Sau những bận rộn, hối hả với công việc và cuộc sống, hôm nay tôi trở về thăm quê, nơi mình đã sinh ra và lớn lên, có nhiều kỉ niệm và kí ức tuổi thơ luôn đậm sâu trong nỗi nhớ, đặc biệt là dòng sông quê nhà. Đó là một con sông nhỏ bé mang tên ngôi làng thân thương của mình: sông Mai Xá, xã Minh Phượng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.

Đoạn sông ở làng Mai Xá quê tôi hiện nay
Nghe các cụ kể lại, sông có từ cổ xưa, lúc đầu chỉ là một con ngòi nhỏ. Sau, để lấy nước tưới tiêu cho ruộng đồng và nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, người dân các xã đã được huy động để đào thành dòng sông như ngày nay. Và cho đến những năm 1980 – 1981, sông được mở rộng thêm hai nhánh nữa nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp của nhiều xã lân cận. Từ cầu chợ Điềm (thôn Điềm Xá, xã Minh Phượng) đến cuối thôn Điềm Tây, một nhánh bám dọc theo trục đường khoảng hơn 2 km đến tận cống đê của thôn Võng Phan, xã Tống Trân (huyện Phù Cừ ngày nay) rồi thông ra với sông Hồng. Còn nhánh kia men theo các xã Đình Cao, Đoàn Đào (thuộc huyện Phù Cừ ngày nay) rồi nhập với dòng sông mang tên Bác (đoạn ở Phố Giác – Tiên Lữ) trong hệ thống đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải, được xem là lớn nhất miền Bắc trước đây với chiều dài hơn 200 km, được khởi công từ năm 1958.
Dòng sông Mai Xá quê tôi quanh co uốn lượn như một dải lụa mềm mại, bao bọc lấy xóm làng, chẳng khác nào người mẹ hiền ôm ấp đứa con yêu. Sông hiền hoà, êm ả, không có sóng to gió lớn như sông Luộc (còn gọi là sông Cái) ngoài đê. Mặt nước chỉ lăn tăn gợn sóng. Về hình thế địa lý và yếu tố tâm linh, nhiều người đều nói rằng, dân ở làng này rất thuần hậu. Mà quả đúng như vậy, những con người sinh ra và lớn lên ở đây, cùng uống chung dòng nước ngọt lành trên sông đều có bản tính hiền hoà, thật thà, chất phác, chịu thương chịu khó. Trong làng ngoài xóm, không xảy ra những sự vụ như đánh nhau gây thương tích, tranh chấp hay kiện cáo như các nơi khác. Bao năm rồi vẫn thế, con người cũng lành hiền như sông; còn sông thì dịu dàng, bao dung, chở che như lòng mẹ. Quanh năm cần mẫn đem dòng nước mát ngọt tưới tắm cho ngô lúa ruộng đồng để làm nên mùa màng no ấm. Những vườn rau, cây cối trong vườn, nhất là rặng nhãn hai bên bờ, nhờ dòng nước trong lành đó mà xanh tốt, cho hoa trái ngọt lành, góp phần làm nên thương hiệu của xứ nhãn Hưng Yên. Sông đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân quê tôi.

Những đứa trẻ tắm sông ( ảnh minh hoạ nguồn từ Internet)
Nay, trở về, đứng trước dòng sông trong cái nắng tháng 5 chói chang gay gắt, bao kí ức ngày xưa lại dội về trong tôi như một cuốn phim quay chậm. Tất cả vẫn vẹn nguyên trong kí ức. Nơi chiếc cầu ao thân thuộc này, chúng tôi đã có biết bao kỉ niệm vui buồn, không thể nào quên. Về mùa hè, những hôm trời oi bức nóng nực, ngay từ sáng sớm, mấy đứa đã gọi nhau ra sông nhảy ùm xuống tắm bơi ngụp lặn cho thoả thích rồi mới lên bờ. Xong, ăn vội bát cơm nguội hay củ khoai củ sắn rồi rủ nhau đi bộ đến trường. Nghỉ hè thì ra đồng chăn trâu cắt cỏ, bắt cua ốc, kéo vó, tát thùng hoặc cấy gặt cùng với người lớn từ sớm đến trưa giặt mới về, lại lao xuống sông tắm cho sạch bùn đất trên người. Có lúc khát quá, vục luôn nước sông uống đến no mới thôi mà chẳng đứa nào bị đau bụng hay cảm sốt gì. Cơ thể dường như đã thích nghi. Hơn nữa, nước sông ngày ấy không ô nhiễm như bây giờ. Nhà nhà, người người gánh lên đổ vào bể, cẩn thận hơn thì đánh tí phèn cho trong lại để ăn uống hằng ngày, thậm chí vo gạo rửa rau xong cũng múc luôn nước vào nồi để nấu cơm, luộc rau. Dòng nước sông quê trong lành mát ngọt ấy đã dưỡng nuôi những người con nơi đây khôn lớn, khoẻ mạnh, có một tâm hồn thuần phác, nhân hậu thuỷ chung; dù đi đâu, ở đâu cũng luôn nhớ về nguồn cội của mình.
Sông còn là nơi mưu sinh của bao phận người nghèo khổ ngày xưa. Hình ảnh những “Thân cò lặn lội bờ sông” lại mồn một hiện lên trong tâm trí với bao nỗi cảm thương. Đó là cô Tâm xóm trên, gần như trưa nào cũng dìm cả người đến tận cổ, chỉ nhấp nhô cái nón rách trên đầu để mò trai ốc bán kiếm đồng đong gạo nuôi con, chồng thì ốm yếu không làm được gì, chỉ nằm một chỗ. Mấy miệng ăn trông cả vào đôi tay gầy guộc như que củi, thân hình teo tóp của người phụ nữ mới ngoài bốn mươi mà trông như một bà cụ. Mấy năm sau cô đã mất vì bị hậu sản mòn. Hay như ông Đặn, cảnh gà trống nuôi con, mấy bố con ngày nào cũng gò lưng thót bụng kéo te, kéo lưới, tối lại đi thả rọ ở sông, ba bốn giờ sáng đã dậy nhấc cho kịp phiên chợ. Rồi ông Đông, nổi tiếng là người “sát cá” trong làng. Chỉ với tay lưới rách thả chơi, ông cũng kiếm được khối cá để bán. Nhiều khi không có dụng cụ gì, ông cũng mò được cá dưới sông. Mùa mưa bão đến, nhà ông đầy ắp cá đến nỗi không còn dụng cụ gì để đựng nữa. Cuộc sống nhờ thế mà được cải thiện hơn. Nhớ nhất là hình ảnh chú Ba xóm Đạo, hầu như ngày nào cũng thả lưới trên khúc sông trước cửa nhà tôi. Chỉ cần nghe tiếng gõ nhịp đều đặn quen thuộc là biết chú đang ở đoạn nào. Cái thanh âm đó còn vang vọng cho đến tận bây giờ. Bao năm rồi chú vẫn thả lưới trên sông, nhưng sau này chỉ thong dong kiếm cá cho con cháu ăn chứ không phải để bán đong gạo từng bữa như trước đây nữa. Và cũng nhờ vậy mà năm 2006, chú đã cứu sống được thằng con trai thứ hai của tôi khi cháu ra cầu ao chơi bị trượt chân ngã xuống sông. Chú đã trở thành ân nhân của gia đình tôi. Mỗi lần về quê, tôi thường đưa con đến thăm. Nay chú đã thành ông già hom hem gày yếu, lúc nhớ lúc quên.

Cảnh người dân quê mưu sinh bên sông ( ảnh nguồn từ Internet)
Sông không chỉ là nguồn sống của biết bao con người mà còn là chứng nhân cho bao lời thề hẹn lứa đôi. Bên dòng sông quê êm đềm thơ mộng, vào những buổi tối trăng thanh gió mát, các chàng trai cô gái đã bày tỏ tình yêu đầu đời của mình. Nhiều người đã nên vợ thành chồng, gắn bó bên nhau đến đầu bạc răng long. Nhưng có một mối tình mà tôi đã được nghe kể lại thật sự cảm thương. Đó là mối tình của chị Lan và anh Đạt, người cùng làng. Năm ấy chị tám 18, còn anh 20, cái tuổi đẹp nhất của đời người. Khi tình yêu vừa chớm nở, anh đã ngỏ lời cùng chị bên dòng sông lung linh ánh trăng. Người con gái quê đã nhận lời hẹn ước. Một thời gian sau, anh có lệnh lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”. Chị ở nhà đảm đang chăm lo việc đồng áng, thay bố mẹ (đã mất sớm) nuôi dạy 6 người em khôn lớn trưởng thành, chờ ngày anh trở về. Rồi miền Nam giải phóng, nhiều người con đã được trở về trong niềm vui sum họp, chỉ có anh là không. Chị hồi hộp, lo lắng và mong ngóng anh từng ngày nhưng vẫn bặt vô âm tín. Mãi sau mới nhận được giấy báo tử, chị như chết cả một đời người. Vật vã. Suy sụp. Chị đã khóc cạn nước mắt. Cũng từ đó, chị trở nên thẫn thờ, sống lặng lẽ, thu mình. Có nhiều người ngỏ ý nhưng chị không mở lòng cùng ai, cả một đời thuỷ chung son sắt với lời thề hẹn cùng anh bên dòng sông năm nào. Đến nay, người con gái ấy đã trở thành một bà lão ngoài 70 tuổi già nua, tiều tuỵ, khắc khổ nhưng hằng ngày vẫn đi bóc long nhãn thuê ở trong làng để có thêm đồng chi tiêu ít ỏi mà không muốn làm phiền đến con cháu. Hằng ngày, bà hay ngồi trên bậu cửa dõi đôi mắt buồn thăm thẳm nhìn ra xa như ngóng trông một điều gì đó trong vô vọng… Mỗi lần trở về quê, tôi thường vào thăm bà, nhìn hình ảnh bà sầu tủi, héo mòn, cô đơn lúc tuổi già mà trong lòng quặn thắt một nỗi niềm thương cảm, xót xa.

Người dân quê mưu sinh ( ảnh nguồn từ Internet- Báo Lao động)
Thời gian trôi đi, mọi sự cũng đổi thay, dòng sông cũng không còn được như xưa nữa. Nguồn nước nay đã bị ô nhiễm nặng. Cá tôm trai ốc giờ đây còn rất ít, có loài đã bị tận diệt. Sông trở lên vắng lặng, hiu hắt hơn. Không còn cảnh ồn ào, đông vui, tấp nập vào mỗi buổi chiều tối như trước đây nữa. Không còn cảnh những đứa trẻ thi nhau bơi lặn, sải mình tăm tắp trên mặt nước, cười nói vang động cả xóm như ngày xưa. Cũng không còn những cầu ao mà nhà nhà, người người đông vui sớm tối chuyện trò nói cười vang vọng từ bên này sang bên kia. Còn đâu những tiếng giặt chiếu bồm bộp trên sông. Không còn nghe tiếng gõ nhịp đều đều của những chiếc thuyền con thả lưới buông câu. Hết rồi những tiếng vó bè răng rắc kéo. Cảnh cũ đã đổi thay, người xưa cũng dần vắng bóng trong cuộc đời. Tất cả chỉ còn lại trong sự hoài niệm.
Dẫu biết rằng hiện đại hoá, đô thị hoá là cần thiết nhưng thẳm sâu trong lòng vẫn hoài nhớ dòng sông xưa như những vần thơ của Tế Hanh:
“Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng”…
Sông muôn đời vẫn là hồn cốt quê hương, gắn bó máu thịt với con người, là nơi ghi dấu những kỉ niệm đẹp nhất, hồn nhiên vô tư nhất của tuổi hoa niên. Cho dù thời gian có chảy trôi, dòng đời có đổi thay thì trong tôi vẫn đau đáu một nỗi niềm thương nhớ sông quê – “Một dòng xanh trong chảy mãi tới khôn cùng”.
Hà Nội, tháng 5/2024
Phạm Thị Hường





Bình luận về bài viết này