Ở đất trám Hoàng Vân có một người nông dân yêu thơ, say thơ đến độ nồng nàn….Và đến mức anh đã tự lập ra cho mình cả một trang thơ riêng trên mạng. Trang thơ ấy có tên là Thơ Hồ Lã. Còn tên anh hiện nay là Lê Duy Lữ.

Anh Lê Duy Lữ ( Hồ Lã)

Anh Lê Duy Lữ nói, anh sinh năm Dần, tháng Dần, ngày Dần…nhưng chắc không phải giờ Dần….nên cuộc đời với anh vẫn còn nhiều chật vật. Nói thế rồi cười và cất lên những lời thơ tự bạch về đời mình, rất tự nhiên và cũng rất khác người, khi tôi và anh mới biết nhau có mấy tiếng đồng hồ trong ngày ra mắt tập thơ Hiệp Hòa của CLB thơ Việt Nam huyện Hiệp Hòa. Hôm ấy, nghe thơ anh, tôi như bị cuốn hút theo, như cảm thấy rằng mình đã biết, đã gặp con người này từ lâu lắm…thấy thân thiện và thấy thật gần:

Tuổi đã vào câu bóng xế tà

Già thì chưa đến, trẻ vừa qua.

Chiến chinh xưa đã tròn tình nước.

Công quả nay, chưa vẹn nghĩa nhà

Thân khỏe coi hơn ngàn phú quý.

Đời vui xem tựa vạn vinh hoa.

Chợ đời tuy vãn đi thường nhật

Chưa dám một lần ta bán ta !

( Tự bạch)

Bài thơ là lời tự giới thiệu về bản thân anh. Với nước, anh đã từng đến với Trường Sơn trong những năm đánh Mỹ, và khi giặc giã xong xuôi, anh được sang Trung Quốc học hành. Rồi nay trở lại quê hương làm bạn với người nông dân hai sương một nắng. Anh chứng kiến bao sự đổi thay của vạn vật của con người. Anh thích cuộc sống tự do phóng khoáng ngoài vòng danh lợi, anh nâng niu, trân trọng tình người và anh thấy không thẹn với lòng mình về những ngày đã sống:

Âu đành tóc bạc đã từ lâu

Trải nghiệm sau bao những dãi dầu

Đã thấy: non tan thành cát bụi.

Từng hay: biển cạn hóa nương dâu.

Tuổi cao sức lực bao mòn khuyết.

Chiều muộn, nghĩa tình mấy lắng sâu.

Tỳ vết không mang, lòng chẳng thẹn

Khi vầng nhật- nguyệt sáng trên đầu.

( Trải nghiệm)

Anh mượn thơ để tâm sự , để trải lòng về cuộc đời của mình, về tình nghĩa gia đình, làng xóm, bạn bè. Đọc thơ anh, ta phần nào hiểu được những gì sâu lắng ấy trong anh:

Trở về với mẹ quê hương

Đã xa mấy chục năm trường , đời con.

Trở về gặp lại cái còn.

Thương bao cái mất chưa tròn niềm mơ.

Trở về tìm lại tuổi thơ

Vương trên đồng ruộng bãi bờ bến sông.

Mát lành ơi! gió hương đồng

Tẩy trần, sau  những long đong phận đời…

( Trở về với mẹ quê hương)

Hoặc trong bài thơ Tự tình, anh nói về anh, về vợ anh, một người phụ nữ đảm đang, tảo tần lo toan sớm tối:

Nhà quê bao việc nặng nề

Vợ tôi tất tả liệu bề canh nông

Tôi làm mướn dọc triền sông

Mồ hôi chưa ráo đã không còn tiền…

Đọc câu thơ ấy, anh cười, và bảo nói quá lên một chút cho vui….thời vất vả với anh đã qua khá lâu rồi, giờ thì sống vui với bạn bè, anh em con cháu. Anh đến với thơ nhẹ nhàng như một mối lương duyên trời định. Vì thế cho nên anh tâm sự:

Tuổi chiều, tóc chửa thôi bay.

Còn mang nặng nợ, còn say men đời.

Cái  men đời làm anh say đa dạng lắm. Đó là cảnh chùa làng quạnh vắng, đìu hiu:

Hiên chùa lá sấu rơi vàng

Tam quan lặng lẽ mênh mang gió lùa

Ni cô phơi cải làm dưa…

Rưng rưng thương mảnh sân chùa đìu hiu…

( Chùa Làng)

Nỗi niềm riêng tới mức rưng rưng trước vẻ đìu hiu của mảnh sân chùa, hay là trước hình ảnh của người tu hành phơi cải làm dưa….không phải ai cũng có. Và anh cũng đau đáu nghĩ suy về chốn quê đã và đang thay đổi. Cái sự làng lên phố, giờ không còn là chuyện hiếm. Nó là lẽ thường tình. Mà anh vẫn thấy nao nao, nhớ về một cái gì đã và đang dần mất. Trong bài thơ ” Mai một hồn quê” của anh, ta nghe thấy tiếng thở dài, thấy nỗi trăn trở của anh trước những gì mà anh gọi là” hồn quê” đang dần mai một :

Cảnh quê phố mọc chen làng

Nhà tre, mái rạ cũ càng còn đâu.

Ruộng đồng cày máy thay trâu.

Chẳng còn con sáo đậu đầu cành tre.

Bặt đi tiếng quốc gọi hè

Ve sôi vườn cũ, nắng hoe hoe vàng.

Mỗi khi chiều xuống muộn màng

Ông già, bà lão ngắm làng….lặng thinh.

Còn cây đa, một mái đình.

Gồng mình, gắng giữ mảnh linh hồn làng.

Hai câu kết của bài thơ không phải chỉ là câu miêu tả, trình bày về sự nỗ lực tới mức” gồng mình”, gắng sức của cây đa, mái đình trong việc gìn giữ hồn quê. Mà qua cách nhân hóa này, người viết vừa nói lên hiện thực của việc gìn giữ vẻ đẹp hồn quê, vừa như gợi ra cho người đọc những nghĩ suy về trách nhiệm của cá nhân mình với quê hương, làng xóm. Thơ anh là như thế.Thơ anh là những gì được chắt lọc ra từ cuộc sống quanh mình. Thơ anh không chạy theo vần mà nó được sinh ra từ những xúc cảm chân thành sâu lắng, từ những chiêm nghiệm, suy tư của anh về cuộc sống, con người. Bởi thế đọc thơ anh và ngẫm nghĩ, ta sẽ thấy thú vị bởi có nhiều điều ẩn giấu trong những lời thơ bình dị của anh. Đúng như có ai đó đã nói rằng: thơ Hồ Lã là thơ đa nghĩa. Còn tôi thì cho rằng đấy mới là thơ. Chẳng hạn, một ví dụ nữa, trong bài thơ “Cổng làng”, anh đã có những phát hiện rất bất ngờ, thú vị:

Cổng làng, một góc làng quê.

Bao năm chứng kiến người về, người đi.

Mừng ai, người đã vinh quy.

Thương ai gối mỏi, thôi đi lại về.

Vẫn là nhân hóa. Cái cổng làng anh, làng tôi….đều thế cả. Ai lớn lên mà chả đi qua dưới cái cổng làng. Cổng công bằng, yêu thương tất cả mọi người. Người vinh quy thì mừng, kẻ quay về thì thương….cổng không phân biệt sang hèn, cổng không nịnh kẻ lắm tiền, khinh người nghèo khó.

Người quê tình nghĩa ngổn ngang.

Trời quê hương vẫn chang chang nắng vàng.

Ai về quê, dẫu cao sang

Ngựa xe đi dưới cổng làng mà thôi !

Hai câu cuối thật hay, thật đắt. Nó vừa nêu lên cái thực, cái quy luật tất nhiên của sự đời, lại vừa nói lên được cách nhìn, cách nghĩ của người quê. Xem ra, cái chuyện về quê cũng không hề đơn giản. Còn trong bài thơ ” Chợ làng”, anh không chỉ gợi ra, miêu tả về cảnh sinh hoạt, bán mua của một phiên chợ làng đầm ấm, mà anh còn cảm thấy ở đó là tình quê, tình người bền chặt:

Chợ làng tuần họp ba phiên.

Mẹ tôi đi chợ, không tiền cũng đi.

Mớ rau mua chịu cô, dì…

Tép tôm mua chịu người đi chợ làng.

Tình quê chẳng lụy hèn sang…

Thiệt hơn thì cũng lọt sàng xuống nia...

Và cũng từ chuyện về chợ làng, anh gợi ra cả một vấn đề về nhân tình, thế thái:

Việc đời bao chuyện hợp tan

Xưa nay ai thấy chợ làng vỡ đâu !

Câu thơ như đúc kết rút ra bao nhiêu là vấn đề trong cuộc sống. Chuyện thế giới đó đây, bao nhiêu quốc gia, cứ hợp tan, rồi tan hợp, bao nhiêu tỉnh, thành cũng có chuyện hợp- tan. Còn chợ làng- Tình làng, chẳng có nhiều luật lệ mà vẫn cứ vững bền, vẫn cứ trường tồn theo năm tháng. Vần thơ khiến người ta bâng khuâng, suy nghĩ rất nhiều.

Đêm Rằm tháng giêng, rảnh rang ngồi đọc tập thơ Hiệp Hòa ( tập 2) xuất bản năm 2012 của CLB Thơ Việt Nam huyện Hiệp Hòa, tôi càng thêm ấn tượng với Lê Duy Lữ. Một nhà thơ của làng quê, mộc mạc đấy mà cũng rất đằm thắm và thâm thúy đấy.

TRẦN THANH ( Viết trong đêm Nguyên tiêu- Nhân ngày Thơ Việt Nam)

 

 

 

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành