại. Mục đích là để vong linh theo cát bụi thời gian, siêu thoát. Các bài vị sẽ mang đi đốt hay đi chôn, đúng với câu “Ngũ đại mai thần chủ”. Nhưng hiện nay, cũng rất ít người có thể giữ được tục này. Thường, các gia đình chỉ thờ tới đời thứ ba đã dừng lại.
Tổng hợp





Bình luận về bài viết này