Sinh ra và lớn lên tại “Làng Đỏ”(huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang), 73 năm theo Đảng làm cách mạng, mùa xuân này ở vào tuổi 86, ông vẫn ngày đêm trăn trở nghĩ về Đảng, về Đất nước, nặng lòng với nông dân, mong muốn tổ chức Đảng các cấp thực sự phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của dân, coi trọng sự giám sát của dân, để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Ông Nguyễn Thanh Quất, nguyên Ủy viên Trung ương, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Bắc
Tôi gọi “ông” Nguyễn Thanh Quất với tấm lòng kính trọng vị lão thành cách mạng kiên trung, Trưởng ty Nông Nghiệp đầu tiên của tỉnh Hà Bắc. Ông sinh ra tại làng Vân Xuyên, xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, một trong những địa danh được gọi là “Làng Đỏ”, tên gọi thân thương, cao quý, thể hiện ý chí kiên trung, bất khất, một lòng, một dạ, bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng của người dân nơi đây. Hòa mình trong phong trào yêu nước, đuổi Nhật, đánh Tây, ông sớm được giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng, 13 tuổi ông được giao nhiệm vụ liên lạc, đưa đón cán bộ, chuyển công văn, tài liệu, truyền tin, cảnh giới cho các cuộc họp của cán bộ Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ. Tháng 1-1945, làng Vân Xuyên thành lập đội tự vệ võ trang bán thoát ly đầu tiên của huyện Hiệp Hòa, ông được cử làm Đội phó. Trong một lần đi làm nhiệm vụ, dù chỉ có một khẩu súng trường và một quả lựu đạn nhưng ông đã dũng cảm, tổ chức đội hình chiến đấu, bắn bị thương tên chỉ huy của địch, khiến bọn chúng khiếp sợ. Tự vệ làng Vân Xuyên, Hoàng Vân đã đánh phá đồn Trị Cụ, đồn Chã, ngày 1 tháng 6 năm 1945 tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền huyện về tay nhân dân. Cách mạng tháng Tám thành công, ông chính thức thoát ly gia đình, tham gia kháng chiến và một năm sau, khi vừa tròn 18 tuổi, ông vinh dự trở thành người đảng viên Cộng sản.
Những ngày đầu về nhận công tác tại Ty Nông Nghiệp, tôi được nghe nhiều người nhận xét về ông, một cán bộ lãnh đạo tỉnh trẻ tuổi, năng động, đi sâu đi sát cơ sở (*), nhưng mãi đến năm 1968, tôi mới được gặp ông. Năm ấy, Ty Nông Nghiệp được tách ra thành 3 ty, thêm 2 ty: Ty Chăn nuôi-Thú y và Ty Thủy Sản. Tôi được đồng chí Phó Trưởng ty Chăn nuôi-Thú y phân công viết báo cáo về tình hình phát triển chăn nuôi lợn, chuẩn bị cho hội nghị tổng kết do UBND tỉnh tổ chức. Đây là một trong 4 mũi nhọn L (Lúa – Lang – Lạc – Lợn) mà nghị quyết của Tỉnh ủy đề ra. Một hôm, đồng chí Phó Trưởng ty bảo tôi đem theo dự thảo báo cáo cùng đi sang Ủy ban Hành chính tỉnh (sơ tán tại xã Việt Lập, huyện Tân Yên) để duyệt. Ông trực tiếp nghe và cho ý kiến. Gần 30 tuổi, mới ra trường, lần đầu tiên được gặp và trình bày báo cáo trước một cán bộ lãnh đạo tỉnh, tôi vừa cảm thấy vinh dự, vừa hồi hộp, lo lắng. Trước khi biên tập báo cáo này, tôi đã có dịp nghiên cứu và “3 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) ở một số trại chăn nuôi tập thể, tiếp cận, quan sát những vấn đề nảy sinh và cách giải quyết của từng cơ sở, nên tôi cũng tự tin ở những trang viết. Ngay từ giây phút đầu tiên nhìn tướng mạo của ông, vóc người to cao, khuôn mặt quắc thước, lại đeo kính trắng, nhưng ánh mắt nhân từ, cử chỉ thân mật, gần gũi, vừa chăm chú nghe tôi đọc báo cáo, vừa góp ý tỉ mỉ. Tôi thầm cảm phục ông về những ý kiến ngồn ngộn hơi thở từ thực tiễn cuộc sống. Phải là người tâm huyết với công việc, gắn bó, lăn lộn với cơ sở, với nông dân mới có thể có những nhận định vừa khái quát, vừa cụ thể và rút ra được bài học, đề ra được những chủ trương mà mấy năm sau đó tôi càng thấy tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống.

Ông Nguyễn Thanh Quất ( thứ 2 bên phải) trong Lễ khởi công xây dựng cổng làng Vân Xuyên
Sau này, tôi có may mắn được trực tiếp phục vụ ông gần 21 năm, khi ông đã là Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh, rồi Bí thư Tỉnh ủy, tham gia BCH Trung ương Đảng. Là cán bộ lãnh đạo phụ trách khối nông- lâm- nghiệp trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại của Mỹ ngày càng ác liệt, thiên tai liên tiếp, nhất là úng lụt, cơ sở vật chất- kỹ thuật nghèo nàn, trình độ canh tác còn lạc hậu, nhiều lần ông đã thổ lộ những suy nghĩ, những trăn trở, mong muốn của ông là đầu tư vào những công trình thiết thực, làm giảm bớt thiệt hại của thiên tai, giúp bà con nông dân và nhân dân trong tỉnh, bớt đi sự vất vả, nhọc nhằn, giảm được cơ cảnh nghèo đói, dó đó trong chương trình công tác hằng tháng ông đều dành nhiều thời gian cùng chiếc xe gat 69, vượt qua những con đường cấp phối gồ ghề, đầy nắng gió, bụi bặm, nhiều khi phải sắn quần, đẩy xe qua những con suối cạn nhấp nhô những tảng đá cuội, đến với đồng bào các dân tộc thiểu số, ăn, ngủ ở các bản làng heo hút vùng Dương Hưu (huyện Sơn Động), Tứ Sơn (Lục Ngạn) hoặc cùng cán bộ địa phương, cơ sở đi bộ hàng mấy cây số để chỉ đạo xử lý “ẩn họa” trong những triền đê sông Đuống, sông Cầu, sông Thương; có khi ngồi bệt đầu bờ ruộng cùng nông dân bàn cách chống rét cho mạ, cho lúa; sát cánh cùng cán bộ kỹ thuật, lội ruộng thăm đồng, từ đó tổng kết những kinh nghiệm cả kỹ thuật và quản lý, để chỉ đạo ra toàn tỉnh. Những điển hình trong nông- lâm- nghiệp của Hà Bắc như cải tạo đất bạc mầu ở Trung Hòa (Hiệp Hòa), quê hương Anh hùng lao động Nguyễn Thị Song; phát triển cây đỗ tương ở Tân Mộc (lục Ngạn), quê hương Anh hùng lao động Lý Lỏi Sáng; thâm canh lúa ở Yên Lã (Tiên Sơn), chăn nuôi lợn tập thể ở Thanh Phương (thị xã Bắc Ninh), hợp tác xã măng non Phú Mẫn chăm sóc trâu bò được Hồ Chủ tịch gửi thư khen… có công sức không nhỏ của ông.
Ông là một trong những cán bộ lãnh đạo biết nghe, biết đánh giá, sử dụng cán bộ kỹ thuật, trong cuộc gặp mặt cựu cán bộ Nông nghiệp Hà Bắc, đầu tháng 11 năm 2012, tại thành phố Bắc Ninh, ông nói: “Đối với tôi, anh chị em cán bộ kỹ thuật nông nghiệp là những người thầy”, trên thực tế, trong 15 năm phụ trách khối Nông nghiệp-lâm nghiệp-thủy sản, ông luôn luôn coi họ là “thầy”, trân trọng những đề suất của họ, hiểu biết năng lực, hoàn cảnh và cả cá tính của từng người, nhất là những cán bộ quản lý cấp phòng, trạm, trại và cán bộ kỹ thuật phụ trách từng lĩnh vực; gần gũi, thân thiện, khuyến khích họ phát huy mặt mạnh, chân thành khuyên bảo họ sửa chữa những khiếm khuyết, giúp họ rèn luyện phấn đấu trong hoạt động thực tiễn, không phân biệt là đảng viên hay không phải là đảng viên, do đó ông được đông đảo cán bộ kỹ thuật nể phục, quý mến, (kể cả những vị nhiều tuổi hơn ông, được đào tạo bài bản tại các trường “Tây”, từ trước Cách mạng tháng Tám), coi ông như người “Anh cả” trong ngành nông nghiệp Hà Bắc. Sự cộng hưởng hai chiều đã giúp ông hiểu biết cặn kẽ hơn về khoa học-kỹ thuật nông lâm nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho nhiều cán bộ kỹ thuật ngành Nông nghiệp trưởng thành, được Đảng, Nhà nước giao đảm nhiệm trọng trách của tỉnh và lãnh đạo ban, ngành của Trung ương, tiêu biểu là các đồng chí nguyên Ủy viên Trung ương Đảng: Mai Thúc Lân, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, Đỗ Bình Dương, nguyên Tổng kiểm toán Nhà nước; Giáo sư, Tiến sỹ, Anh hùng Lao động Trần Hồng Uy; Ủy viên Trung ương Đảng Nguyễn Quốc Cường, Chủ tịch Hội Nông Dân Việt Nam;…
Trong số cán bộ lãnh đạo chủ chốt tỉnh Hà Bắc, ông là người bắn bó và gần gũi với nông nghiệp, nông thôn nhiều năm, hiểu và thông cảm với nỗi niềm của nông dân, nên luôn luôn ủng hộ những đổi mới phù hợp với thực tiễn, có lợi cho nông dân, đáp ứng được nguyện vọng của nông dân. Khi Đảng và Nhà nước chủ trương “khoán 10”, “khoán 100”, ông là một trong những người tích cực hưởng ứng và và chỉ đạo triển khai thực hiện, mặc dù biết rằng người lãnh đạo cao nhất của tỉnh lúc đó không mặn mà với chủ trương này. Ông đã cùng tập thể cấp ủy, chính quyền chỉ đạo giải quyết nhiều vấn đề lớn ở địa phương, khắc phục và kiềm chế tác hại của thiên tai, địch họa, nhất là các vụ vỡ đê Cống Thôn (huyện Tiên Sơn), Nhất Trai (huyện Gia Lương), sự cố đê Nội Doi (thị xã Bắc Ninh), đê Ba Tổng (Yên Dũng)…là những sự kiện ảnh hưởng nhiều mặt đến dân sinh, xã hội. Một số chủ trương như Đường goòng Đồng Tiến-Bến Nhãn, công trường phù sa Quế Võ, khai thác vàng sa khoáng Lục Ngạn, đánh số trâu bò, giao đất 5% của xã viên cho hợp tác xã quản lý…do người lãnh đạo cao nhất của tỉnh đề suất, nhiều cán bộ, đảng viên băn khoăn về lợi ích kinh tế và tính khả thi, nhưng không dám nói ra, ông đã chân thành trao đổi với Bí thư Tỉnh ủy, thẳng thắn, trình bày chính kiến của mình và phản ánh dư luận của cán bộ, đảng viên, quần chúng với Ban Thường vụ, với Tỉnh ủy. Việc thể hiện quan điểm cá nhân trái với ý kiến của lãnh đạo cấp trên trực tiếp, nhất là người đứng đầu thường là việc không dễ dàng, nhưng ông không chọn sự “an toàn” cho bản thân mà tìm mọi cách hạn chế những hệ lụy của những việc làm đó đối với đời sống nhân dân, với uy tín của cấp ủy, chính quyền tỉnh và bảo đảm giữ gìn sự đoàn kết.
Khi đương chức và nhiều năm sau ngày nghỉ hưu, hai ông, bà-hai vị lão thành cách mạng, vẫn sống khiêm tốn trong căn nhà cũ, ở một ngõ nhỏ thuộc phường Tiền Giang, mấy năm gần đây, có chính sách của Đảng, Nhà Nước, ông bà mới chuyển ra ở khu đất mới thuận tiện hơn cho cuộc sống người già. Mùa xuân này, ông Nguyễn Thanh Quất đã qua tuổi 85, vừa phải gồng mình vượt qua căn bệnh hiểm nghèo, ông vẫn theo sát thời sự đất nước, dõi theo từng bước phát triển của Bắc Giang, Bắc Ninh, tâm huyết với Đảng, với đất và người Kinh Bắc. Trả lời phỏng vấn của báo chí về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, ông tâm sự những băn khoăn, trăn trở từ mấy năm nay: “ Đảng ta lấy tự phê bình và phê bình là một trong những nguyên tắc để xây dựng Đảng, nhưng nhiều nơi còn buông lỏng, làm chiếu lệ, xuê xoa, hời hợt cho xong chuyện nên kỉ cương, kỉ luật không nghiêm. Sở dĩ như vậy là do cá nhân né tránh khuyết điểm của bản thân và đồng chí, dẫn đến tình trạng bằng mặt nhưng không bằng lòng. Do cách làm như thế nên cán bộ, đảng viên cứ tưởng mình chẳng có khuyết điểm gì, làm nhiều điều sai trái, bất chấp kỉ cương, pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân”. Ông mong muốn mỗi cán bộ, đảng viên “Phải đấu tranh với chính mình, làm tốt mình rồi mới làm tốt cho đồng chí mình. Phải phát huy dân chủ thật sự trong Đảng…công khai những ưu điểm, khuyết điểm trước nhân dân, lắng nghe họ đóng góp ý kiến, coi trọng sự giám sát của nhân dân. Nếu có dư luận quần chúng về đảng viên thì đảng viên đó phải giải trình, báo cáo với chi bộ và cấp trên để làm rõ”.
*
Thời gian miệt mài trôi qua, mỗi người một số phận, một hoàn cảnh, hầu hết cán bộ quản lý, kỹ thuật nông nghiệp Hà Bắc trước đây đều đã nghỉ hưu, có người đã trở về với cát bụi, nhưng ai nấy đều quý mến ông, một lão thành cách mạng kiên trung, một cán bộ lãnh đạo gần dân, thấu hiểu cảnh cơ hàn của dân, hết lòng vì nông dân, người “Anh cả” của cựu cán bộ Nông Nghiệp tỉnh Hà Bắc./.
Hồng Minh
——————————-
(*) Năm 31 tuổi ông là Tỉnh ủy viên, 33 tuổi là ủy viên Ban Thuờng vụ Tỉnh ủy Bắc Giang (ông đã từng giữ các chức vụ chính trị viên Huyện đội, Tỉnh đội; Bí thư Huyện ủy Hiệp Hòa, Việt Yên, Lạng Giang, Bí thư Tỉnh Đoàn, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy;). 15 năm trực tiếp phụ trách nông, lâm nghiệp, 10 năm làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh, 6 năm làm Chủ tịch UBND tỉnh và 9 năm làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Bắc. Đại biểu Quốc hội khóa VII (1982-1987), Ủy viên BCH Trung ương Đảng, khóa VI (1986-1991). Người bạn đời cùng tuổi-Bà Ngô Thị Cầu cũng là lão thành cách mạng, sinh ra trong một gia đình có 3 anh em là lão thành cách mạng.
——————————
Địa chỉ liên hệ: Hồng Minh, Nguyên Chánh Văn phòng Tỉnh ủy Hà Bắc.
Số nhà 105, phố Nguyễn Huy Tưởng, thành phố Bắc Ninh
Điện thoại 20413822782, 01673866136.





Bình luận về bài viết này