BBT Hiephoanet.vn trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc Tự truyện ” Một thời và mãi mãi” của tác giả Nguyễn Văn Kỳ, ông nguyên là cán bộ lãnh đạo Huyện uỷ- UBND huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang

Ông Nguyễn Văn Kỳ

Trong phần giới thiệu ông đã viết “….Thời gian sẽ qua đi, còn lại là ký ức, vì vậy tôi quyết định viết những dòng hồi ký này với tiêu đề “MỘT THỜI VÀ MÃI MÃI”. Tôi viết cho mình, cho gia đình, con cháu, cho bạn bè và những người thân..”.Ông hoàn thành tác phẩm này vào tháng 6/2023

BBT sẽ đăng nhiều kỳ theo chương-Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc :

Chương I

MỘT THỜI BỘ ĐỘI

Mai Sưu – “Lò luyện quân cộng sản”

Ngày 25 tháng 12 năm 1971 tôi nhập ngũ, là chiến sỹ quân đội nhân dân Việt nam

Hồi ấy vừa thi hết học kỳ 1 lớp 10 năm học 1971 – 1972 cấp 3 Hiệp Hòa, cũng vừa tròn 18 tuổi, tôi nhận giấy báo nhập ngũ. Cảm giác thật là đặc biệt. Gần ba năm học cấp 3, tình cảm với bạn bè, thầy chủ nhiệm và các thầy cô giáo đang cho tôi nhiều niềm vui. Đến bây giờ vẫn nhớ như in những kỷ niệm đẹp. Những buổi sinh hoạt lớp, những buổi lao động tập thể, những buổi cuốc bộ từ nhà đến trường gần sáu km, những bữa trưa ăn cơm nắm muối vừng bố mẹ chuẩn bị cho để ở lại trường học buổi chiều. Tuổi học trò, tuổi mới lớn thật đáng nhớ và đáng yêu.

Hồi ấy, hầu hết học sinh ở nông thôn như chúng tôi không được học bài ở nhà vào ban ngày đâu. Sáng đi học ở trường, chiều về đi làm hợp tác. Những tháng hè, tôi còn là tay cày của đội sản xuất, mùa hè là mùa cày cấy. Ba giờ sáng, tiếng kẻng vang lên, đàn ông các gia đình đánh trâu, vác cày bừa ra đồng. Dưới ánh trăng hè rạng sáng, tiếng cười nói râm ran, tiếng vặt, diệt đều đều giữa cánh đồng không mông quạnh. Một thời hợp tác đã xa.

Tôi lên đường, mang theo kỷ niệm tuổi học trò, mang theo kỷ niệm quê hương một nắng hai sương. Đúng cái thời học sinh sinh viên cả nước “gác bút nghiên lên đường ra trận”.

Ảnh minh hoạ

Buổi chiều hôm ấy, tôi được người nhà và bạn bè đưa lên huyện, tập hợp ở sân vận động. Lúc đến nơi đã có rất đông người. Trong đó có một số người mặc quân phục, chắc là các đồng chí cán bộ về đón quân. Từng tốp, từng tốp đứng ngồi, cười nói. Những đôi trai gái dáng vẻ rất bịn rịn, có người mắt rưng rưng có thể họ là người yêu của nhau, cũng có thể họ là anh chị em. Một lúc sau có tiếng loa phóng thanh gọi xếp hàng theo đơn vị xã. Những thanh niên nhập ngũ hôm ấy đứng vào các hàng dọc ở giữa sân. Những người đưa tiễn đứng dạt ra xung quanh. Cả sân vận động im lặng nghe đọc tên từng người trong danh sách. Hồi hộp chờ đợi đọc đến tên mình, tim tôi cứ đập thình thịch. Tổng số người nhập ngũ hôm ấy có lẽ đến vài trăm. Một vài người lên diễn văn, thỉnh thoảng có tiếng vỗ tay lộp độp – có lẽ là các đồng chí lãnh đạo huyện và đơn vị về đón quân phát biểu. Lúc này ít người chú ý nghe, mọi người mải nói chuyện, nhất là những người đưa tiễn đứng ở ngoài hàng. Chắc là họ chỉ biểu lộ cảm xúc trong hoàn cảnh tiễn đưa.

Chỉ sau một hai tiếng gì đó, chúng tôi được bàn giao cho đơn vị. Lúc này cả sân vận động nóng lên, sôi động. Một số người ở ngoài chạy vào hàng ngũ các tân binh, một số tân binh cũng chạy ra khỏi hàng. Không khí huyên náo, có tiếng loa và tiếng còi yêu cầu chấn chỉnh lại hàng ngũ. Một đồng chí mặc quân phục chỉnh tề, đội mũ có sao, đeo súng lục, điểm danh một lần nữa và tuyên bố hành quân về đơn vị. Cả sân vận động lại ồn lên. Những cái bắt tay, những cái ôm và cả những giọt nước mắt đang diễn ra trước mắt tôi. Thật xúc động. Năm ấy huyện Hiệp Hòa có ba bốn đợt nhập ngũ như vậy, vì cuộc chiến ở Miền Nam đang ác liệt.

Chúng tôi bắt đầu hành quân về đơn vị theo hai hàng dọc. Chẳng biết đơn vị ở đâu, nhưng cứ theo nhau mà đi, dẫn đầu là đồng chí cán bộ đón quân. Từng đoạn, từng đoạn lại có một vài đồng chí mặc quần áo bộ đội đi xen vào hàng ngũ. Cánh tân binh vẫn mặc quần áo thường phục, có anh áo trắng, có anh áo xanh, có anh quần áo nâu, hai hàng dọc đi sát vào bên phải đường, tiến về hướng Bưu điện – ngã ba (bây giờ là ngã tư Biển) lên dốc Đức Nghiêm, rẽ hướng Tân Yên.

Trời sẩm sẩm tối, hành quân tới xã Ngọc Thiện, dừng lại ở một sân kho hợp tác xã. Sau này mới biết đó là sân kho của hợp tác xã thôn Bỉ Nội, xã Ngọc Thiện, huyện Tân Yên. Đi được già chục cây số mà anh nào anh nấy đều mỏi mệt, ngồi phệt cả xuống đất, chẳng nói năng gì. Hai chân tôi đau mỏi, bàn chân gót chân có mấy nốt rát bỏng vì quai dép cứa vào. Hôm ấy tôi đi đôi dép nhựa Tiền Phong màu trắng, vừa được U cho tiền mua trước mấy ngày nhập ngũ. Hồi ấy dép Tiền Phong trắng là mốt của thanh niên, nhưng nó đã làm tôi khổ sở buổi đầu nhập ngũ.

Tập trung kín cả sân kho, một đồng chí hình như là cán bộ tiểu đoàn tuyên bố, tiểu đoàn chúng ta sẽ dừng lại ở đây vài ngày, đơn vị đã sắp xếp cho các đồng chí ở nhờ nhà dân. Lúc này trời đã tối hẳn, các đồng chí phụ trách từng nhóm phải dùng đèn bão để đưa chúng tôi vào các nhà dân. Tôi và hai người nữa được đưa vào một gia đình. Chủ nhà là hai ông bà chừng năm mươi tuổi vui vẻ đón tiếp, liếc nhìn chỉ thấy có hai cái giường, thế này thì chủ nhà ngủ ở đâu? Liền lúc đó, đồng chí dẫn quân đã giải đáp cho suy nghĩ của tôi. Đồng chí nói: vì nhà chật nên ba đồng chí phải ngủ chung một giường.

Đêm ấy ba chúng tôi ngủ li bì, chẳng anh nào động cựa gì nên cũng chẳng thấy chật.

Đơn vị ở Ngọc Thiện ba bốn ngày. Ngày đầu ra sân kho nhận tư trang, mỗi người một ba lô, hai bộ quần áo dài, trong đó một bộ ga-ba-đin Trung Quốc màu xanh, một bộ Triều Tiên màu trắng mờ, hai bộ quần áo lót, một mũ cối, một mũ mềm, một đôi giày cao cổ, một đôi dép cao su, hai đôi tất. Từ nay phải mặc quần áo quân phục, chính thức là anh bộ đội rồi. Ngày hôm sau, cũng lại ra sân kho, đồng chí cán bộ tiểu đoàn công bố danh sách biên chế vào các đại đội. Sau đó, các đại đội tập trung riêng công bố danh sách biên chế vào các trung đội, tiểu đội, tổ 3 người. Thật bất ngờ tôi được chỉ định làm tổ trưởng tổ 3 người, đồng thời làm tiểu đội phó tiểu đội 4, trung đội 2, đại đội 3. Việc được cử làm tổ trưởng, tiểu đội phó cũng thấy vui vui và cứ vô tư nhận thôi. Một thời gian sau mới biết, từ tiểu đội trưởng trở lên đều là cán bộ khung, các đồng chí này nhập ngũ trước và đã qua đào tạo để nhận và huấn luyện tân binh. Các tiểu đội phó đều là một trong số các tân binh của tiểu đội được chọn. Tiểu đội trưởng của tiểu đội 4 là anh Phạm Ngọc Đồng, anh đến bên tôi động viên khích lệ và nói cùng anh để hoàn thành nhiệm vụ của tiểu đội. Lúc ấy mọi thứ cứ bình thường, bây giờ nghĩ lại mới hiểu rằng anh Phạm Ngọc Đồng chính là người thủ trưởng trực tiếp đầu tiên của mình và mình cũng là thủ trưởng trực tiếp đầu tiên của 2 chiến sỹ, là thủ phó của tiểu đội gồm 4 tổ, 12 chiến sỹ.

Chỉ mấy ngày ở Ngọc Thiện mà đơn vị đã có nền nếp. Sáng điểm danh, tối điểm danh. Sau khi có quân tư trang là tập đội ngũ: đi, đứng, nghiêm, nghỉ, chào. Lúc thì tập theo tiểu đội, lúc thì tập theo trung đội, lúc thì tập theo đại đội, lúc thì tập theo tổ 3 người. Anh em trong đơn vị đã quen nhau, nhất là trong tiểu đội. Chỉ mấy ngày ở Ngọc Thiện, vẫn nhớ mãi cái sân kho của hợp tác xã, nhớ mãi gia đình ông chủ nhà ở bên bờ sông gần kè đập suốt ngày đêm nước chảy ầm ào tung bọt trắng xóa, nhà có hai người con trai, một cậu tên là Y, một cậu tên là Tờ. Chỉ mấy ngày ở Ngọc Thiện nhưng không thể nào quên, vì đây là những ngày đầu đời quân ngũ, đánh dấu mốc đầu tiên của tuổi trưởng thành, bắt đầu sự nghiệp.

Tạm biệt xã Ngọc Thiện huyện Tân Yên, đơn vị hành quân lên Lục Nam. Đợt hành quân này khác hẳn hành quân mấy hôm trước. Đường hành quân dài hơn trăm cây số, hàng quân nối đuôi nhau trùng trùng, ai ai cũng quân phục giống nhau, quần áo màu xanh lá cây, thắt dây lưng đỏ, đeo ba lô con cóc, đội mũ cối có sao, chân đi giầy. Mỗi tiểu đội cử hai người khiêng xoong nồi quân dụng. Chỉ khác đoàn quân ra trận là chưa có súng vác vai. Hành quân từ sáng sớm đến tối mịt thì tới doanh trại, ai cũng mệt mỏi rã rời và đói, vì trên đường chỉ ăn lương khô. Đơn vị đã nấu cơm chờ sẵn, ăn xong nhận giường và đi ngủ liền.

Sáng hôm sau, tập trung toàn đơn vị mới biết đây là Mai Sưu Lục Nam, nơi huấn luyện quân của Hà Bắc, Hải Dương, Quảng Ninh, Hải Phòng để chi viện cho Miền Nam. Đại đội tôi thuộc tiểu đoàn 482 trung đoàn 568. Trung đoàn 568 được Bác Hồ về thăm tặng cờ thi đua với 8 chữ “Đoàn kết – Trung Dũng – Tiến Công – Quyết Thắng”. Từ năm 1967 đến 1975 trung đoàn đã huấn luyện cho chiến trường 200 đơn vị cấp tiểu đoàn, gần 120 nghìn quân. Quân đội dùng ký hiệu: A là tiểu đội, B là trung đội, C là đại đội, D là tiểu đoàn, E là trung đoàn, F là sư đoàn. Như vậy tôi thuộc A4, B2, C3, D482, E568, QK3.

Những địa danh: Mai Sưu, Đủng Đỉnh, Hổ Lao, Vô Tranh, Đồng Ràng, Cầu Giầy… thuộc vùng Tứ Sơn Lục Nam gồm Bắc Sơn, Bình Sơn, Trường Sơn, Lục Sơn. Nơi đây là vùng đất lý tưởng cho việc luyện quân. Đài BBC gọi là “Cái lò luyện quân cộng sản”. Những vùng đồi lúp súp, nhiều cây dại: Cây sim, cây mua, cây guột, cây sau sau.. xen lẫn là những quả núi cao, phía trước là dãy Yên Tử sừng sững. Ngay cạnh đơn vị là dòng suối nước trong vắt, nhìn thấy cá tép dưới đáy sâu hai ba mét, nghe nói về mùa mưa  nước suối dâng lên cao, đục ngầu và chảy cuồn cuộn. Nhà bếp của đơn vị ở sát bờ suối để tiện lấy nước nấu ăn. Hàng ngày bao nhiêu con người tắm giặt dưới suối. Mọi sinh hoạt liên quan đến nước đều từ suối.

Mấy ngày đầu đơn vị ổn định tổ chức và sắp sếp nơi ăn ở. Doanh trại của đơn vị đã được xây dựng từ lâu, giống như một ngôi trường đã có nhiều lớp huấn luyện đã qua. Nói là xây dựng chứ thực chất chỉ là doanh trại tranh tre nứa lá. Bộ đội đi chặt cây rừng về làm cột kèo, mái lợp cỏ gianh, tường vắt đất. Tiểu đội tôi được ở ngôi nhà có đầu hồi sát bờ suối, đêm đêm nghe tiếng suối chảy rì rào, tiếng hoẵng kêu xa xa, thỉnh thoảng tỉnh giấc thấy buồn man mác. Ngôi nhà có chiều rộng độ ba bốn mét, chiều dài vừa đủ kê 13 chiếu giường sát nhau. Tiểu đội trưởng nằm giường đầu hồi bên này, rồi đến từng tổ 3 người, tổ tôi nằm ở đầu hồi bên kia, tôi nằm ngoài cùng. Vậy là tiểu đội trưởng nằm ngoài đầu này, tiểu đội phó nằm ngoài đầu kia. Trong nhà chỉ có một giá đặt súng và một giá treo bát đũa có ghi tên từng người, bát sắt Trung Quốc có khuy tròn để lồng đũa và cắm vào giá đỡ. Ba lô để trên gác chạy dài phía đầu giường, 13 chiếc giường liên kết thành một khối, hai cây gỗ song song chạy dài từ đầu hồi này đến đầu hồi kia để đặt các giường lên sát vào nhau. Giường được ghép bằng những tấm ván, phía đuôi giường có giá đặt giầy dép làm bằng hai cây nứa nhỏ để cao so với nền nhà khoảng 20cm. Rất đơn sơ như thế nhưng cũng rất ngăn nắp. Sáng dậy, mọi người gấp chăn màn vuông vắn, dùng dây căn chỉnh cho 13 cái chăn thẳng hàng suốt từ đầu này đến đầu kia, tối ngủ để dép đúng vị trí cũng thẳng hàng suốt đầu này đến đầu kia. Đúng là quân đội rèn luyện rất tỉ mỉ, từ những cái nhỏ nhất.

Sau khi ổn định tổ chức, tư tưởng và ăn ở, đơn vị bắt đầu vào khóa huấn luyện, kéo dài trong ba tháng. Phải tập luyện rất nhiều khoa mục như: lăn lê, bò toài, tiếp cận mục tiêu, bắn súng cự ly gần, cự ly xa, mục tiêu đứng im, mục tiêu di động, chui qua hàng rào dây thép gai đặt bộc phá diệt lô cốt, hành quân dã ngoại mang vác nặng, sử dụng  bếp Hoàng Cầm v.v… ấn tượng nhất là mỗi tuần một buổi hành quân đeo sọt đá. Mỗi người tự đan một cái sọt bằng tre nứa, thiết kế hai quai như ba lô, sọt có ba chân để khi ngồi dễ tháo khỏi vai, phía giáp lưng có đệm một lớp vải hoặc vật liệu mềm cho đỡ đau lưng. Xuống suối lấy những viên đá cuội to cho vào sọt. Những tuần đầu đeo sọt nặng 20-25 cân, đi 2-3km. Những tuần sau cứ tăng dần trọng lượng và cự ly hành quân. Vừa hành quân đeo đá vừa hát bài hành khúc trung đoàn 568 và bài chiếc sọt tre “Đoàn ta chân đồng vai sắt, con của núi sông, đoàn 568 quyết phất cao cờ Bác oai hùng …“Sọt nhìn ví tựa người thương, cùng ta đeo đá trên đường là đường hành quân…” Có ba lần hành quân xa khoảng 20-30km. Một lần vượt đèo Chinh, một lần vượt đèo Bụt, một lần vượt đỉnh núi Yên Tử sang Quảng Ninh. Những lần hành quân vượt đèo quả là thử thách lớn: trèo đèo lội suối vai vác nặng, chân mỏi vai đau áo đẫm mồ hôi. Đúng là khoa mục nào cũng vất vả, nhưng hành quân dã ngoại là vất vả nhất. Tuy nhiên, với sức trẻ chúng tôi đều vượt qua bởi các đồng chí thủ trưởng đơn vị luôn động viên và nhắc câu “Thao trường ta đổ mồ hôi, chiến trường ta đỡ phải rơi máu đào”.

Ba lần hành quân vượt đèo thì lần cuối cùng vượt đèo Yên Tử là khó khăn vất vả nhất, dài ngày nhất. Có hai đêm ngủ trong rừng, các bữa nấu ăn phải nấu bằng bếp Hoàng Cầm. Mưa rừng rả rích, thỉnh thoảng lại lội qua một con suối, giầy ướt sũng, ngồi nghỉ cởi giầy thấy bàn chân nhợt nhạt, những con vắt căng tròn lăn ra để lại vết cắn rỉ máu. Lúc vượt đỉnh Yên Tử đã bảy tám giờ sáng, mây trắng bao phủ, người sau nhìn người trước mờ mờ trong mây. Đúng là như đi trong mây. Đỉnh núi Yên Tử có nhiều đá, có chỗ phải bám vào vách đá để đu lên, người trước kéo tay người sau, người sau đẩy mông người trước, trên vai nặng trĩu ba lô súng đạn xoong nồi. Nhìn xuống dưới chân, mây bay đặc kịt như biển mênh mông. Bây giờ trưởng thành hơn mới thấu hiểu kết quả của cuộc dã ngoại vượt đỉnh Yên Tử. Giống như vượt Trường Sơn vậy. Đây là bài thực hành tổng hợp các khoa mục. Đây là bài thi cuối khóa trong giáo trình huấn luyện ba tháng của trung đoàn 568: rèn luyện sức khỏe, rèn luyện ý chí bản lĩnh, rèn luyện kỹ thuật chiến thuật trong chiến đấu. Đúng là “lò luyện quân cộng sản”.

Đầu tháng 4 năm 1972 kết thúc khóa huấn luyện, chúng tôi đã tốt nghiệp trường “Mai Sưu grát”. Cả đơn vị được nghỉ phép 15 ngày trước khi đi B, tức là đi vào miền Nam chiến đấu.

Hơn ba tháng xa nhà, mà là lần đầu tiên xa nhà, được về phép phấn khởi lắm, cảm giác cứ lâng lâng khó tả. Xe đơn vị đưa về đến huyện, rồi đi bộ khoác ba lô về nhà, bước chân cứ như không tới đất, chỉ mong mau chóng được gặp bố mẹ, anh chị em, được nhìn thấy cây mít ở cổng, bức tường hoa ở sân… Cả nhà đón tôi, ai cũng khen cao lớn hơn  béo khỏe hơn.

Hồi ấy bộ đội về phép để đi Nam là đặc biệt lắm, thiêng liêng lắm, ai cũng hiểu vào Nam sẽ không biết sống chết thế nào. Phải tranh thủ thời gian để làm mọi chuyện, có anh tức tốc cưới vợ. Tôi giành phần lớn thời gian đi thăm hỏi người thân, bà con hàng xóm, thăm thầy giáo chủ nhiệm. Đặc biệt ấn tượng là cuộc đi chơi với các bạn lớp 10B-lớp tôi học trước khi đi bộ đội. Có tôi và hai bạn nhập ngũ đợt trước là bộ đội nghỉ phép, có bốn năm bạn đã có giấy báo nhập ngũ đợt tới và hầu hết các bạn trong lớp. Cả đoàn khoảng bốn chục người đi xe đạp dòng dòng hết nhà bạn này đến nhà bạn khác, từ đầu huyện đến cuối huyện. Có hai lý do để lớp có một kỷ niệm sâu sắc như vậy. Một là có các bạn đã nhập ngũ, có các bạn sắp nhập ngũ, hai là sắp đến ngày thi tốt nghiệp. Rồi đây sẽ mỗi người một ngả.

Kỳ sau: Hải Phòng – Thành phố hoa phượng đỏ

Một phản hồi cho “Một thời và mãi mãi- Tự truyện của tác giả Nguyễn Văn Kỳ”

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành