Chỉ sau cuộc điện thoại không lâu, “lão Quềnh” đã phóng xe máy từ “làng văn công” Mai Dịch đến “khu Phố Lính” để cùng chúng tôi nhâm nhi chén rượu “cuốc lủi”. “Tưởng người nổi tiếng khó mời, thế mà bác ấy cũng dễ tính nhỉ!”. – Anh bạn đồng nghiệp thoáng thấy “lão Quềnh” đã ghé tai tôi bảo vậy. “Tớ nhận được điện là đi ngay chứ không chần chừ. Gì chứ ngồi với cánh lính tráng là tớ thích lắm!” – “Lão Quềnh” cười hềnh hệch khi cất xe vào rìa ngõ và tháo mũ bảo hiểm giơ cái đầu hói ra, khiến bất kỳ ai cũng phải ngó và… cười.
 
 
Ảnh: Tác giả và “lão Quềnh”
 
Cậu bé làng cười Văn Lang mơ thành nghệ sĩ
 
Hán Văn Tình tuổi Gà (1957), quê làng cười Văn Lang (Tam Nông – Phú Thọ). Bố là cán bộ trên tỉnh, mẹ làm ruộng ở quê, Tình ở nhà với mẹ từ thuở bé, có lẽ vì thế nên cái chất hài hài như ngấm vào máu anh vậy. Lúc bé, cậu bé Tình mê nghe hát đến quên ăn. Chả có chương trình sân khấu truyền thanh, hay buổi dạy hát nào trên Đài Tiếng nói Việt Nam mà cậu không áp tai vào mà nghe, rồi ghi chép, rồi học theo. Đi chăn trâu, làm đồng, cứ lúc rảnh là Tình lại gõ nhịp và tập hát. Dù không nói ra, nhưng trong lòng cậu bé Tình vẫn nuôi một khát vọng được trở thành nghệ sĩ biểu diễn trên sân khấu. Lên lớp bảy, Tình vẫn còi lắm, cao chưa đầy 1,4m, nặng có hơn ba chục cân, “tay xách nhẹ”. Ấy vậy mà cậu lại làm được cái việc “không tưởng”, ấy là dám dự tuyển và đỗ vào Trường đào tạo Sân khấu ở Hà Nội. Vì “đỗ vớt” nên mãi đầu năm 1973 cậu mới được gọi nhập học, trong khi bạn cùng khóa đã học được mấy tháng. Tự bắt xe ô tô từ Phú Thọ xuống Hà Nội, trong lòng Tình vừa khấp khởi vui, vừa lo lo, rất khó tả. Nhà cách Thủ đô có bảy chục cây số, nhưng với cậu, vào phố phường Hà Nội như đang lạc vào một thế giới khác. Hà Nội lúc ấy vừa trải qua cuộc chiến đấu oanh liệt với “siêu pháo đài bay” B-52 của đế quốc Mỹ, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không” lịch sử, nhiều khu hoang tàn đổ nát chưa được khắc phục. Nhưng Hà Nội vẫn đẹp và thơ mộng trong con mắt của cậu trò miền trung du lần đầu được đặt chân đến, và mẩm bụng rằng sẽ gắn bó lâu dài với nó. Tình ngơ ngác bước chân vào trường, vừa học văn hóa cấp ba, vừa học nghệ thuật sân khấu. Được phân vào học bộ môn tuồng là ngoài tầm suy nghĩ của anh. Nhưng ngày ấy, tuồng, chèo, hay cải lương, cũng đều là những bộ môn nghệ thuật được yêu thích, nên dù chưa một lần thử hát tuồng, Tình vẫn rất thích và ham học. Bốn năm miệt mài vừa học vừa… lớn, chàng trai làng cười Hán Văn Tình đã tốt nghiệp và thỏa nguyện ước mơ thành nghệ sĩ, dù anh ý thức được rằng, chặng đường nghệ thuật của mình sẽ không hề bằng phẳng…
 
“Gã đầu trọc” diễn tuồng, rồi đóng phim, diễn hài…
 
Ra nghề, Hán Văn Tình về Đoàn tuồng Trung ương (nay là Nhà hát tuồng Việt Nam) và “mối lương duyên” đó đã gắn cuộc đời làm nghệ thuật của anh cho đến tận bây giờ, kể cũng ngót bốn chục năm. Lúc khăn gói về nhận việc, cố Đạo diễn NSUT Đoàn Anh Thắng ngó qua khuôn mặt và vóc dáng nhỏ thó, mái đầu hói, cộng với chất giọng khàn khàn của Tình, đã giao ngay cho anh vai gã đồn trưởng trong vở diễn “Không còn đường nào khác”. Tình thử vai và làm được, khiến đạo diễn hài lòng, rồi anh diễn hết mình. Lại nói về cái đầu hói của anh, thực ra nó đã bị “mất tóc” trên đỉnh đầu từ năm 12 tuổi. Sau đấy anh cũng đi nhiều viện khám, xét nghiệm, mà chả tìm được nguyên nhân gì. Hồi năm 1985, vào vai Lý Đại Hỷ trong vở diễn “Hoàng hôn đen”, vai này buộc anh phải “hy sinh” phần tóc còn lại, tức là cạo trọc không còn một sợi. Cái đầu trọc ấy anh vẫn duy trì đến tận giờ… 
Đất diễn cho tuồng ngày càng hẹp. Những loại hình giải trí khác đã dần chiếm ưu thế, khiến những vở tuồng kinh điển “Triệu Đình Long cứu chúa”, “Nghêu Sò Ốc Hến”, “An Tư công chúa”, “Tình mẹ”,… đã không còn mấy người mặn mà nữa. Nhưng với nghệ sĩ trẻ Hán Văn Tình, được diễn là diễn hết mình. Anh lý giải, nghiệp diễn tuồng anh và bao đồng nghiệp đã đeo đuổi không thể cân đo đóng đếm được, đó là niềm đam mê, hạnh phúc qua từng buổi luyện tập “đổ mồ hôi, sôi nước mắt”, qua những đêm diễn dù không nhiều khán giả. Đồng lương, thù lao bây giờ thấp lắm, tuồng cũng như các loại hình nghệ thuật truyền thống khác đều chịu chung sự thiệt thòi mà người ta bảo là “chưa ráo mồ hôi đã hết tiền”. Hán Văn Tình là một người năng động, ngoài diễn tuồng, đóng phim, tham gia quảng cáo, làm MC truyền hình và thậm chí làm cả các việc lao động chân tay như sửa xe, bơm vá… mà anh vẫn chưa…  thoát nghèo. Hiện “tổ ấm” của anh vẫn sống trong căn nhà cấp bốn xập xệ tại Đình Quán, Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội. Hằng ngày, anh vẫn đi làm bằng chiếc xe máy cà tàng. 
 
Cơ duyên đến với màn bạc như một sự ngẫu nhiên, khi một lần xem biểu  diễn tuồng, Đạo diễn điện ảnh Lưu Trong Ninh đã “phát hiện” ra anh sẽ rất hợp với điện ảnh, nên mời anh tham gia bộ phim truyện nhựa “Canh bạc” với vai lão Trọc. Rồi Đạo diễn Trần Đắc lại mời anh vào vai Vàng Đọ trong bộ phim truyện nhựa “Vụ áp phe Đông Dương”. Khác hẳn với cái mộc mạc, chân  chất ngoài đời, Hán Văn Tình trở nên gian ngoan, xảo trá trong các vai phản diện, mà đây chính là điều mà anh đã  làm hài lòng các đạo diễn, và  tất nhiên, công chúng nhớ đến anh cũng nhờ các vai diễn này. Có bạn đồng nghiệp còn bảo, Hán Văn Tình đã phá vỡ cái “kị dơ” của diễn viên tuồng với màn bạc, bởi trước anh,dường như chưa có một nghệ sĩ tuồng nào “nhảy sang” lĩnh vực này mà “nên cơm, nên cháo”.
 
Đã bước sang “nghệ thuật thứ bảy”, Hán Văn Tình không ngần ngại khi đạo diễn Nguyễn Hữu Phần mời anh vào vai Chu Văn Quềnh trong bộ phim truyền hình dài tập “Đất và người”. Cầm trên tay bản phân vai, anh cố gắng nhập tâm và để chuẩn bị, anh lặn lội về quê, nghe và xem cái không khí, con người ở làng quê thời bây giờ dù anh cũng từ đây mà lớn lên. Rồi ra cửa hàng sách mua cuốn “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường (phim được chuyển thể từ tiểu thuyết này) về nghiền ngẫm. Và rồi Hán Văn Tình “nhập hồn, nhập cốt” vào cái lão Quềnh điên điên khùng khùng tựa như “Chí Phèo” thời nay, để “lão Quềnh” đi vào lòng khán giả cả nước, mà một thời từ thành thị tới nông thôn cứ ngồi đâu  người ta cũng bàn tán về “Đất và người”, về anh. Vai diễn để đời ấy khiến anh bị khó khi nhiều đạo diễn muốn mời anh tham gia phim này phim nọ mà lại băn khoăn rằng anh khó thoát được cái bóng của “lão Quềnh”. 
 
“Mình rất muốn được diễn cho bộ đội và đồng bào biên giới, hải đảo…”
 
Chưa một lần vào quân ngũ, lại luôn “bị” đóng vai phản diện, ấy vậy mà Hán Văn Tình lại  đã từng vào vai bác Mùi – anh “nhọ đít” trong bộ phim truyện nhựa “Hoa ban đỏ”, được bộ đội rất tán thưởng bởi sự hóm hỉnh, hài hước của “bác Mùi” dù câu chuyện phim diễn ra trong cảnh mưa bom bão đạn, gian khổ hy sinh. Rồi một kỷ niệm khó quên khiến anh suýt… chết đuối khi đóng phim “Đứa con người lính”. Có cảnh quay anh phải bơi qua sông, đang giữa dòng thì bất ngờ đứt dây an toàn và bị luc cuốn phăng may mà anh biết bơi và bơi tốt từ thời chăn trâu, nên thoát hiểm. Hán Văn Tình càng cảm thông chia sẻ với những khó khăn, nguy hiểm mà người lính dù thời chiến hay thời bình phải gánh chịu. 
 
Đã nhiều lần cùng đoàn biểu diễn (Nhà hát Tuồng Việt Nam) đi diễn ở các địa bàn vùng sâu vùng xa như Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Nghệ An, Thanh Hóa,… Khu vực miền Nam Trung bộ và đồng bào Tây Nguyên. Đến đâu bà con cũng đến xem và hỏi chuyện có người đứng từ xa không dám đến gần, họ không tin vào mắt mình có “ông Quềnh” người thật việc thật. Bà con còn nghèo khó mà cứ tha thiết kéo các diễn viên về từng nhà, mang thịt khô, cơm nếp, rượu men lá ra tiếp đãi. Mỗi lần như thế lại khiến anh chị em diễn viên tuồng thêm yêu đời, yêu nghề hơn… Có đơn vị bộ đội cũng quá yêu mến nghệ sĩ nên chỉ huy đơn vị đã phải mời vào phòng khách để trò chuyện. Có bận đi diễn ở vùng sâu vùng xa nhất là vùng cao biên giới, được gặp các anh bộ đội, được biết tâm tư tình cảm của các anh đang ngày đêm giữ gìn bình yên cho đất nước, các anh thiệt thòi về đời sống tinh thần nhiều lắm. Hán Văn Tình cũng hứa với các anh nếu điều kiện cho phép sẽ đến vùng sâu vùng xa để phục vụ các anh.
 
Trò chuyện với cánh lính tráng chúng tôi ở “khu Phố Lính” buổi trưa ấy, “lão Quềnh”- Hán Văn Tình cứ nhắc đi nhắc lại lời đề nghị rằng, nếu có cơ hội kết nối cho anh gặp “các bác có trách nhiệm” để đề đạt nguyện vọng được mang đoàn (anh là Đoàn trưởng Đoàn 2) của Nhà hát tuồng đi đến với các đơn vị nơi biên giới, hải đảo, biểu diễn phục vụ bộ đội và nhân dân. Anh cười hềnh hệch và lại trầm tư, bảo: “Ở những nơi đô hội, người ta ồn ào chen lấn nhau vào xem ca nhạc, thời trang với những âm thanh “hoành tráng” chát chúa, chứ mấy ai chịu vào nhà hát tuồng, chèo xem cái “ư ử” “í i”. Ấy vậy mà đến với nhân dân và bộ đội vùng biên giới, hải đảo, các nghệ sĩ tuồng chúng tớ lại như được thấy giá trị đích thực của mình, cuộc sống như chậm lại và lắng sâu…”.
 
Nhà báo Nguyễn Hoàng Sáu
 

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành