Ra trường, thầy giáo Đặng Xuân Thu, quê xóm Khánh, Xã Lương Phong, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, với tấm bằng tốt nghiệp của Trường Trung học Sư phạm 12+2 Hà Bắc năm 1993 là hành trang quý giá nhất để anh lên đường nhận công tác tại Trường Phổ thông cơ sở Sa Lý, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. (những năm ấy Sa Lý chỉ có một trường có hai cấp học). Từ ngày ấy, 16/9/1993 cho đến nay anh bám trụ ở một cơ sở đã tròn 20 mùa Xuân. 
 
                                                               
 
 Sa Lý cách trung tâm huyện lỵ gần 60km, 95% đồng bào là người dân tộc thiểu số (Sán Chí 65%, Tày 25%); giao thông đi lại cực kỳ khó khăn, đường đất, đầy “ổ trâu, ổ voi” mưa thì trơn, sạt lở, nắng thì bụi, qua bao dốc đèo, sông suối, vừa xa về địa lý, lại xa cả về khoảng cách dân trí. Đường xuống xóm bản chỉ là đường mòn, có xóm đến những năm gần đây như: Đồn, Đảng, Cây Lâm nhờ các chiến dịch làm đường giao thông do các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn cùng các đội Thanh niên tình nguyện phối hợp với nhân dân trong xã mở đường, nay xe máy có thể đi lại được. Ngày đầu lên nhận nhiệm vụ, được phân công dạy khu lẻ là xóm Trạm cách xa trung tâm xã. Cho đến nay, anh vẫn nhớ như in lời thầy hiệu trưởng của Trường là Nguyễn Thái Hoàng lúc bấy giờ: “Ngày mai, chú vào xóm Trạm, vận động học sinh đi học, nếu vận động được thì có lớp dạy…”(lúc này xóm Trạm là bản trắng học sinh). Nếu không có học sinh thì cũng có nghĩa là không có lớp và không hoàn thành nhiệm vụ. Thế là phải “vắt óc” tìm cách vận động, tiếp cận. Cái khó lúc bấy giờ là ngôn ngữ bất đồng. Những người cao tuổi ít nói được tiếng Kinh, Các cháu thì nói tiếng Kinh chưa sõi, khó cho việc vận động cũng như truyền thụ kiến thức. Theo chân bác trưởng thôn nhiều ngày, đến gõ cửa từng nhà, cuối cùng được 13 cháu độ tuổi từ 8 đến 13 tuổi ra lớp. Thế rồi, cứ sáng đi dạy học- gieo chữ, chiều theo trẻ lên nương- gieo hạt, tối dạy bổ túc i tờ. Tan học, lại cùng nhau đi bắt cua, ốc, trồng rau cải thiện đời sống…từng bữa. Lại khó khăn nữa, lớp học, bàn ghế, bảng đen…đều thiếu, phải học tạm tại chuồng nuôi dê cũ của nhà ông Trần văn Châu; thứ nữa là đồng lương 93 nghìn đồng, vừa quá ít về hưởng thụ, vừa không kịp thời, rất khó khăn cho việc chi tiêu, ăn ở, sinh hoạt cuộc sống hàng ngày. Khó khăn chồng lên khó khăn. Đèn dầu leo lét, không điện thoại, không ti vi, không người thân, tuổi trẻ chưa trải nghiệm cuộc sống; cũng vì thế, nhiều giáo viên ở Sa Lý lúc đó đã bỏ nghề, xin chuyển để làm việc khác. Nào phải như bây giờ, có sự “thu hút” ưu đãi cho giáo viên, lúc đó chỉ có “gió hút – đèo heo” mà thôi.
 
Lần hồi, khắc phục bằng cách “ba cùng” với bà con để có thêm củ sắn, củ khoai, bắp ngô. Tiến thêm bước nữa, các lớp học cũng được sắp xếp vào những  nhà tường chình bằng đất tối om từ những 1975, nhà nào còn nguyên vẹn thì nóc xiêu, cái thì thủng mái, cái thì mưa sói mất góc tường, cột kèo thì chống néo như cái bẫy…tường thủng, học sinh chui qua đùa nghịch. Nhà ở của giáo viên luôn nhìn thấy bầu trời. Đêm về, tiếng côn trùng rỉ rả, nếu mưa thì dậy thục ngói cho nước chảy đi chỗ khác (vùng đồng bào dân tộc có truyền thống lợp ngói âm-dương) nhà trống nhiều thì lấy phên nứa, phên tranh che vào cho đỡ lạnh… Quả là khủng khiếp và hãi hùng bởi khi đang học tại Trường Sư phạm đã nghe mọi người kháo nhau: “mai kia ra trường không “cẩn thận” sẽ được đi Sa Lý, Lục Ngạn công tác, nơi ấy “khỉ ho, cò gáy, rừng thiêng nước độc”…quả cũng không sai là mấy. Nhận quyết định, đấu tranh tư tưởng, anh vừa lo, vừa buồn; lo vì Sa Lý quá xa, chẳng biết nơi ấy ra sao, bạn bè cùng học của anh lúc đó cũng lắc đầu, mà rằng: “Có ngày đi, chưa chắc đã có ngày về”… Sau một ngày nằm trọ lại Lục Ngạn ở nhà bạn cùng lớp, cuối cùng anh vẫn quyết đi về nơi ấy. Sáng ngày 16/10/1993 cậu “Thanh niên còi” – Bí thư Chi đoàn của lớp K20O chỉ nặng khoảng 40kg, lọc cọc đạp xe lên Sa Lý. Dọc đường vừa đi, vừa nghỉ, ổi, sim hai bên đường là bữa đón anh lên với vùng cao.
 
Giờ đây, gặp anh, với vóc dáng rắn rỏi, da bánh mật, chắc nịch của một con người xuất thân từ gia đình nông dân nghèo, với bản tính cần cù, chịu khó đã giúp anh vượt qua nhiều khó khăn thử thách trên bước đường công tác. Vinh dự đầu tiên đến với anh, ngày 03/1/1996 anh được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Và, rồi những nỗ lực của anh đã được bù đắp, ngày 20 tháng 9 năm 1996 anh được bổ nhiệm chức vụ Phó hiệu trưởng của Trường PTCS. Ngày 21/6/2002, theo quyết định số 566/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn, tách thành hai trường: THCS và Tiểu học. Anh nhận trách nhiệm Hiệu trưởng Tiểu học Sa Lý từ đó. Khi Trường được tách năm 2002, Chi bộ Đảng lại ghép cả 3 trường. Đến năm 2004 được tách riêng thành Chi bộ trường Tiểu học và anh được bầu giữ chức vụ Bí thư Chi bộ. Từ đó, chi bộ Nhà trường phấn đấu nhiều năm đạt danh hiệu “Trong sạch-vững mạnh”. Tập thể Nhà trường được công nhận danh hiệu Lao động tiên tiến nhiều năm liền. Bản thân anh cũng nhận nhiều giấy khen của các ngành, các cấp.
 
 Vừa qua, trong niềm vui chung của Nhà trường đón nhận danh hiệu “Trường chuẩn Quốc gia”, với nơi khác là bình thường, nhưng với Sa Lý là một sự kiện chính trị -xã hội chưa từng có, một dấu ấn, một mốc son của sự nghiệp giáo dục nơi vùng cao, như một kỳ tích, nếu như không muốn nói như một điều phi thường khi nhìn lại chặng đường vừa qua. Trong niềm vui xốn xang, xúc động, anh tâm sự: “đến  bây giờ, có thể nói rằng đó là “cái duyên” gắn chặt tôi với vùng cao”. Còn lý do trụ vững, gắn bó, anh bộc bạch: “đâu chỉ có riêng mình; còn nhân dân, học sinh, họ cũng thiếu thốn đủ thứ mà còn phải chịu bao thiệt thòi; sinh ra và lớn lên nơi bốn bề núi non bao bọc, bao giờ các em mới được đi xa để biết đây, biết đó. Điện không, đường nhựa không, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu đủ thứ, thế mà các em ngày nào cũng lội suối, băng rừng trên đôi chân trần tím tái đến trường. Những giáo viên được Đảng, Nhà nước đào tạo phải sẵn sàng nhận nhiệm vụ những nơi như thế này. Nếu ai cũng “chạy”, cũng bỏ về nơi thuận lợi thì nơi đây sẽ nhường cho ai?…Mỗi khi tự an ủi bản thân và động viên đồng nghiệp thì bài hát “Một rừng cây-một đời người” của nhạc sỹ Trần Long Ẩn lại nhắc nhở, vang lên. Từ thực tiễn cuộc sống tạo nên bản lĩnh, ý chí, niềm tin, niềm yêu thương gắn bó tôi từ lúc nào đâu có hay. Lớp các em học sinh năm xưa vận động đi học, nay đã làm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên trường mầm non và cán bộ, công chức xã…đó có thể nói là “cái duyên”. Mà “cái duyên” là cái vô tình, mấy ai cố ý mà làm nên duyên. Tôi thấy mình may mắn vì nhờ có Sa Lý,  coi đây là quê hương thứ 2 đã tiếp thêm cho mình  nghị lực, khôn lớn và trưởng thành”.
 
Luôn thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ về “Trồng người” anh lại quyết tâm học hỏi, tự vươn lên, vừa học, vừa làm để cập với yêu cầu nhiệm vụ. Giờ đây anh đã hoàn thành chương trình Cao đẳng rồi Đại học Sư phạm và Trung cấp Lý luận chính trị.
 
 Lúc chia tay, tôi lấy máy ảnh ghi lại cặp vợ chồng thầy Đặng Xuân Thu cùng cô giáo Lương Thị Như Nguyệt với hai cháu Đặng Thanh Phương và Đặng Xuân Thanh. Cô giáo Nguyệt quê ở thành phố Bắc Giang, sinh năm 1978, tốt nghiệp lớp Sư phạm Nhạc-Họa của Trường Văn hoá- Nghệ thuật Bắc Giang năm 1999. Được phân công về dạy tại trường Tiểu học Đồng Cốc, huyện Lục Ngạn. Hai người nên duyên năm 2000. Vì sự nghiệp chung và tình yêu thương chồng, cô rời Đồng Cốc nơi vùng thấp theo chồng lên Sa Lý. Cháu Phương sinh mới được 02 tháng thì thầy Thu “tha” cả vợ con lên rừng. Đường thì chẳng ra đường, xe “Môkích ghẻ” hay trở chứng, ì ạch không thể leo núi, đành lóc cóc dắt díu nhau đi bộ…Duyên nghiệp và duyên tình đã hoà vào làm một, để thành một đôi uyên ương vùng biên ải, thật cảm phục và hiếm thấy.                          
 
Bá Đạt- 169, Minh Khai, TT Chũ, Lục Ngạn, BG.
 
 
 
       

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành