Trong những năm qua, UBND cấp xã  thực hiện công tác chứng thực theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, Thông tư số 20/2015/TT-BTP ngày 29/12/2015 của Bộ Tư pháp hướng dẫn Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Sau hơn 05 năm triển khai, công tác chứng thực trên địa bàn cấp xã ở Hiệp Hòa đã được thực hiện tương đối đồng bộ và đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Dù vậy, việc thực hiện Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và Thông tư số 20/2015/TT-BTP vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc.

Trước tiên cần hiểu thế nào là chứng thực và thế nào là công chứng:

+ Công chứng

Cơ sở pháp lý: – Luật Công chứng 2014

Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của các loại giấy tờ sau:

– Giao dịch dân sự bằng văn bản, hợp đồng;

– Bản dịch giấy tờ, văn bản từ bản dịch Tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc ngược lại;

(Khoản 1 Điều 2 Luật công chứng 2014).

Về thẩm quyền:

Tổ chức hành nghề công chứng: Phòng công chứng, Văn phòng công chứng.

Giá trị pháp lý:

– Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ thời điểm được công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng ký và đóng dấu;

– Hợp đồng, giao dịch có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trường hợp phát sinh mâu thuẫn thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

– Hợp đồng, giao dịch có giá trị chứng cứ kể từ thời điểm được công chứng, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

+ Chứng thực:

– Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/12/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.

– Thông tư 02/2020/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc.

– Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính.

– Chứng thực chữ ký là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người yêu cầu chứng thực.

– Chứng thực hợp đồng, giao dịch là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

( Điều 2 nghị định 23/2015).

Về thẩm quyền:

– Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn;

– Phòng Tư pháp cấp quận, huyện;

– Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự, cơ quan khác có chức năng lãnh sự theo ủy quyền của Việt nam ở nước ngoài.

– Công chứng viên.

Giá trị pháp lý:

– Bản sao được chứng thực có giá trị sử dụng thay thế cho bản chính, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

– Chữ ký được chứng thực có giá trị chứng minh cho chữ ký của người yêu cầu chứng thực;

– Giao dịch dân sự, hợp đồng được chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký, dấu điểm chỉ và thời gian, địa điểm ký kết hợp đồng, giao dịch.

Hiện nay, nhiều người dân còn nhầm lẫn giữa công chứngchứng thực hợp đồng giao dịch

Công chứng và chứng thực là hai việc khác nhau. Công chứng là việc xác nhận tính xác thực và tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Công chứng viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình, bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong quá trình hành nghề công chứng. Còn chứng thực hợp đồng giao dịch chỉ là chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; còn người yêu cầu chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Tuy nhiên, hiện nay người dân còn chưa hiểu rõ bản chất, đặc biệt là hệ quả pháp lý của hai việc này nên còn chưa có ý thức về việc phải chịu trách nhiệm đối với nội dung của hợp đồng, giao dịch. Mặc dù Bộ Tư pháp đã ban hành các văn bản hướng dẫn UBND các xã khi tiến hành chứng thực hợp đồng giao dịch cần giải thích rõ cho người dân hiểu về sự khác nhau giữa công chứng và chứng thực như trên; đồng thời đối với trường hợp hợp đồng, giao dịch phức tạp, tiềm ẩn rủi ro cho các bên thì xem xét hướng dẫn cá nhân, tổ chức lựa chọn công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng, song, tình trạng người dân yêu cầu chứng thực hợp đồng, giao dịch tại UBND cấp xã còn phổ biến.

Tóm lại:Chứng thực chỉ thực hiện đối với bản sao, đối với chữ ký trong các giấy tờ của người yêu cầu hay chứng thực sự việc và người chứng nhận không đề cập đến nội dung. Trong khi đó công chứng bảo đảm nội dung của một hợp đồng, một giao dịch, công chứng viên chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó.

*Công chứng:

Công chứng viên phải đảm bảo tính hợp pháp của nội dung hợp đồng, giao dịch.

*Chứng thực:

Người thực hiện chứng thực không chịu trách nhiệm về nội dung.

Nội dung bài viết trên đã nêu một số điểm khác biệt cơ bản để công dân có thể phân biệt công chứng và chứng thực để có cách nhìn khái quát nhất và đưa ra lựa chọn hợp lý khi có các hợp đồng, giao dịch cần được công chứng, chứng thực.

Chí Tuệ

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành