Tôi là một người sống và làm việc xa quê hương đã nhiều năm. Cũng như mọi người Việt Nam xa quê hương, trong tôi lúc nào cũng luôn có một nỗi nhớ quê hương đau đáu trong lòng. Và trong nỗi nhớ ấy, luôn có một nỗi nhớ về mái trường cấp 2 mà tôi từng học 4 năm, trường Năng khiếu Hiệp Hòa, nơi mà đã nhiều năm tôi không có cơ hội để thăm lại. Giờ đây, tôi và vợ (cũng là một cựu học sinh Hiệp Hòa học sau tôi) vẫn thường nói chuyện với nhau về những thầy cô của mái trường ấy.
Cách đây đúng 20 năm (năm 1993), tôi bắt đầu bước vào học lớp 6, trường Năng khiếu Hiệp Hòa mới bắt đầu thành lập được 2 năm. Lúc đó trường chỉ là những căn nhà cấp 4 lợp ngói núp dưới những bóng cây mà trước kia là trường Đảng của Hiệp Hòa, nên chúng tôi còn được gọi với cái tên khác là “dân trường Đảng”. Sau khi chúng tôi tốt nghiệp lớp 9, trường Năng khiếu Hiệp Hòa chính thức được xóa bỏ, và trường THCS Thị trấn Thắng được thành lập trên cơ sở trường Năng khiếu và trường được xây dựng lại khang trang và đẹp hơn xưa rất nhiều. Ngày ấy, trường chỉ có tất cả 8 lớp (mỗi khối có 2 lớp, chuyên Văn, chuyên Toán và tôi nằm trong lớp chuyên Toán), mỗi lớp cũng chỉ có khoảng 25 học sinh. Chung quy toàn trường khi ấy cũng chỉ có khoảng 200 học sinh đến từ nhiều xã trong toàn huyện Hiệp Hòa với một lượng thầy cô cũng không nhiều, và hầu hết họ đều là những thầy cô được chuyển từ cấp 3. Tôi có thể nhớ các thầy cô như thầy Bạn (Hiệu trưởng), thầy Thuyên, thầy Dũng, thầy Hùng, thầy Thắng, thầy Thước, cô Bính (dạy Toán), thầy Đang, thầy Thụy (dạy Vật lý), thầy Đường (dạy Hóa), cô Yến, cô Minh, cô Hợp, cô Lan, cô Hà, cô Loan (dạy Văn), cô Na, cô Loan (dạy tiếng Anh), thầy Tuyên (dạy Địa lý), thầy Thành (dạy Lịch sử), cô Lý (dạy Sinh học). Sau năm 2007, sau khi chấm dứt chế độ trường chuyên, nhiều thầy cô đã chuyển lên tiếp tục dạy ở cấp 3. Phải nói rằng thời đó từ học trò đến các thầy cô đều nghèo, nhưng tình cảm các thầy cô dành cho học trò thì quả là vô tư, hết lòng dạy dỗ. Tôi còn nhớ thầy Thước (dạy chúng tôi Toán năm lớp 7) tối tối đi đến từng nhà xem học sinh học ra sao, thầy Đang (dạy chúng tôi Vật lý năm lớp 7 đến lớp 9) mỗi tuần 2-3 buổi dạy bồi dưỡng đội tuyển vật lý không nhận một chút thù lao… Ngày đó cả huyện cũng chỉ có duy nhất một trường Năng khiếu Hiệp Hòa, học sinh được có một tấm thẻ học sinh chụp ảnh, ép plastic đeo trước ngực trông “rất oai” làm chúng tôi thật tự hào với các bạn khác. Vì thời đó là trường Năng khiếu huyện nên chúng tôi cũng được hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt từ huyện. Hàng tháng các lớp đều có thi xếp loại và 10 người xếp thứ hạng cao nhất sẽ được lĩnh học bổng, 3 người đứng đầu được mức học bổng cao nhất 30 ngàn đồng/tháng – là một số tiền không nhỏ thời đó, 3 người tiếp theo được lĩnh 20 ngàn/tháng và 4 người còn lại được học bổng 10 ngàn/tháng. Học bổng có lẽ là một trong những động lực không nhỏ làm học sinh chúng tôi thời đó thi nhau học tốt để giành thứ hạng cao. Mỗi dịp kết thúc học kỳ 1 (gần Tết nguyên đán) hoặc chuẩn bị nghỉ hè là dịp học bổng được phát, và chúng tôi lại có một chút tiền rủng rỉnh từ học bổng.

Tác giả bài viết và Nguyễn Văn Sơn (hai cựu học sinh chuyên Toán – Lý khóa 1993-1997 của trường Năng khiếu Hiệp Hòa xưa).
Trường thời đó mới thành lập nên nhỏ lắm, chỉ có vài lớp học với cái sân trường nhỏ nền đất thậm chí chật chội mỗi giờ chào cờ, còn văn phòng cho thầy cô cũng chỉ là căn nhà bé tí. Về sau bên cạnh trường được san ủi thành một sân bóng rộng cho học sinh tập thể thao và toàn bộ sân trường được lát gạch. Lớp tôi là lớp Toán, và cũng ưu tiên chọn về các môn tự nhiên (Vật lý, Hóa học) và có một điều thú vị là bất kỳ ai học đội tuyển thi học sinh giỏi Toán đều học luôn cả đội tuyển Vật lý. Và đó cũng là cái duyên của tôi với Vật lý. Thầy Nguyễn Đang là người đầu tiên trong đời đưa tôi đến với những nét đẹp của các hiện tượng và định luật vật lý, những bài học đầu tiên để sau này tôi vẫn luôn theo con đường của ngành vật lý, và hiện nay là một nhà nghiên cứu trong lĩnh vực vật lý. Nhưng không phải vì học chuyên toán lý mà tôi bỏ lỡ những bài giảng của các thầy cô dạy môn xã hội. Lớp chúng tôi luôn bị cuốn hút bởi những bài giảng văn của cô Yến, không hề màu mè, mà lại rất gợi mở với học sinh. Tôi không còn nhớ mình đã bao nhiêu lần đứng lên tranh luận với cô Yến về văn học, nhưng tôi biết cô cũng chưa từng khó chịu với tôi về điều đó. Cả trường năng khiếu lúc đó không thể quên thầy Tuyên giảng trước toàn trường về nhật thực toàn phần diễn ra ở Việt Nam năm 1995, lúc đó chúng tôi gọi thầy là “giáo sư địa lý Nguyễn Tuyên”… Hay khi lên lớp 8, chúng tôi bắt đầu học Hóa học, thì những thí nghiệm minh họa về phản ứng hóa học của thầy Đường – một giáo viên trẻ mới về khi đó, luôn cuốn hút chúng tôi. Thầy Thành luôn bắt đầu bài dạy sử bằng những dòng chữ tiêu đề đẹpVì mang danh “trường chuyên” nên nhiệm vụ “thi học sinh giỏi” luôn là ưu tiên hàng đầu của các học sinh trong trường. Trước mỗi đợt thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cả trường tưng bừng khí thế “ra quân” để chuẩn bị “chiến đấu” hết mình với bài thi. Nhưng có lẽ học sinh chúng tôi thời đó học không giỏi như các bạn trẻ bây giờ (và hình như cũng ham chơi hơn) nên thành tích thi học sinh giỏi không nhiều lắm. Một giải ba môn Vật lý cấp tỉnh có thể khiến cả trường phấn khởi, nhưng giành được cũng chẳng dễ dàng chút nào. Nhưng cũng thật may mắn, những lứa học trò đầu tiên (và cũng là cuối cùng) của trường Năng khiếu Hiệp Hòa khi đó lớn lên ra đời đều thành đạt, nhiều người đạt học vị cao (Tiến sĩ, Thạc sĩ…) và nhiều người trở thành những kỹ sư, bác sĩ giỏi, hay những doanh nhân thành công.
Ngô Đức Thế, cựu học sinh Trường Năng khiếu Hiệp Hòa khóa 1993-1997





Bình luận về bài viết này