Ngày 10 tháng Giêng năm Quý Tỵ này, Cha tôi đi xa đã tròn ba năm. Ba năm tức là hơn một nghìn ngày Cha rời xa dương thế.
Có lẽ bây giờ tôi mới thấu hiểu được con số âm càng lớn thì càng nhỏ là như vậy. Nhưng thời gian có lùi xa thì trong tâm khảm của tôi, đã hơn một lần tôi dãi bày rằng: Cha tôi vẫn còn mãi, ông chỉ đi đâu đó thăm nhà hàng xóm, thăm các cụ trong hội cựu chiến sĩ Đại đội Địa phương quân Hiệp Hòa thời đánh thực dân Pháp,… rồi có lúc Cha sẽ lại trở về, lại nói, cười, âu yếm với đàn cháu nội ngoại.
Nói như thế có thể mọi người không biết sẽ tưởng rằng tôi nói quá, nhưng quả thật, Cha tôi cũng chỉ là một người bình thường: Xuất thân bần cố nông, lớn vào bộ đội, hết kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển ngành về một cơ quan tỉnh, rồi lại về địa phương tham gia công tác ở xã, hưởng chế độ hưu xã, về thôn lại tham gia công tác mặt trận thôn, rồi già yếu, bệnh tật và qua đời ở tuổi 82. Tiểu sử của ông chỉ vỏn vẹn có như vậy. Nhưng di sản ông để lại cho cháu con là rất đáng trân trọng, đó không phải bằng vật chất, mà là ở nhân cách con người ông, từ lời ăn tiếng nói, đến việc làm đều mẫu mực, và đặc biết là đức hy sinh vì nhiệm vụ được giao; lúc nào và ở đâu ông cũng không ngại khó khăn, gian khổ, luôn nhận phần thiệt cho mình, nhường thuận lợi cho người… Từ cháu con, đến dân làng, hay bạn bè thân hữu, ai nhắc đến ông cũng đều ngợi ca điều đó, cho nên những lời này không hoàn toàn do ý chủ quan của tôi – một đứa con chịu ảnh hưởng rất lớn từ người Cha kính yêu của mình.
Nhân ngày giỗ (kỵ nhật) thứ ba của Cha tôi, tôi mạo muội viết đôi lời và gửi tới bạn đọc Hiephoa.net “Bài văn tết khóc Cha” mà tôi đã mượn khuôn mẫu của lối văn tế cổ để viết nên và cung kính đọc trong lễ tang Cha tôi những mong có điều gì không phải thì bạn đọc lượng thứ!
Hà Nội, trước ngày giỗ Cha, 8 tháng Giêng năm Quý Tỵ
Nhà báo Nguyễn Hoàng Sáu





Bình luận về bài viết này