Chương II
MỘT THỜI SINH VIÊN
Ngày 12 tháng 10 năm 1977, theo giấy gọi tôi nhập học Trường đại học sư phạm I Hà Nội. Trường ở Cầu Giấy, rất gần với nơi đang đóng quân. Trước khi dời quân ngũ, các thủ trưởng, ban tham mưu sư đoàn 361 nơi chúng tôi được gửi vào hơn hai tháng, cũng liên hoan chia tay và chúc mừng. Không được hoành tráng nhưng rất ý nghĩa. Đây là cuộc chia tay kết thúc giai đoạn 5 năm 10 tháng 17 ngày là “anh bộ đội cụ Hồ” của mình, rất đáng tự hào. Đây có thể là mốc son trong cuộc đời, là bước chuyển từ giai đoạn quân nhân sang giai đoạn sinh viên.
Khi làm thủ tục nhập học, rất ngỡ ngàng thấy mình trong danh sách được phân công vào khoa Giáo dục chính trị, không đúng với nguyện vọng đã đăng ký. Cuối buổi, tập trung toàn khoa trên hội trường, thầy trưởng khoa thông báo và động viên. Thầy nói, sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, để đáp ứng chủ trương cải cách giáo dục, đầu năm 1976 nhà trường đã mở khoa Mác-Lênin, sau một thời gian đổi tên thành khoa Giáo dục chính trị. Có lẽ gọi là khoa Mác-Lênin không bao quát hết nội hàm của nó nên trường đổi tên thành khoa Giáo dục chính trị, nhưng mãi sau này nhiều người vẫn gọi là khoa Mác-Lênin, có người gọi tắt là khoa Mác-Lê. Chúng tôi là khóa 2, số lượng 120 người chia thành 2 lớp. Trường ưu tiên chuyển tất cả những người thi khối A.B.C là đảng viên, bộ đội, là giáo viên, cán bộ đi học đã đăng ký nguyện vọng ở tất cả các khoa vào khoa Giáo dục chính trị. Nhưng chỉ được 100 người, còn 20 người là học sinh phổ thông. Khóa 1, vào trước chúng tôi một năm có 120 người, toàn là bộ đội hầu hết là đảng viên.

Sinh viên Nguyễn Văn Kỳ ( 1977)
Trường có nhiều nhà cao tầng do Liên Xô giúp đỡ xây dựng từ những năm sáu mươi. Khu sinh viên có nhà A1 A2 A3 A4. Bốn tòa nhà này đã là nơi ở của các khoa có từ nhiều năm trước như Toán, Lý, Hóa, Văn, Sử, Địa… Nay thêm khoa Giáo dục chính trị, nhà trường phải làm thêm hai dãy nhà tre nứa, nền xỉ than trát vách đất xen giữa nhà A1 A2 và A2 A3. Chúng tôi tự đặt tên là nhà A1,5 và A2,5. Lớp tôi ở nhà A1,5. 60 người, ở 3 phòng, 2 phòng Nam, 1 phòng nữ. Trong phòng chỉ có các giường sắt hai tầng, không có bàn ghế, không có tủ. Mỗi người phải tự tạo một giá đỡ để đặt cái hòm gỗ ở đầu giường. Hòm vừa chứa quần áo sách vở vừa làm bàn học buổi tối ở nhà.
Những năm 77 – 80, tình hình chính trị kinh tế đời sống cả nước khó khăn lắm. Sài Gòn và miền Nam không còn yên tĩnh hoan hỷ như năm 75-76 nữa mà đã xuất hiện tiêu cực lộn xộn, có cả chống phá. Miền Bắc rơi vào tình trạng lạm phát cao. Đời sống ăn ở của sinh viên rất thấp kém. Bữa ăn thiếu chất nghiêm trọng. Suốt thời gian dài ăn bo bo, một loại hạt nhập khẩu, nấu chín nó nát bét, ăn ngán ngán khó nuốt. Thức ăn trường kỳ là món canh cải xoong pha loãng, cà muối, thái trộn tỏi ớt, cá mè ranh kho nước hàng lấy màu vàng sậm. Thỉnh thoảng mới được bữa có thịt, nhưng chỉ vài miếng thái mỏng. Chúng tôi phải lấy cơm về nhà rồi đun nấu cải thiện thêm. Dần dần hình thành từng nhóm ăn riêng. Cũng là nhóm bạn thân thiết cho đến tận bây giờ. Khi thì về nhà mang đồ ăn lên, khi thì ra chợ mua mớ cá mớ tôm mang ra gốc cây đầu hồi đun đun nấu nấu, khói bốc mù mịt. Trong trường xuất hiện câu nhạo chế “đàn ông thì già đàn bà thì xấu, đun nấu suốt ngày”, dành cho sinh viên khoa Giáo dục chính trị. Đúng là sinh viên khoa này toàn bộ đội, cán bộ đảng viên có điều kiện để cải thiện bữa ăn hơn so với sinh viên khoa khác. Chúng tôi còn được hưởng chế độ phân phối hàng hóa của thời bao cấp như thầy cô giáo và cán bộ của trường. Hàng tháng được phân thuốc lá Tam Thanh, Nhị Thanh, ĐRao, xà phòng giặt, phụ tùng xe đạp, áo lót đông xuân…Hàng ngày lên giảng đường vẫn mặc quần áo bộ đội, đi giầy cô-xi-ghin, ra đường đội mũ cối. Sinh viên phổ thông toàn gọi chúng tôi bằng chú.
Trong suốt khóa học bốn năm, nội dung chính là các môn Mác – Lê nin: triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học. Các môn nghiệp vụ sư phạm: giáo dục học, phương pháp giảng dạy, tâm lý học, logic học. Các môn bổ trợ: Lịch sử Đảng, Lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới, chính sách đối ngoại, ngôn ngữ, văn hóa, địa lý, quân sự, thể thao…
Mặc dù điều kiện ăn ở khó khăn thiếu thốn nhưng phong trào thi đua học tập rất cao. Lúc đầu có một số anh em không vui vẻ khi được phân công vào khoa không đúng nguyện vọng, Nhưng chỉ một thời gian ngắn đã hứng thú với các môn học. Thời gian lên giảng đường, thư viện và các môn học đan xen đã cuốn hút tâm trí mọi người. Các thầy cô giáo đã truyền cảm hứng cho chúng tôi, giúp chúng tôi say sưa học tập nghiên cứu. Ngoài giờ lên lớp, tôi rất thích lên thư viện tìm đọc sách báo liên quan đến môn học. Thư viện của trường rất lớn, bố trí rất ngăn nắp khoa học, đủ các loại sách đông tây kim cổ. Đọc cuốn này lại có nhu cầu đọc cuốn khác. Thư viện chật kín, nhưng rất trật tự im lặng, ai cũng chỉ chú tâm vào cuốn sách của mình. Đúng là “sách cho ta mọi sự hiểu biết, mà hiểu biết có sức mạnh lớn lao”.
Môn triết học tưởng như khô khan nhưng dần dần lại rất hấp dẫn. Khi nghiên cứu nội dung “vấn đề cơ bản của triết học”, khái niệm này rất ngắn, nhưng để hiểu sâu sắc nó thì phải đọc rất nhiều sách và tài liệu. Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, vật chất có trước hay ý thức có trước? vật chất quyết định ý thức hay ý thức quyết định vật chất? Con người có thể nhận thức được thế giới không? Giải quyết được vấn đề này sẽ quyết định được cơ sở tiền đề để giải quyết được những vấn đề khác của triết học. Trả lời câu hỏi này sẽ phân định được triết học duy vật với triết học duy tâm, duy vật biện chứng với duy vật siêu hình, duy tâm chủ quan với duy tâm khách quan, trường phái nhất nguyên với trường phái nhị nguyên,…Để bổ trợ cho kiến thức nghe được ở trên lớp, tôi lên thư viện đọc các cuốn sách của Mác – Ăng ghen: Lịch sử triết học, triết học Hy lạp – La mã cổ đại, Hệ tư tưởng Đức, Chống DuyRinh… như lạc vào thế giới triết học.
Lê nin đã đóng góp rất quan trọng vào sự toàn diện của chủ nghĩa Mác. Bằng việc phát hiện động lực phát triển xã hội là do đấu tranh giai cấp, hình thái xã hội này thay thế hình thái xã hội kia là do mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, ông đã xây dựng nội dung “Chủ nghĩa duy vật lịch sử”- Một trong ba bộ phận “đá tảng” của triết học Mác-Lê nin. Đó là: Chủ nghĩa duy vật, phép biện chứng và Duy vật lịch sử. Với tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” Lê nin đã xây dựng học thuyết về một xã hội mới là Chủ nghĩa xã hội khoa học – Một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác – Lê nin : Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hội khoa học. Ngày nay cho dù thế giới đã nhiều thay đổi nhưng học thuyết Mác – Ăng ghen – Lê nin vẫn còn nguyên giá trị.

Đến kỳ nghỉ hè, sinh viên các trường đại học ở Hà Nội thường phải “lao động xã hội chủ nghĩa”. Cuối năm thứ hai, cả khoa phải đi lao động ở mỏ than Cọc Sáu tỉnh Quảng Ninh. Nhiệm vụ là nhặt than, đúng ra là mót than vương vãi ngoài công trường. Mỗi người một cái móc sắt hai răng cầm tay cào cào vào đống than lẫn đất đá để nhặt những hòn than to bằng nắm tay trở lên. Sáng ra bãi than, lại vẫn quần áo quân phục, đeo khẩu trang, đeo kính chống bụi, đội mũ kín hết mặt, thu gom từng sọt than kíp lê đen lấp lánh. Tối về trút bỏ hết đồ bảo hộ, tắm xà phòng nhiều lần không hết than đen, vì bụi than có dầu bám vào da thịt rất khó làm sạch. Một tháng lao động rất vất vả nhưng cũng là một trải nghiệm không thể nào quên về vùng mỏ về những người công nhân khai thác “vàng đen” cho Tổ quốc. Mùa đông năm thứ ba sinh viên trường sư phạm phải đi lao động vét bùn sông Tô Lịch, đoạn từ Cầu Giấy đến gần khu Cao-Xà-Lá. Công việc rất khó khăn, vất vả, chân lấm tay bùn, hôi hám, nhưng cũng rất vui. Với khí thế thanh niên sinh viên “đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”, phong trào thi đua sôi nổi, chẳng mấy chốc đã qua hai tuần lao động. Khi tổng kết, khoa Giáo dục chính trị được xếp thứ nhất về năng suất và chất lượng. Cũng trong năm ấy, nhà trường phát động thi đua chào mừng 50 năm thành lập Đảng, khoa Giáo dục chính trị lại được xếp loại nhất toàn diện. Từ phong trào học tập lao động rèn luyện đến văn hóa văn nghệ thể thao đều dẫn đầu. Nhà trường coi trọng và đánh giá rất cao khoa Giáo dục chính trị, có số lượng Đảng viên nhiều hơn đảng viên tất cả các khoa cộng lại, lĩnh vực hoạt động nào cũng mạnh. Hình ảnh sinh viên của khoa “Đàn ông thì già, đàn bà thì xấu…” đã được thay thế bằng sự kính nể và ngưỡng mộ của toàn trường. Các em đã thay đổi cách xưng hô, gọi chúng tôi bằng anh thay vì vẫn gọi bằng chú. Sau khi chúng tôi ra trường, số lượng bộ đội đảng viên ít dần, khoa không còn mạnh như trước nữa.
Mùa hè năm 1981, khóa 2 làm luận văn và thi tốt nghiệp. Thời kỳ nước rút thật vất vả, ngày đêm lên thư viện nghiên cứu và ôn tập, vì ở nhà ngồi trên giường tầng học không vào. Anh nào cũng quyết tâm để đạt kết quả tốt, tự giác tranh thủ mọi thời gian để học. Kết quả tốt nghiệp cả khóa 120 người chỉ có 2 người đạt loại giỏi, được ở lại trường làm cán bộ giảng dạy, một số ít loại khá, hầu hết loại trung bình, vài người phải thi lại chờ tốt nghiệp vào năm sau. Những người tốt nghiệp loại khá là đủ điều kiện dạy ở các trường đại học, cao đẳng. Tôi được xếp loại khá.

Sau khi tốt nghiệp là cả hàng tháng liên hoan chia tay với lớp với trường với thầy cô bạn bè. Thấm thoát đã bốn năm đời sinh viên vô tư trong sáng. Nay mỗi người mỗi ngả không khỏi bồi hồi lưu luyến. Là sinh viên có xe máy, tôi đưa các bạn ra bến xe bến tàu về quê và đi chơi đây đó. Nhóm bạn ăn chung mấy năm học chúng tôi gồm bốn người: Tôi, Phạm Nguyên Hùng quê Hải Dương, Hoàng Văn Khụt quê Điện Biên dân tộc Thái, Trần Duy Tường quê Vĩnh Phú. Khụt là cán bộ đi học, ba chúng tôi đều là bộ đội chuyển ngành. Chúng tôi lần lượt đi chơi nhà nhau, về Hà Bắc, Hải Dương, Vĩnh Phú, nhưng không lên Điện Biên được vì đường xá phương tiện thời ấy không cho phép. Mãi sau này, dịp kỷ niệm 50 năm giải phóng Điện Biên tôi mới lên thăm Hoàng Văn Khụt, lúc đó anh đang là giám đốc Sở Nội Vụ tỉnh.
Kỳ sau đăng tiếp: Một thời giảng viên…





Bình luận về bài viết này