“Đánh nhau bát gạo, chào nhau ăn cơm”, xưa các cụ ta đã có câu này, đại ý nói có khi vì cái chuyện tranh chấp thứ vật chất này (bát gạo) mà thành ra xung đột (đánh nhau), nhưng cũng lại tỏ lòng thảo với nhau khi mời nhau dùng thứ cũng là vật chất (cơm). Cũng xưa nay, chuyện tranh chấp quyền sử dụng đất thời nào chẳng có, khi thời cơ chế thị trường, “tấc đất tấc vàng” thì lại càng nhiều. Nhưng có một điều không muốn nói, muốn viết mà tôi buộc phải nói phải viết, đó là nhiều lắm những câu chuyện tranh chấp quyền sử dụng đất của những người thân, thậm chí là máu mủ ruột rà…

1 – Gần mươi năm trước, lúc là Phó Tổng biên tập Báo Quân khu Một, có lần tôi nhận được lá đơn của ông T. – một công dân ở xã P. huyện Phổ Yên (Thái Nguyên) trình bày về việc bị Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên xử oan trong vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất với… con trai đẻ của mình! Tôi đọc đi đọc lại và thấy thật đau lòng. Báo Quân khu là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư lệnh và là tiếng nói của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh và LLVT Quân khu, nhưng người dân bị oan khuất mà gửi đơn đến Tòa soạn Báo Quân khu chứng tỏ họ đã gửi niềm tin vào cơ quan báo chí của quân khu sẽ “vào cuộc” để góp phần giữ nghiêm kỷ cương pháp luật. Tôi bàn với Nhà báo Trần Quyết – Tổng biên tập khi đó. Và chúng tôi thống nhất quan điểm: Báo Quân khu sẽ tiến hành điều tra, và nếu có đủ cơ sở tư liệu thì viết phóng sự đăng trên báo. Người thực hiện cuộc điều tra không ai khác, mà chính là tôi. Anh Trần Quyết nhấn mạnh: Nếu làm tốt công việc này, thì sẽ góp phần làm cho vị thế của Báo Quân khu Một tăng lên, được bạn đọc không chỉ trong LLVT mà nhân dân trên địa bàn cũng yêu mến, tin tưởng.
Lúc đó, tôi viết báo cũng đã gần chục năm, nhưng làm báo chuyên nghiệp thì còn chưa mấy kinh nghiệm. Lại chưa được học qua trường đào tạo cơ bản về báo chí. Nên xác định vào cuộc chắc chắn tôi sẽ gặp muôn vàn khó khăn, thậm chí nguy hiểm nữa. Tôi tự mầy mò “trang bị” cho mình nhiều thứ: các văn bản pháp luật về đất đai, về quyền và nghĩa vụ của nhà báo, các bài phóng sự điển hình của các nhà báo chuyên viết điều tra để học hỏi kinh nghiệm. Đồng thời nghiên cứu kỹ các tài liệu mà người gửi đơn gửi kèm. Khi đã thấy “ổn”, tôi quyết chí lên chiếc xe máy Cub 81 cà tàng tìm đường về Phổ Yên, xuống xã P. gặp chính quyền, các nhân chứng có liên quan để tìm hiểu. Xin không đi vào chi tiết nghiệp vụ, mà chỉ vắn tắt câu chuyện để bạn đọc đỡ nóng ruột…
Ông T. có hai con trai và ba con gái thì một con trai đã xây dựng gia đình, cho ở riêng, ba con gái đã đi lấy chồng, con trai út còn đang thực hiện nghĩa vụ quân sự. Diện tích đất ở của gia đình ông T rộng tới vài nghìn mét vuông, nằm trên trục đường liên xã. Vì chưa chia cho con (mới chỉ cho vợ chồng con trai cả ở tạm trên một góc vườn nhà), nên toàn bộ diện tích đất vẫn chỉ có một sổ bìa đỏ mang tên ông bà. Một hôm, thấy con trai mua vật liệu về tập kết tại vườn, ông bà T. hỏi thì anh này bảo để xây nhà. Ông bà T. bảo phải để bố mẹ họp gia đình phân chia cho các con đã thì mới được xây, vợ chồng anh con trai tuyên bố: Đã có sổ bìa đỏ tách đất rồi. Ông bà T. giật thót mình vì không hiểu nguyên cớ từ đâu mà anh con trai lại đã có sổ bìa đỏ. Tìm lại sổ thì mới biết trước đó khoảng hai năm, anh con trai hỏi mượn sổ bìa đỏ để thế chấp vay vốn ngân hàng mở xưởng mộc. Ông bà T. cho mượn rồi cũng chả đòi nữa, vì bố mẹ nào lại nghĩ con đẻ mình sẽ giở trò lật lọng. Ai ngờ, từ việc “mượn” này mà anh con trai “phù phép” các chữ ký giả để làm thủ tục tách đất, lập sổ mới mang tên vợ chồng anh ta. “Cuộc chiến” giữa một bên là vợ chồng anh con trai với một biên là ông bà T. cùng các con còn lại trở nên cực kỳ căng thẳng, thậm chí xảy ra cả những cuộc “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” rất đau lòng. Và khi mâu thuẫn đã vượt khỏi những cuộc đấu khẩu thì ắt sẽ phải đưa ra chính quyền, cao hơn nữa là đến Tòa án. Và lạ thay, sau những cuộc hòa giải bất thành ở UBND xã, đến Tòa án nhân dân huyện lại đưa ra kết luận xanh rờn: Phần thắng thuộc về vợ chồng anh con trai! Lẽ đương nhiên, phần thua thuộc về bên ông bà T., cha mẹ đẻ của anh ta. Vậy là ông bà T. và các con còn lại bắt đầu thấy hoang mang, không biết tin vào đâu nữa, bởi Tòa án là công lý rồi! Nhưng niềm tin mong manh đã thôi thúc ông T. làm đơn đề nghị Tòa phúc thẩm, rồi đến cơ quan báo chí (mà không ngờ Báo Quân khu Một lại là tờ báo vào cuộc nhanh nhất).
Sau hơn nửa tháng với cả thảy bảy lần trở về địa bàn xã P., trong tay tôi đã hòm hòm tư liệu để cho ra đời bài phóng sự điều tra “Vì mảnh đất, mất… tình thân” có độ dài gần 3000 từ. Nhưng số phận của nó cũng không hề đơn giản. Phải qua các lần duyệt rất khắt khe của Tổng biên tập, Thủ trưởng Cục Chính trị, rồi Chủ nhiệm Đinh Thế Hòa cứ băn khoăn khi ngồi nói chuyện với tôi rằng: “Sự thật thì như vậy, nhưng báo ta in ra có nên không, hay là chuyển cho Báo Thái Nguyên họ đăng?”. Tôi thêm một lần khẳng định sự trung thực trong việc điều tra, xử lý thông tin và viết bài, chịu trách nhiệm trước pháp luật, kỷ luật quân đội về việc làm của mình, nhưng Chủ nhiệm bảo: “Mình rất tin cậu, nhưng nên đưa cho Tư lệnh Quân khu xem và cho ý kiến thì hơn”. Thế là lại môt tuần chờ đợi. Rồi cuối cùng tôi cũng nhận được bản thảo bài báo với chữ của Tư lệnh đề ở góc trên: “Đồng ý! Chú ý kiểm tra chặt chẽ trước khi đăng!”.
Báo Quân khu Một số ra tuần ấy dành cả trang 8 để đăng bài phóng sự điều tra của tôi, kèm ảnh ông bà T. với khuôn mặt nhàu nhĩ vì buồn đau cho cuộc tranh chấp đau lòng!
Khỏi phải nói về hiệu ứng xã hội của bài báo khi đó. Với các báo khác, một bài phóng sự điều tra được đăng là sự bình thường, nhưng Báo Quân khu Một, một tờ báo tuy có bề dày hơn sáu chục năm xây dựng và phát triển, nhưng bài thuộc thể loại này hầu như chưa có, nếu không muốn nói là chưa từng có! Và không chỉ riêng tôi – tác giả hồi hộp chờ phản hồi của dư luận mà có lẽ cả Tòa soạn, đặc biệt là Tổng biên tập Trần Quyết cũng vậy. Và đúng là có chuyện thật…
Khoảng hai tuần sau kể từ khi báo phát hành, một buổi chiều tôi bất ngờ nhận được điện thoại, đầu dây bên kia là Trưởng phòng Bảo vệ – An ninh Quân khu. Ông thông báo, ở Viện quân y 91 vệ binh phát hiện và giữ một người phụ nữ dán tờ rơi có nội dung: Nhà báo NHS nhận 30 triệu đồng để viết bài báo có lợi cho bên ông T. Và ông bảo tôi rằng, nếu “có vấn đề gì” thì nói trước với cơn quan bảo vệ! Tôi hơi tự ái bởi điều này, và khảng khái khẳng định: Tôi điều tra và viết bài tuân thủ đúng quy định của pháp luật, kẻ nào nói và viết như vừa nêu là một hành vi bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của nhà báo, tôi đề nghị phải làm rõ, có thể tôi sẽ đưa ra tranh tụng tại Tòa án!
Và để bạn đọc không phải mất thêm thời gian nghe tôi diễn giải, tôi tóm lại thế này: Vụ án tranh chấp sau đó đã được Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử lại và đưa ra kết luận ngược lại với kết luận trước đó của Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên! Tức là ông T. – người bố thắng! Công lý đã được trả về đúng nghĩa của nó. Báo Quân khu Một đã có công tạo ra một dư luận xã hội để bảo vệ lẽ phải. Và tôi cũng đưa vụ vu khống tôi ra Tòa án Quân sự khu vực Quân khu 1 (nhưng sau đó tôi chuyển công tác về Hà Nội, bị đơn là kẻ đã trốn khỏi nơi cư trú, nên tôi rút đơn để không mất thời gian theo đuổi vụ việc này bởi nếu kẻ đã vu khống tôi đã trốn chui trốn lủi như vậy thì đủ biết là kẻ tư cách như thế nào rồi!).
Có điều, trắng đen đã rõ ràng, song cái sự thắng thua ở đây đều rất đau lòng và hậu quả thì còn lâu đã dứt điểm được. Liệu bao giờ mới nối lại được tình cảm cha con mà gia đình này đã tạo ra một cái hố ngăn cách cực lớn? Câu hỏi này day dứt đau nhói trong tim bao người!
*
2 – Cuối năm Nhâm Thìn, tôi lại lần nữa nhận được cuộc điện thoại của cô giáo cũ người xã Thanh Vân từng dạy tôi hồi tôi là học sinh Trường PTTH Hiệp Hòa số 1. Mấy hôm sau cô gửi tôi cả bộ hồ sơ về việc cô làm đơn xin (đòi) lại 11 thước ruộng (264 m2) do UBND xã Thanh Vân chia cho cô từ năm 1992 để thờ cúng Liệt sĩ Nguyễn Văn Nguyên (anh trai cô đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước), cho gia đình người anh họ mượn để canh tác. Vậy nhưng sự việc không đơn giản như thế, mà hai bên đã đôi co (người bảo có, kẻ bảo không) để dẫn tới việc cô phải gửi đơn đi các cấp chính quyền nhờ xử lý. Sau khi xem xét toàn bộ vụ việc qua những tư liệu mà cô giáo cũ cung cấp, tôi thấy lo lo cho cô sẽ bị vào thế bất lợi bởi cái việc giao đất cho nhau mượn là kiểu giao… tình cảm anh em, chả có giấy tờ gì làm bằng. Vậy nên tôi cứ nghĩ đi nghĩ lại rằng, cái vụ việc này rồi cũng chả biết sẽ đi đến đâu, bên bảo cho mượn cứ đòi, bên được cho là mượn thì lúc bảo có lúc bảo không. Có lẽ chỉ có lương tâm mới trả lời cho đúng cái sự có hay không này được! Và rồi cũng sẽ có bên thắng, bên thua. Thắng cũng chả vẻ vang gì. Mà thua thì cũng đâu dễ gì chấp nhận! Vậy là lại thêm một lần tôi được thấy cái niềm đau sau cuộc tranh chấp quyền sử dụng đất…
Khép lại bài viết tản mạn dông dài này, tôi xin bạn đọc cho phép tôi được mượn câu của người xưa để chêm vào câu thơ con cóc đọc lên cho đỡ nặng nề giữa những ngày xuân đất Việt:
“Hòn đất mà biết nói năng
Thì ông đã chẳng khăng khăng nhận vào
Tôi thì cũng chả thể nào
Mà đòi ông được một hào nửa xu
Tôi không dại, ông chẳng ngu
Thắng thua rồi cũng… “an cư” dưới mồ
Lương tâm bé bỏng lắm ư
Cái tình cái nghĩa biết bao giờ… lành đây
Đời người chiếc lá thu bay
Sống sao cho đáng những ngày dương gian…”.
Chắc sẽ có người bảo: Ông này nói dở, hòn đất mà biết được ai phải ai không phải thì đã chả đến lượt ông đi viết phóng sự điều tra, chính quyền và Tòa án đã chả phải đứng ra phân xử những tranh chấp đất đai như thế…Thì tôi đã nói trước rồi, chuyện buồn này tôi cũng có muốn kể ra đâu…
Hà Nội, ngày áp Tết Quý Tỵ
Nhà báo Nguyễn Hoàng Sáu





Bình luận về bài viết này