Với gương mặt cương nghị, đôi mắt sáng, mặc dầu ông đã bước sang tuổi 84 nhưng vẫn mang vóc dáng rắn rỏi, hoạt bát của một chiến sỹ trinh sát Đoàn 559 thưở nào. Ông là Nguyễn Ngọc Năm, một cựu chiến binh với 21 năm tuổi quân, đảng viên gần 50 năm tuổi Đảng của chi bộ Khu Minh Khai, thuộc Đảng bộ thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
 
 
Chân dung ông Nguyễn Ngọc Năm
 
Sinh năm 1929, lớn lên trên quê hương cách mạng, phường Bến Thủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Ông là con thứ 5 trong gia đình có 7 anh chị em. Theo bước các anh, năm 1958 ông làm đơn tình nguyện vào đại đội Thanh niên xung phong C14, Đoàn Cù Chính Lan của tỉnh Nghệ An. Với bản tính nhanh nhẹn, tinh thần trách nhiệm cao, tháng 01 năm 1960, ông được cấp trên lựa chọn cùng 12 chiến sỹ chuyển sang Đoàn 559 làm nhiệm vụ mở đường Trường Sơn. Vào đơn vị mới, sau 3 tháng vừa công tác, vừa huấn luyện nghiệp vụ trinh sát, mở đường, người lính trinh sát đã luôn bám sát nhiệm vụ, với cương vị Đội trưởng. Năm 1964 ông được kết nạp vào Đảng. Trên khắp các tuyến đường ông đã cùng đồng đội góp phần tích cực vào thành công cho các con đường. Từ Thượng Lào xuống Làng Ho (Quảng Bình) rồi chạy suốt chiến trường Miền Nam, từ B5 tới Quân Khu 9 (Miền Tây Nam Bộ) góp phần vào cuộc Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968 và Giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước năm 1975. Do chiến tranh phá hoại, bom Mỹ đã cướp đi sinh mạng của cha mẹ và một số người thân trong gia đình ông. Năm 1977 ông được chuyển ra Bắc an dưỡng tại Đồ Sơn, Hải Phòng, xin phép đơn vị về thăm quê. Sau đó, tiếp tục trở lại đơn vị Đoàn 147 được chuyển về Lục Ngạn, Bắc Giang. Tại đây, sau 19 năm quân ngũ, đã sang tuổi 48, ông mới kết duyên cùng cô gái người Lục Ngạn. Xây dựng gia đình xong, ông tạm biệt vợ tiếp tục nhận nhiệm vụ tại chiến trường Căm-Pu- Chia. Đầu năm 1979 ông lại được điều động lên biên giới Phía Bắc, chuyển về Quân khu 3 và ra quân tháng 9 năm 1980, với tấm Huân chương Chiến công hạng Hai, nhiều bằng khen, giấy khen và 62% thương tật.
 
Sau nhiều năm lăn lộn nơi chiến trường, mang quân hàm thượng úy về với đời thường, ông tiếp tục bắt tay vào cuộc sống mới cũng đầy gian nan, với bản lĩnh kiên cường của người lính trong lửa đạn, ông lại cùng vợ và hai con nhỏ tạo dựng cơ ngơi. Ngôi nhà cấp 4 của ông từ đó đến nay vẫn là tổ ấm của đại gia đình cho con cháu sum vầy. Qua 5 năm ổn định cuộc sống và tham gia sinh hoạt Đảng tại địa phương, với bản chất người lính và tính thẳng thắn, cương trực, ông đã được lãnh đạo địa phương động viên tiếp tục công tác với cương vị Phó trưởng khu phố, tổ trưởng dân phố, tổ trưởng An ninh khu phố. Đến lúc này, mọi người thấy đúng là công việc đã chọn ông. Vị trí tổ trưởng An ninh và khu phố được ông phát huy sau nhiều năm kinh nghiệm ở quân ngũ được vận dụng rất khéo, được mọi người kính trọng, mến phục. Và ông cũng là “khắc tinh” của những đối tượng bất hảo, nghe tên ông, chúng không dám bén mảng vào địa bàn của ông quản lý, bởi ông nắm địa bàn, đối tượng rất chắc, xuất hiện bất kỳ lúc nào khi cần, một mình trong đêm lặng lẽ tuần tra không theo quy luật, với cái tên “Ông Năm trinh sát” đã trở nên quen thuộc.
 
Điều đặc biệt mà nhiều người đều biết (chỉ nội dung bên trong thì không ai được đọc) đó là cuốn sổ tay cũ, sờn gáy như vật bất ly thân mỗi khi đi họp, học tập. Ông chỉ tiết lộ lúc vui khi tâm sự: “Tôi ghi những sự kiện xảy ra của địa phương, những lời nói hay và không hay của mọi người. Rồi các nội dung cuộc họp, nghị quyết của Đảng bộ, chi bộ, của khu phố, khi nào cần thì sử dụng vào đúng lúc mình cần”…Tôi xin được chụp hình ông và cuốn sổ để kèm bài viết về ông nhưng ông khiêm tốn: “có gì đâu mà viết, mình chỉ làm những điều cần thiết thôi”. Chưa khi nào đi họp mà thấy ông nói chuyện riêng và không ghi chép. Rồi các cuộc họp khu phố, chi bộ, lúc thảo luận, chủ tọa và mọi người đều hướng về ông, và ít khi ông không phát biểu. Những lời thẳng thắn, mộc mạc, chân tình, góp ý, góp lời đều “trúng” ý của mọi người đang quan tâm. Năm 2008 có vụ việc tranh chấp đất đai tại địa bàn đã có kẻ xấu bị đụng đến quyền lợi của họ, khi ông can thiệp đã xô ông ngã, do sức đã yếu, không gượng được nên gây thương tích nặng cho ông, ông đã phải nằm viện và nghỉ công việc của khu phố từ đấy. Giờ đây vẫn bị ù tai và tím thái dương bên trái do cú xô ngã ấy. Tuy vậy, từ trước tới giờ, chưa một cuộc họp,  kỳ họp nào ông nghỉ, nếu có lý do đặc biệt, ông vẫn xin phép trước. Vậy mà nay, một số không ít đảng viên vừa nghỉ hưu, vừa rời chức vụ mà lúc đương chức họ còn “lớn tiếng” với cử tọa, với mọi người, nay vừa nghỉ hưu đã “khép kín” quan hệ xóm giềng, đồng chí. Đã làm đơn xin “miễn” sinh hoạt để “nghỉ ngơi” vì “hưu rồi, nói làm gì, nói ai nghe nữa”. Giả sử, vẫn còn chính sách cũ, về hưu vẫn giữ chức vụ gì đó thì chắc gì họ đã “hưu”, còn “tranh thủ” được khối việc.
 
Trở lại với ông Năm, trong đợt sinh hoạt chính trị lớn của Đảng ta là “Triển khai việc thực hiện nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI)” có đảng viên rỉ tai ông: “Mặc kệ họ, mình biết thân phận mình, ông nói làm gì, giải quyết được gì, đừng đụng đến mình là được” Ông đã thẳng thắn và từ tốn trả lời: “Sao lại mặc kệ, ông là đảng viên, tôi cũng là đảng viên, không thể để họ muốn làm gì thì làm, sai thì sửa, Bác Hồ đã dạy,Tổng Bí thư đã nói về công tác cán bộ, công tác tự phê bình và phê bình rồi, mình phải có trách nhiệm góp ý chứ, trước khi vào Đảng tôi và ông đều hứa rồi”.
 
Lời hứa với Đảng vẫn theo ông suốt cuộc đời để giữ trọn niềm tin và trách nhiệm với Đảng, với dân. Lời thề sắt son của một đảng viên bình dị ấy như nhắc nhở mọi người chúng ta hãy cùng xem lại chính mình.
                                                                                               Bá Đạt

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành