…Có lẽ do vũ khí khí tài đồ sộ cồng kềnh không thể hành quân đường bộ và những lý do khác nữa nên chuẩn bị hàng tháng vẫn chưa khởi hành được. Đầu tháng 5, tức là đã giải phóng Sài Gòn rồi, suốt ngày nghe đài hát bài “Tiến về Sài Gòn”, “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, “Đường chúng ta đi”… cả trung đoàn xuất phát. Hành quân theo đường biển bằng tàu vận tải của đoàn tàu “không số” hải quân. Chia tay với bà con nhân dân  Trịnh Hưởng, bao năm gắn bó, chia tay với các  cô gái suốt ngày bịt mặt, chúng tôi ra cảng Hải Phòng lên tàu. Khí tài thì lên tàu “há mồn” người và gạo nước đồ dùng thì lên tàu chở hàng. Không biết có bao nhiêu tàu và bao nhiêu chuyến, bởi khi ra khơi rồi tàu nào biết tàu ấy thôi. Nhiệm vụ của quản lý bếp ăn tiểu đoàn rất vất vả, phải lo hậu cần cho đơn vị trên đường hành quân, nhưng rất may là thời ấy có nhiều lương khô Trung Quốc. khi lên tàu không khí vui vẻ lắm, ai ai cũng cười nói chuyện trò ngắm nhìn phong cảnh. Tâm trạng tôi lúc này thật đặc biệt, cảm thấy hạnh phúc vì lần đầu tiên được vượt trùng khơi, được vào miền Nam xa xôi, được ngắm nhìn chiều dài đất nước dọc bờ biển hơn hai nghìn ki lô mét.

Một hồi còi kéo dài, tiếng máy tàu rung lên nghe chói tai, tàu từ từ rời bến, tiếng vỗ tay hò reo xen lẫn tiếng máy chạy đều đều. Tất cả đều đứng trên boong tàu nhìn đàn chim hải âu bay lượn, nhìn làng mạc núi đồi khuất dần, đến lúc chỉ còn biển bao la thăm thẳm không biết đâu là bến bờ. Từng đàn cá heo hàng trăm hàng nghìn con như đàn trâu đùa rỡn theo tàu. Thỉnh thoảng nhìn thấy một vài tàu thuyền của ngư dân dập dềnh theo sóng cao hàng mét, trông như chiếc lá ẩn hiện giữa đại dương. Hình như tàu vận tải cỡ lớn không đi ven bờ mà đi theo đường thẳng, có chỗ cách bờ hàng chục cây số. Biển xanh biếc mênh mông, mặt biển cong đường tròn như viên ngọc bích khổng lồ. Sáng sớm mặt trời đỏ rực nhô lên từ biển trông thật kỳ thú. Lúc này tôi liên tưởng đến mấy câu thơ của nhà thơ Xuân Quỳnh “chỉ có thuyền mới hiểu, biển mênh mông nhường nào, chỉ có biển mới biết, thuyền đi đâu về đâu…

Tầu không số- Ảnh tư liệu từ Internet

Sang ngày thứ hai trở đi, có hiện tượng say sóng, lúc đầu thấy nôn nao choáng váng, dần dần đầu óc quay cuồng, nôn ọe ra cả mật xanh mật vàng. Đêm cũng không ngủ được. Hàng trăm con người không anh nào không bị say, có anh mặt xanh như tàu lá, miệng cứ há hốc, thở như hết hơi. Lúc này mới thấy biển chẳng hiền hòa chút nào. Sang ngày thứ ba, tàu dừng lại ở cảng Cam Ranh cho anh em nghỉ ngơi để lấy sức đi tiếp. Mặc dù rất mệt chúng tôi vẫn cố lên bờ ngắm phong cảnh, nhưng không được đi xa và không được đi một người vì nơi đây mới giải phóng có thể chưa an toàn.

Tiếp tục hành trình vào cảng Sài Gòn. Đoạn này đi mất hai ngày, không còn say sóng khủng khiếp như đoạn trước. Mọi người ngủ ly bì. Trong giấc ngủ vẫn thấy dập dềnh trên sóng. Khoảng bốn, năm giờ chiều tàu cập cảng. Đến đây nghe nói khí tài đã lên bờ từ hai hôm trước và đã về nơi đóng quân. Bước chân trên bến cảng mà vẫn cảm giác bồng bềnh như trên biển, tưởng như mình bước hụt, trong đầu vẫn văng vẳng nghe tiếng máy chạy sình sịch đều đều. Bốc dỡ hàng hóa đồ dùng lên các xe ГRa (xe của đơn vị cỡ đại xa dùng để kéo khí tài). Mỗi xe vài chục người vừa ngồi vừa đứng, di chuyển về nơi đóng quân. Từ cảng Sài Gòn, xe đi ngược ra phía bắc, qua các đường phố mới giải phóng tràn ngập màu cờ đỏ sao vàng, qua cầu Sài Gòn trên xa lộ Sài Gòn-Biên Hòa, con đường đẹp nhất của miền Nam thời ấy. Trên xe lính tráng hát vang câu ca “Sài Gòn ơi ta đã về đây, ta đã về đây…”. Khoảng hơn 20 cây số, xe rẽ phải, khoảng một cây số nữa thì dừng lại. Đây là nơi đóng quân của tiểu đoàn 73. Xuống xe mà vẫn còn cảm giác như bước chân trên sóng, đến mấy ngày sau mới hết cảm giác này. Một chuyến đi biển ấn tượng suốt đời.

Vị trí mà đơn vị tiếp quản để triển khai trận địa là một khu đất trống rất rộng thuộc xã Phước Bình, quận Thủ Đức. Hai phía giáp đồng, xa xa có bưng dừa nước xanh mướt bạt ngàn. Hai phía giáp với các nhà máy xí nghiệp của chính quyền cũ và dân cư. Trung đoàn bộ tiếp quản khu gia binh thuộc xã Phước Long sát với xã Phước Bình, các tiểu đoàn 71, 72, 74 cũng tiếp quản các vị trí xung quanh trung đoàn bộ. Trung đoàn trực thuộc sư đoàn 367 đóng ở sân bay Tân Sơn Nhất. Những ngày đầu, các bộ phận dựng nhà bạt ở tạm, sau đó được sư đoàn cho lên sân bay tháo dỡ các nhà lắp ghép bằng gỗ xẻ của Ngụy quân về dựng lại. Từng khu nhà của các đại đội nhanh chóng hình thành, rất xinh xắn và ngăn nắp. Các bộ phận thi đua trang trí vườn hoa cây cảnh, đường đi lối lại, sân bóng chuyền bóng đá, chỉ một vài tháng doanh trại đã rất khang trang. Khu vực sát cánh đồng đơn vị triển khai 3 bệ phóng (thông thường là 6 bệ nhưng vì ở đây có hai phía giáp với nhà máy xí nghiệp không triển khai được). Hàng ngày luyện tập, tên lửa ngóc lên, quay từ hướng này sang hướng khác. Bà con nhân dân làm đồng gần đó cứ đứng xem, có người nói: tên lửa của bộ đội Miền Bắc to như máy bay.

Những ngày đầu, hoạt động của bếp ăn tiểu đoàn gặp nhiều khó khăn. Lương thực từ Bắc mang vào còn nhiều, nhưng thực phẩm thì thiếu, chủ yếu là thịt hộp do quân nhu trung đoàn phân phối. Đồng chí tiểu đoàn trưởng chỉ đạo phải cải thiện bữa ăn, nâng cao đời sống cho cán bộ chiến sỹ. Tôi cùng với đồng chí tiếp phẩm và một đồng chí anh nuôi đi chợ khảo sát thị trường. Vẫn phải giữ kỷ luật ra ngoài có ba người trở lên. Buổi đầu ra chợ Thủ Đức, chợ rất rộng lớn, hàng hóa rất phong phú, nhìn chung là rất rẻ. Người mua người bán vẫn dùng cả tiền Nam và tiền Bắc. Ba anh em mua rất nhiều cá tôm, thịt, đậu, rau các loại về làm bữa liên hoan đầu tiên cho toàn tiểu đoàn. Bữa ăn rất thịnh soạn, ai cũng vui, đồng chí tiểu đoàn trưởng khen. Buổi tối tôi tính toán cân đối sổ sách thấy vượt tiêu chuẩn định mức không đáng kể. Theo ngôn ngữ quân nhu là thâm nhưng thâm ít. Những ngày sau tôi đôn đốc bộ phận nuôi quân phát huy tinh thần trách nhiệm tích cực tìm tòi thực phẩm, gia công chế biến món ăn, hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của người quản lý. Cuối năm 1975, tôi được bầu là chiến sỹ thi đua cấp trung đoàn. Ngày 19-12-1975 được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam. Lúc này tôi hai mươi hai tuổi.

Sau giải phóng, tình hình miền Nam ổn định dần. Đơn vị cũng dần đi vào nền nếp kỷ luật trong tình hình mới. Nhiệm vụ chính của quản lý là làm sổ sách cân đối thu chi hàng ngày, chỉ đạo tổ tiếp phẩm và tổ anh nuôi tổ chức tốt bữa ăn phụ và hai bữa cơm chính trong ngày cho đơn vị. Công việc cũng không nhiều nên tôi còn tham gia các việc khác. Thấy tôi có năng khiếu kẻ vẽ, đồng chí chính trị viên tiểu đoàn giao cho nhiệm vụ kẻ khẩu hiệu trên hệ thống bảng tin, hệ thống pa nô. Chỉ viết bằng phấn đỏ xanh vàng trắng thôi chứ chưa đến trình độ dùng bút lông phẩm màu. Cứ sau trận mưa là khẩu hiệu nhòe nhoẹt lại phải viết lại, vì thế công việc này diễn ra thường xuyên. Là cánh tay đắc lực cho công tác tuyên truyền, được đồng chí chính trị viên rất quý, có lẽ vì thế mà sau này tôi được gửi ra trường văn hóa quân chủng để ôn thi vào trường đại học.

Chợ Bến Thành- ảnh tư liệu

Đã đến lúc được ra ngoài doanh trại nhưng phải báo cáo, mấy anh em rủ nhau đi Sài Gòn, điểm đến chính là chợ Bến Thành. Qua cổng đơn vị, lên xe Lam ra xa lộ, lên xe Đò (miền Bắc gọi là xe khách) qua cầu Sài Gòn, ngã tư Hàng Sanh, một vài con phố, qua cửa Dinh Độc Lập rồi đến chợ Bến Thành. Chỉ mất hai ba chục phút, phương tiện đi lại thuận tiện lắm, giá vé rất rẻ, đi rất nhanh, phục vụ rất lễ phép, chỉ giơ tay là xe dừng lại ngay, phụ xe xuống mời ông mời chú lên xe. Thời kỳ đầu giải phóng nhiều nhà xe không thu tiền vé của bộ đội.

Lần đầu tiên vào chợ Bến Thành với ý định chỉ đi tham quan xem xét. Tôi đi hết một vòng xung quanh rồi lần lượt qua các dãy hàng hóa. Chợ rất rộng, đèn sáng lung linh, hàng hóa choáng ngợp, người qua kẻ lại, người bán người mua đông đúc. Trong chợ ngoài chợ đi đến đâu cũng được các bà các cô các cậu mời chào: “mua hàng đi chú”, “anh mua gì ạ”… thậm chí có người cố tình chèo kéo, mồi chài dúi vào tay thứ này thứ kia như bắt phải mua, nhất là cánh bán đồng hồ đeo tay và đài radio, cát xét. Suốt thời kỳ đóng quân ở Thủ Đức còn nhiều lần nữa đi chợ Bến Thành, vẫn không gian và không khí như cảm giác lần đầu.

Cuối năm 1975, quân đội có chủ trương cho quân nhân đóng ở Miền Nam được lần lượt nghỉ phép một tháng để về thăm gia đình. Bộ đội sung sướng lắm, nhất là các đồng chí vào Nam chiến đấu từ những năm sáu mươi. Tổ chức cho bộ đội nghỉ phép là một chính sách lớn và là phần thưởng xứng đáng cho chiến sỹ. Mỗi đơn vị chỉ vài người nhưng mỗi đợt đưa bộ đội về phép thì đông lắm và phải tổ chức phục vụ khó khăn phức tạp lắm. Vài ba ngày lại có một đợt, mỗi đợt hàng chục xe, mỗi xe năm sáu chục người. Từ Sài Gòn ra Hà Nội cứ khoảng năm sáu trăm cây số lại có 1 trạm để nghỉ đêm. Trạm nghỉ là các cơ sở của ngụy để lại. Tháng 12 năm 1975, tôi và một số đồng chí cùng tiểu đoàn được về phép. Xe đơn vị đưa đến trạm sân bay Long Bình, trạm đầu tiên. Nhập vào với đoàn ra đợt này của rất nhiều đơn vị. Anh nào anh nấy, vai đeo ba lô cồng kềnh, tay mang tay vác đồ đạc, hầu như ai cũng có con búp bê và chiếc khung xe đạp. Một đoàn xe đò miền Nam (xe của Mỹ chạy bằng dầu có ống khói trên nóc xe) nối đuôi nhau xuất phát đưa chúng tôi ra Bắc. Cảm giác thật đặc biệt, sung sướng, háo hức chỉ vài ngày nữa là về đến nhà, tưởng tượng không khí xum họp thật vui. Qua ngày thứ nhất, đoàn dừng lại ăn nghỉ ở trạm sân bay Phan Rang thuộc tỉnh Ninh Thuận. Khi tới  đây trời đã nhá nhem tối, trạm đã chuẩn bị sẵn sàng bữa ăn chính. Ăn xong mắc màn ngủ ngay, tất cả nằm la liệt trên sàn xi măng nhà kho sân bay. Sáng sớm hôm sau, ăn cơm rồi lại lên xe đi tiếp. Qua Nha Trang đến Phú Yên. Nơi có cánh đồng lúa bát ngát, hỏi ra mới biết đây là vựa lúa Tuy Hòa của dải đất miền Trung. Xe chạy vài tiếng đồng hồ nữa đến xứ dừa Tam Quan tỉnh Bình Định. Ở đây sao mà nhiều dừa thế, dừa xanh ngút ngàn, xe đi xuyên trong rừng dừa mát rượi. Qua Tam Kỳ – Quảng Ngãi, Quảng Nam rồi thành phố Đà Nẵng. Trời đã tối, đoàn xe rẽ vào trạm nghỉ Đà Nẵng. Nơi nghỉ đêm ở đây là một khu gia binh – gia đình của binh lính ngụy đã bỏ chạy dịp cuối tháng 3-1975. Phía trước xa xa có pho tượng phật bà cao to trắng toát ngồi xếp bằng trên tòa xen lồng lộng giữa trời.

Ngày thứ ba là chặng đường từ Đà Nẵng đến thành phố Vinh Nghệ An. Khi vượt đèo Hải vân để ra Huế tất cả lính tráng ngồi trên xe như chết lặng bởi phong cảnh ngoạn mục của con đèo xếp hạng “thiên hạ đệ nhất hùng quan” này. Đèo có độ dài 20km, quanh co gấp khúc, cao 496m, có chỗ đi mấy cây số lại thấy đoạn vừa qua ở ngay đỉnh đầu, có chỗ nhìn xuống dưới như vực thẳm, những xác xe ô tô nằm chỏng chơ dưới đó từ bao giờ, có chỗ một bên là núi cao một bên là biển sâu sóng vỗ. Lần đầu tiên trong đời được vượt qua quan ải hùng vĩ nhất của dân tộc thời Nam tiến. Qua đèo một hai tiếng là đến thành phố Huế thơ mộng. Nhưng rất tiếc không có thời gian để thăm cố đô hoa lệ thời phong kiến nhà Nguyễn, mà chỉ được quan sát sông Hương núi Ngự, cầu Trường Tiền, thành lũy cố cung và cột cờ thành cổ. Ra tới Quảng Trị – mảnh đất điển hình của miền Trung khô cằn đầy nắng lửa và hậu quả nặng nề của chiến tranh tàn khốc, chứng kiến cảnh điêu tàn hoang hóa. Vùng đất Cồn Tiên, Rốc Miếu không một bóng cây, ngổn ngang những hàng rào dây thép gai, rải rác những xe tăng, xe bọc thép và các ụ súng của Mỹ Ngụy bỏ lại. Cảm xúc dâng trào khi đoàn xe qua cầu Hiền Lương, cây cầu lịch sử là giới tuyến chia cắt hai miền suốt ba mươi năm. Ra tới Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An là đã có cảm giác quen thuộc mặc dù cũng chưa tới nơi đây bao giờ. Tối hôm ấy chúng tôi nghỉ ở trạm thành phố Vinh. Ngày thứ tư lên tàu hỏa từ Vinh ra đến trạm ở ga Thường Tín. Ngày thứ năm về đến nhà. Thật may mắn lúc vào thì đi đường biển, lúc ra thì đi đường bộ, được ngắm nhìn đất nước từ nhiều góc cạnh, mới thấy “Đất nước mình đâu cũng đẹp như tranh”.

Về tới nhà, cả gia đình vây quanh hỏi chuyện, hàng xóm cũng đến chúc mừng. Những ngày sau đó là lịch trình đi chơi bời thăm hỏi họ hàng, anh em bạn bè, các thầy cô giáo cũ. Chẳng mấy chốc đã hết một tháng nghỉ phép. Lên trạm đón tiếp của tỉnh đội ở Đa Mai Bắc Giang để vào đơn vị, nhưng không hiểu sao không có xe đón, cán bộ của trạm cấp giấy cho nghỉ tiếp và hẹn ngày đến. Lại một lần nữa không có xe đón, lúc này đã sắp đến tết nguyên đán năm 1976. Thế là lại được ăn tết ở nhà.

Sau gần hai tháng nghỉ phép, xe đón chúng tôi vào đơn vị theo lộ trình ngược lại với lúc ra qua các trạm Thường Tín – thành phố Vinh – Đà Nẵng – Phan Rang – Long Bình. Tới đơn vị tay bắt mặt mừng đồng đội vui sướng như về nhà.

Nguyễn Văn Kỳ

Kỳ sau đăng tiếp: Trường văn hóa quân chủng PK-KQ

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành