TIẾP TỤC ĐỔI MỚÍ, PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN VÀ VỮNG CHẮC, XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG NGÀY CÀNG GIÀU ĐẸP (2000-2010)

1. Phát triển kinh tế – văn hóa xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng:

Từ năm 2000, nhân loại bước vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ III là thời điểm chuyển giao của lịch sử, đan xen những kỳ vọng tốt lành cùng với những nguy cơ tiềm ẩn.Đất nước sau 15 năm đổi mới đã giành được những thành tựu to lớn. Song cũng còn nhiều khó khăn, thách thức. Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa, với vị thế của một huyện Anh Hùng; nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc những mục tiêu nhiệm vụ do Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX (3/1996) đề ra; vững vàng tiến vào giai đoạn cách mạng mới với niềm tin và sức mạnh mới.Trong hào khí chung của dân tộc, cùng với những sự kiện trọng đại của đất nước – Đảng bộ Hiệp Hòa phấn khởi tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XX từ ngày 26 đến 28/11/2000, nhằm khái quát chặng đường 15 đổi mới, tổng kết công tác nhiệm kỳ XIX (1996-2000), đánh giá đúng thực trạng của Hiệp Hòa, rút ra những kinh nghiệm quý báu cùng những bài học thành công và chưa thành công, kiện toàn về mặt tổ chức, đủ sức lãnh đạo Đảng bộ và nhân dân, vươn lên trong chặng đường tiếp theo. Tham dự Đại hội có 171 đại biểu chính thức thay mặt cho 5.548 đảng viên của Đảng bộ Hiệp Hòa. Đại hội XX có ý nghĩa lịch sử và chính trị đặc biệt – là tiếng nói chung, là ý chí và nguyện vọng, là sức mạnh tổng hợp, là mốc son lớn của Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa sau 55 năm (1945-2000) xây dựng và trưởng thành, khi bước vào thế kỷ XXI, thiên niên kỷ thứ III. Với tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc, thẳng thắn, dân chủ, đúng quy định của Điều lệ Đảng và chỉ đạo của Tỉnh ủy, Đại hội lần thứ XX đã thành công tốt đẹp!

Sau khi đánh giá đầy đủ, cụ thể kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIX (nhiệm kỳ 1996-2000) trên tất cả các lĩnh vực, Đại hội đã kết luận “5 năm qua Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa đã nỗ lực phấn đấu khắc phục những khó khăn, đạt được những thành tựu quan trọng. Sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội ổn định và có bước tăng trưởng đáng kể. Nhiều chỉ tiêu Đại hội đề ra đã đạt và vượt kế hoạch. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Cơ sở vật chất, kỹ thuật và kết cấu hạ tầng được tăng cường. Tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đã có bước phát triển. Đời sống nhân dân ổn định và được cải thiện rõ rệt. An ninh quốc phòng được giữ vững. Hoạt động của hệ thống chính trị có bước chuyển biến tích cực và vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng được củng cố và tăng cường. Quy chế dân chủ được triển khai, thực hiện bước đầu có kết quả, lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được nâng lên”.Bên cạnh những ưu điểm, những kết quả cùng những thành tựu đạt được mang tính cơ bản và quyết định, Đại hội cũng chỉ ra những khuyết điểm, yếu kém, đó là: “Một số mục tiêu, chỉ tiêu Đại hội đề ra đạt thấp như:  Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sản xuất hàng hóa còn  chậm, kết cấu hạ tầng chưa  đồng bộ và vững chắc,  khai thác các nguồn vốn đầu tư,  ngân sách còn hạn hẹp. Tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề phát triển chậm. Kỷ cương pháp luật thực hiện chưa nghiêm, tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp. Đại hội khẳng định: “Những thành tựu trên xuất phát từ đường lối đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo toàn diện và có hiệu quả của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã phát huy nội lực, vận dụng sáng tạo, cụ thể hóa đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước vào hoàn cảnh cụ thể ở địa phương, khắc phục khó khăn và thách thức, khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của huyện, khơi dậy và phát huy sức sáng tạo của đông đảo nhân dân…”. Và “Những khuyết điểm, yếu kém đó là do …. Nền kinh tế ở huyện ta còn khó khăn, điểm xuất phát thấp, điều kiện tự nhiên không thuận lợi, ngân sách và vốn đầu tư còn thấp…”; “Năng lực lãnh đạo của một số cấp ủy, chính quyền chưa ngang tầm nhiệm vụ …; việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, nghị quyết Đại hội ở các cấp, các ngành còn hạn chế… ; năng lực đội ngũ cán bộ nhìn chung còn hạn chế, chưa vươn lên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ CNH-HĐH”.Đại hội lần thứ XX đã đề ra nhiệm vụ, mục tiêu tổng quát cho Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa thực hiện trong 5 năm tới – nhiệm kỳ 2000-2005, đó là: tiếp tục “Phát huy mọi nguồn lực vật chất và tinh thần, tranh thủ thời cơ thuận lợi, khắc phục khó khăn, phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt từ 6 đến 7% năm. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đưa tỷ trọng nông nghiệp từ 81% đến 83%, trong đó lâm nghiệp và cây ăn quả từ 5 đến 7%, tiểu thủ công nghiệp từ 8 đến 10%, thương nghiệp dịch vụ từ 10 đến 12%. Phấn đấu đạt tổng sản lượng lương thực quy thóc từ 93.000 đến 94.000  tấn, bình quân lương thực đầu người từ 450kg đến 460kg/năm. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng chỉnh đốn Đảng, tăng cường công tác chính quyền, đoàn thể, phát triển văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng. Phấn đấu không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 5%, từng bước hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trên địa bàn huyện…”.

Đại hội thông qua bản “Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 1996-2000, phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu nhiệm kỳ 2000-2005”. Bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 33 đồng chí, tại kỳ họp thứ nhất, Ban Chấp hành đảng bộ đã bầu Ban Thường vụ gồm có 11 đồng chí, đồng chí Dương Ngô Cầu được bầu làm Bí thư Huyện ủy. Đại hội bầu đoàn đại biểu gồm 23 đồng chí tiêu biểu đi dự Đại hội  Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XV.Đại hội XX đã khái quát cơ bản bức tranh toàn cảnh huyện Hiệp Hòa sau 55 năm (1945-2000) xây dựng và trưởng thành. Đồng thời phác họa nên được khuôn mẫu hình ảnh chân dung huyện Hiệp Hòa ở vào 5 năm đầu thế kỷ XXI, thiên niên kỷ thứ III và làm nền cho những năm tiếp theo. Thực hiện nhiệm vụ nặng nề nhưng rất vẻ vang, cán bộ đảng viên và nhân dân trong toàn huyện vững tin vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, hứa hẹn một thời kỳ phát triển mới, thành công mới.

     Sau Đại hội, các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thông tin tuyên truyền diễn ra sôi nổi, rộng khắp để chào mừng thành công của Đại hội. Các chi, đảng bộ trực thuộc, các ban ngành đoàn thể, tổ chức thông báo nhanh kết quả Đại hội, xây dựng chương trình hành động, cụ thể hóa các nhiệm vụ, phát động phong trào thi đua, quyết tâm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Đại hội đề ra.

Tháng 4/2001, diễn ra Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Đại hội đã thông qua những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.

Đó là những sự kiện chính trị to lớn, quyết định sự phát triển của từng địa phương cũng như sự phát triển chung của đất nước.

Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI, tổ chức từ ngày 16 đến ngày 18/10/2005 với 225 đại biểu, đại diện cho 6.900 đảng viên, sinh hoạt tại 69 chi đảng bộ trực thuộc. Đại hội khẳng định: ”Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX, Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã phát huy truyền thống đoàn kết, không ngừng đổi mới sáng tạo, nỗ lực phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức hầu hết các mục tiêu chủ yếu mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX đã đề ra. Nổi bật là: Nền kinh tế có bước tăng trưởng khá. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển toàn diện; công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ có bước phát triển khá. Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân, xóa đói giảm nghèo, thực hiện chính sách xã hội, giải quyết việc làm đạt nhiều kết quả và tiến bộ. Đời sống nhân dân ổn định và được cải thiện rõ rệt. An ninh quốc phòng được giữ vững. Hoạt động của hệ thống chính trị có chuyển biến tích cực; vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, công tác quản lý điều hành của các cấp chính quyền được củng cố và tăng cường. Quy chế dân chủ được triển khai, thực hiện có kết quả, lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được nâng lên”. Bên cạnh những ưu điểm và thành tựu, Báo cáo chính trị trình tại Đại hội cũng chỉ rõ những khuyết điểm hạn chế là: “Phát triển kinh tế chưa vững chắc, mức tăng trưởng còn thấp so với tiềm năng, đốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, sức cạnh tranh còn yếu; sự nghiệp giáo dục – y tế văn hóa, xã hội phát triển chưa đồng bộ, chất lượng hoạt động chưa cao; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp; công tác xây dựng Đảng có mặt làm chưa tốt, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở chưa ngang tầm nhiệm vụ; công tác quản lý điều hành của chính quyền các cấp trên một số mặt còn hạn chế; công tác dân vận, hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân ở một số nơi, trên một số mặt hiệu quả chưa cao”.Đại hội đã nhất trí cao phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu và các giải pháp thực hiện Nghị quyết Đại hội. Trong đó chú trọng 5 chương trình phát triển kinh tế, xã hội trọng tâm trong 5 năm 2006-2010 là:

1. Chương trình phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn.

2. Chương trình phát triển sản xuất háng hóa.

3. Chương trình xây dựng và phát triển văn hóa – thông tin.

4- Chương trình phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề nâng cao nguồn nhân lực và xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã.

5. Chương trình giảm nghèo.

Năm 2006, bổ sung chương trình về xây dựng chuẩn quốc gia về y tế theo chỉ đạo của Tỉnh.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XXI, nhiệm kỳ 5 năm (2005-2010) gồm có 37 đồng chí, Ban Thường vụ 11 đồng chí; đồng chí Hoàng Sỹ Thành được bầu làm Bí thư Huyện ủy.

Giữa năm 2007, đồng chí Hoàng Sỹ Thành được tỉnh ủy luân chuyển lên tỉnh nhận công tác mới, đồng chí Trần Văn Lộc, Tỉnh ủy viên, Phó bí thư Huyện ủy – Chủ tịch UBND huyện được bầu làm Bí thư huyện ủy. Đồng chí Nguyễn Tiến Cơi được Tỉnh ủy luân chuyển về làm Phó Bí thư Huyện ủy thay đồng chí Nguyễn Văn Kỳ, Phó Bí thư Huyện ủy được bầu làm Chủ tịch UBND huyện.

Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXII họp từ ngày 17 đến ngày 19/8/2010, có 237 đại biểu, thay mặt cho hơn 7.200 đảng viên, sinh hoạt tại 70 tổ chức cơ sở đảng trong huyện về dự.

Báo cáo chính trị tại Đại hội đã chỉ rõ: “5 năm qua (2005-2010) Đảng bộ và nhân dân trong huyện nêu cao tinh thần đoàn kết, phát huy truyền thống quê hương cách mạng Anh hùng, phát huy nội lực, phấn đấu hoàn thành khá toàn diện các mục tiêu nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI đề ra. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm vượt chỉ tiêu đề ra, cao hơn mức bình quân chung của tỉnh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội tiếp tục được tăng cường. Sự nghiệp văn hóa – xã hội, giáo dục – đào tạo có chuyển biến tiến bộ. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; bộ mặt nông thôn, đô thị có nhiều đổi mới. Tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; quản lý điều hành của  chính quyền được tăng cường; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy. Hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân được nâng lên”.Sau khi nêu lên những kết quả, những thành tựu đạt được, Báo cáo chính trị tại Đại hội XXII cũng nghiêm túc chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm cơ bản là: Tỷ trọng công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu kinh tế (18,6%); phần lớn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh của sản phẩm yếu… sản xuất nông nghiệp còn manh mún, chưa có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa điển hình và chậm được nhân ra diện rộng; việc đưa cơ giới hóa và áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất hạn chế. Đầu tư và thực hiện quy hoạch, sự phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Còn xảy ra vi phạm về quản lý tài chính, đất đai, nợ đọng trong xây dựng cơ bản. Việc giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều khó khăn; quản lý tài nguyên môi trường còn hạn chế… năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng và vai trò tiền phong gương mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên còn yếu…

Đại hội đã đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2015, sau đây là một số mục tiêu chủ yếu:

– Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân từ 13%-15%. Trong đó: Công nghiệp – xây dựng 36%-38%; Thương mại – dịch vụ tăng 19%-21%; Nông nghiệp – thủy sản tăng 6%-8%.

– Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp xây dựng 28%-30%. Thương mại – dịch vụ 30%-32%. Nông nghiệp – thủy sản 40%-42%.

– Giá trị sản xuất bình quân trên 1ha đất canh tác đạt từ 65 triệu – 70 triệu đồng/năm.

– Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2,3%-3%/năm.

– Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt TSVM từ 70% trở lên.

 Đại hội lần thứ XXII đã bầu ra Ban Chấp hành đảng bộ, gồm 45 đồng chí, 13 đồng chí được bầu vào Ban Thường vụ Huyện ủy, đồng chí Nguyễn Tiến Cơi được bầu làm Bí thư Huyện ủy.

Trong chặng đường 10 năm (2000-2010) với 3 kỳ đại hội, dưới ánh sáng của các nghị quyết Trung ương, nghị quyết của Tỉnh ủy, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện, với sự phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo, đảng bộ và nhân dân trong huyện đã thu được những thành tựu to lớn.

Sản xuất nông nghiệp có mức tăng trưởng khá: Năm 2010 so với năm 2000 sản lượng lương thực tăng hơn 14.000 tấn (lúa), giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 200 tỷ đồng, lương thực bình quân đầu người tăng gần 100kg/người/năm; sản lượng cây ăn quả chủ yếu tăng trên 1.000 tấn; trong chăn nuôi đàn bò tăng hơn 8.600 con, đàn lợn tăng gần 19.000 con, đàn gia cầm tăng trên 734.000 con; đặc biệt trong chăn nuôi có sự đầu tư tốt về giống, vốn, khoa học kỹ thuật nên sản lượng thịt hơi gia súc gia cầm tăng vượt bậc – gần 14.000 tấn; riêng về thủy hải sản có giá trị tăng vọt 48 tỷ đồng, tương đương 7 lần năm 2000.Sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu xã hội và thị hiếu người tiêu dùng. Đẩy mạnh khuyến nông khuyến ngư, đầu tư giống vốn, bảo vệ thực vật, xen thâm canh cây con, luân canh mùa vụ, áp dụng khoa học kỹ thuật, nâng cấp hệ thống kênh mương, đường giao thông, cải tạo ruộng đồng, liên kết liên doanh, bao tiêu sản phẩm. Huyện ủy, UBND huyện tập trung chỉ đạo sát sao “Chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa giai đoạn 2006-2010”. Đến năm 2010, toàn huyện đã có gần 100% diện tích đất canh tác được gieo trồng bằng các giống lúa lai, ngắn ngày, năng suất, chất lượng cao, trở thành nông phẩm ưa chuộng của thị trường trong nước và xuất khẩu. Trong huyện hình thành những khu đồng chuyên canh sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Thu nhập bình quân 1ha/năm đạt 53 triệu đồng (tăng 23 triệu so với mục tiêu đề ra). Đã có trên 500 trang trại và gia trại (trong đó 360 trang trại đã được cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại); 30 hộ nuôi lợn siêu nạc từ 50 đến 100 con hoặc lợn nái ngoại sinh sản; hàng trăm hộ nuôi lợn siêu nạc có từ 100 con trở lên; nhiều hộ nuôi từ 1.000 đến 10.000 con gia cầm siêu thịt, siêu trứng. Mô hình VACTD (vườn, ao, chuồng, thương mại, dịch vụ) mở rộng quy mô thành những trang trại tổng hợp cho thu nhập hàng trăm triệu đồng 1 năm/1 trang trại và đang được nhân rộng trong huyện… Tổng doanh thu từ các trang trại đạt 100 tỷ đồng/năm và cũng đang trong xu hướng tăng nhanh… Nhiều loại cây, con đặc sản được chăn, trồng, thả, tạo cảnh quan môi trường xanh – sạch – đẹp, đáp ứng kịp thời nhu cầu xã hội, góp phần giàu đẹp cho quê hương Hiệp Hòa .Cùng với nhịp độ tăng trưởng trong nông nghiệp, sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp là lĩnh vực luôn được coi trọng trong quá trình phát triển “Công nghiệp hóa – hiện đại hóa” của nền kinh tế nhằm triệt để khai thác thế mạnh trong huyện về đất đai và nhân lực, hòa nhịp với sự phát triển chung của các vùng miền, làm đòn bẩy mạnh cho mọi hoạt động khác cùng vươn lên. Huyện ủy và UBND huyện đã tích cực triển khai, quán triệt tổ chức thực hiện từng bước các nghị quyết, chủ trương chính sách của Trung ương, của tỉnh về phát triển công nghiệp – TTCN ngành nghề nông thôn. Huyện có chính sách ưu tiên ưu đãi, có quỹ hỗ trợ khuyến công, khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào huyện, xây dựng và mở rộng cơ sở sản xuất. Do vậy, tốc độ và quy mô doanh nghiệp trên địa bàn tăng nhanh. Nếu như 5 năm (2000-2005) mới có 13 doanh nghiệp với số vốn 200 tỷ đồng đầu tư, tạo thành 2 khu công nghiệp (Thị trấn và Đức Thắng) – thì đến năm 2010 toàn huyện đã có 185 doanh nghiệp với tổng số vốn đầu tư lên tới hàng nghìn tỷ đồng – hình thành 4 cụm công nghiệp (Thị trấn Thắng  –  Đức Thắng;  Lương Phong  –  Đoan Bái, Danh Thắng – Hùng Sơn; Hợp Thịnh – Đại Thành); 6 điểm công nghiệp, điển hình như khu công nghiệp thử nghiệm ô tô Việt Nam tại xã Hùng Sơn, trạm biến áp 500kV và 110kV, đường dây 500kV Quảng Ninh – Hiệp Hòa…. Riêng năm 2010 có 30 doanh nghiệp mới được thành lập. Dự án khu công nghiệp Châu Minh – Mai Đình được phê duyệt rộng tới 207ha và có số vốn đầu tư lên tới 1.580 tỷ đồng – là dự án lớn nhất từ trước đến nay – mang tầm vóc khu vực Đông Nam Á – góp phần thúc đẩy nhanh, mạnh, vững chắc kinh tế, xã hội Hiệp Hòa phát triển. Trong đó, trực tiếp là tiểu thủ công nghiệp và những ngành nghề nông thôn – vốn là lĩnh vực có ưu thế và tiềm năng của Hiệp Hòa.

 

Vị trí địa lý thuận lợi – phía nam giáp Bắc Ninh, Hà Nội là những thị trường lớn để liên kết và tiêu thụ sản phẩm; phía bắc giáp Thái Nguyên – nơi cung cấp nguyên vật liệu vô tận. Dân số đông và có nhiều làng nghề truyền thống. Trong cơ chế mới, Huyện ủy, UBND huyện và cấp ủy, chính quyền cấp xã luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để khôi phục và phát triển những ngành nghề truyền thống, đào tạo tay nghề, phát triển ngành nghề mới như sản xuất đồ nhựa, ươm tơ, khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, đồ mộc, nề, sửa chữa cơ khí, sơn mài, chế biến lương thực thực phẩm, may mặc, sản xuất bia hơi, mây tre đan xuất khẩu, trồng nấm… Số hộ gia đình và đơn vị sản xuất tiểu thủ công nghiệp tăng nhanh. Số lao động tham gia cũng nhiều hơn. Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020, đã hoàn thành việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề tổng hợp thôn Trung Hưng (xã Mai Trung) – một mô hình mới đầu tiên trong huyện ra đời.

Điều quan trọng là tốc độ tăng trưởng khá cao – tăng trung bình 30%/năm và hầu hết các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp đều do các cá thể và tiểu chủ xây dựng, quản lý, điều hành, phát huy cao độ tính linh hoạt, năng động sáng tạo, ứng biến với thị trường, đem lại lãi suất cao và quay vòng vốn nhanh. Hơn nữa, hoạt động công nghiệp – thủ công nghiệp tận dụng được số lao động dư thừa trong nông nghiệp.

Thương mại – dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ đắc lực cho công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp phát triển. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) và sự chỉ đạo của Tỉnh, Huyện ủy đã tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển đồng bộ. Trọng điểm là các khu vực Phố Hoa, Bách Nhẫn, Lữ, Gia Tư, Thái Sơn, trong đó Thị trấn Thắng – Đức Thắng là trung tâm lớn nhất huyện. Mở rộng các chợ xã ở Thanh Vân, Xuân Cẩm, Hợp Thịnh, Mai Đình, Lương Phong, Hòa Sơn, Danh Thắng… tạo thành hệ thống chợ nông thôn, thị tứ, các điểm tập trung thương mại – dịch vụ đa dạng và sôi động, cung ứng kịp thời cho nông dân sản xuất và sinh hoạt.

Mạng lưới viễn thông bưu chính đã được mở rộng và nâng cấp, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, phục vụ tốt cho kinh tế – an ninh, quốc phòng. Năm 2010 toàn huyện có 28.067 máy, bình quân 10 máy thuê bao cố định và 0,6 thuê bao Internet/100 người dân.

Hoạt động của tổ chức Tài chính – Ngân hàng – Tín dụng có nhiều tiến bộ. Công tác kiểm tra, giám sát luôn được chú trọng thực hiện tốt chức năng kiểm soát ngân sách, quản lý tiền mặt trong lưu thông. Bảo đảm nguyên tắc thu chi, sử dụng đúng mục đích, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Chất lượng dịch vụ ngân hàng được đổi mới, tạo thuận lợi cho người sử dụng đồng vốn vay. Số lượng huy động vốn cũng không ngừng tăng lên – (từ các nguồn vốn Trung ương, tỉnh, huyện, doanh nghiệp nước ngoài và của tư nhân). Số dư nợ của hệ thống ngân hàng tăng bình quân 32%/năm – cơ bản đáp ứng nhu cầu tiền mặt phục vụ hoạt động xây dựng và phát triển ngày càng tăng trong huyện. Năm 2000 vốn xây dựng cơ bản là 9,6 tỷ đồng, năm 2001 là 16,2 tỷ, năm 2005 là 26,6 tỷ và năm 2010 lên tới 117,5 tỷ đồng. Cơ sở hạ tầng điện – đường – trường – trạm và các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, bảo hiểm, phúc lợi xã hội… đều được nâng cấp hoặc xây mới theo hướng hiện đại hóa, văn minh, tiến bộ.Nhận thức rõ tầm quan trọng của hạ tầng cơ sở, muốn phát triển toàn diện và bền vững, cùng với nguồn vốn và sự giúp đỡ từ bên ngoài, huyện mỗi năm chi khoảng 2 tỷ đồng để thúc đẩy phong trào cứng hóa đường giao thông nông thôn và kênh mương nội đồng. Kết quả đến năm 2010, toàn huyện đã có 100% tổng chiều dài hệ thống giao thông đường bộ được cứng hóa. Trong đó trên 560km đường liên thôn, liên xóm; trên 190km kênh mương, 120km các tuyến đường liên huyện, liên xã. Đặc biệt đã nâng cấp hệ thống đê bối, bảo đảm chống úng vùng hạ huyện. Hệ thống công trình thủy lợi sông Cầu đang được nâng cấp – trong đó 21km mặt đê sông Cầu thuộc địa phận Hiệp Hòa (53%) đã được bê tông hóa, rải cấp phối… Các trục đường giao thông chính như quốc lộ 37 (14km qua Hiệp Hòa), tỉnh lộ 295 (22km), 296 (9km) đang được mở rộng và nâng cấp, việc đi lại và giao thông vận tải ngày càng thuận lợi với khối lượng tăng nhanh: lưu lượng hành khách năm 2000 là 45.000 người, năm 2005 là 162.000 người và năm 2010 là 1.227.000 người; vận chuyển hàng hóa năm 2000 là 147.000 tấn, năm 2005 là 227.000 tấn và năm 2010 là 893.000 tấn… Khối lượng vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy cũng tăng mạnh – năm 2005 là 3 triệu tấn, đến năm 2010 là 10,3 triệu tấn. Vị thế của Hiệp Hòa với các trung tâm kinh tế, văn hóa lớn như Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên được nâng lên nhanh chóng nhờ có hệ thống giao thông thủy – bộ phát triển, nhất là từ khi cầu Vát hoàn thành.

Cùng với sự phát triển chung của đất nước, nền kinh tế Hiệp Hòa cũng có sự phát triển và tăng trưởng đáng kể, những khó khăn thách thức vốn có nảy sinh, từng bước được khắc phục, đời sống vật chất của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Số hộ khá và giàu tăng lên. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3,7%/năm. Không còn hộ nghèo diện chính sách xã hội (năm 2010, toàn huyện còn 12% hộ nghèo). Đời sống văn hóa – tinh thần có nhiều chuyển biến tích cực, tiến bộ và văn minh.Sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo trong 10 năm (2000-2010) đã có những chuyển biến vượt bậc. Phát huy truyền thống hiếu học, thực hiện triệt để quan điểm giáo dục của Đảng – coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, Huyện ủy và UBND huyện cùng với cấp ủy, chính quyền cơ sở đã chỉ đạo, có biện pháp tích cực, thường xuyên quan tâm, đầu tư cho sự nghiệp giáo dục, phát huy sức mạnh đồng bộ của Nhà nước và nhân dân, nhà trường và phụ huynh, hội khuyến học, khuyến nghĩa, khuyến tài, xã hội hóa giáo dục… khai thác sức mạnh tổng hợp, cùng tham gia thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục – đào tạo theo cơ chế mới. Mở rộng các mô hình trường, lớp, kết hợp nâng cấp quy mô và phương tiện dạy học, thu hút đông đảo các đối tượng đi học, nhất là thanh thiếu niên, được đào tạo, rèn luyện toàn diện cả văn hóa – nghề nghiệp, nhận thức và ý thức đạo đức chính trị. Từng bước thực hiện có kết quả việc đổi mới chương trình giáo dục. Trân trọng và động viên, khen thưởng xứng đáng, kịp thời những cá nhân và tập thể điển hình tiên tiến, học giỏi dạy giỏi.  Duy trì và đẩy mạnh các phong trào thi đua: “2 tốt”, “Giỏi việc trường, đảm việc nhà”, “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”… đem lại kết quả tốt và luôn ở nhóm 1 của Tỉnh. Đến hết năm 2010, toàn huyện có một trung tâm dạy nghề, một trung tâm giáo dục thường xuyên – dạy nghề và 101 trường từ bậc mầm non đến trung học phổ thông (kể cả công lập, dân lập, bán công, tư thục) với số lớp, số giáo viên, số học sinh như sau: Chất lượng cơ sở vật chất, phương tiện dạy và học cũng như chất lượng đào tạo ngày càng được nâng lên. 2/3 số trường được nâng cấp và xây mới, có nhà học 2-3 tầng; trên 80% số phòng học đã kiên cố hóa; 100%  số trường có cổng xây, tường bao, sân gạch, cây cao bóng mát, vườn hoa, nơi vui chơi giải trí – tạo cảnh quan môi trường đẹp. 100% số trường áp dụng công nghệ tiên tiến vào việc quản lý và dạy một số môn, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng học tập của học sinh và chuyên môn của giáo viên. Toàn huyện có 59 trường đạt chuẩn quốc gia (năm 2005 có 16 trường), phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đạt chuẩn và trên chuẩn tăng nhanh (*). Năng lực chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức có nhiều tiến bộ – thực hiện tốt quy chế trường học, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Từ năm 2000 đến 2010 đã có hàng trăm giáo viên giỏi cấp huyện, cấp tỉnh và ở cấp quốc gia. Có 6 giáo viên được vinh danh “Nhà giáo ưu tú”. Cùng với thành tích của giáo viên, của cán bộ quản lý là thành tích của học sinh -Tỷ lệ tốt nghiệp trung bình đạt trên 97%/năm, có nhiều em là học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh và cấp quốc gia. Số trường “Tiên tiến xuất sắc” hàng năm chiếm 37%, tiên tiến và khá là 61%… 6 trường được Chính phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo tặng bằng khen, 4 trường được Nhà nước tặng “Huân chương Lao động” từ hạng Ba đến hạng Nhất…Công tác đào tạo nghề được đẩy mạnh, liên kết với các trường, các viện, doanh nghiệp để hướng nghiệp cho học sinh và người lao động. Trung bình có 30% lao động được đào tạo, trên 98% được tập huấn ngắn ngày về khoa học kỹ thuật – nhất là trong nông nghiệp, nuôi trồng cây con đặc sản. Hoặc hướng nghiệp cho học sinh trước khi lập nghiệp và xuất khẩu lao động ra nước ngoài…

Tuy nhiên, trong sự nghiệp phát triển chung, ngành Giáo dục – Đào tạo Hiệp Hòa vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm, yếu kém – Đó là “Tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp còn thấp so với bình quân chung của tỉnh, tỷ lệ học sinh giỏi, học sinh trung học phổ thông thi đỗ Đại học, Cao đẳng chưa cao… chất lượng giáo dục trong các nhà trường chưa đồng đều” (*), tình trạng chạy theo thành tích, bình quân chủ nghĩa, “Ngồi nhầm lớp”, vi phạm đạo đức, học lệch thi tủ… vẫn còn diễn ra.Sự nghiệp y tế – chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân, công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình luôn được Huyện ủy, UBND huyện quan tâm đầu tư, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ nên có những tiến bộ đáng kể. Năm 2000 các trạm y tế đều có bác sĩ, các thôn có cán bộ y tế, cứ 748 người dân có 1 cán bộ y tế và 7.886 người dân có 1 bác sĩ; đến năm 2010 tỷ lệ đó là 341 và 2620. Một số bác sĩ được cử đi học tiếp để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn và đã có một số công trình nghiên cứu khoa học. Cơ sở vật chất và phương tiện làm việc đều được nâng cấp, cơ bản đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân. Công tác xã hội hóa y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân đều tiến bộ. Bên cạnh các cơ sở y tế Nhà nước, còn có 57 cơ sở y tế – dược tư nhân. Các chương trình y tế đều được thực hiện với kết quả cao. Hàng năm không còn xảy ra các trận dịch bệnh lớn. 26/26 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Những biểu hiện yếu kém trong ngành y từng bước được khắc phục. Uy tín và trách nhiệm “Lương y” được nâng lên.Công tác bảo vệ bà mẹ trẻ em – kế hoạch hóa gia đình được duy trì thường xuyên và có hiệu quả. Trước hết là các hoạt động truyền thông dân số, giáo dục sức khỏe cộng đồng để nâng cao nhận thức của nhân dân. Kết hợp nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục, hành chính, kinh tế… để phục vụ công tác dân số. Các làng, xóm đều thành lập các câu lạc bộ, phường hội, tổ, nhóm sinh hoạt theo tiêu chí chung 1 hoặc 2 con, không sinh con thứ 3. Số trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng phòng 6 bệnh phổ biến (như phòng lao, bại liệt, sởi, DPT 3, AT2 phụ nữ có thai miễn dịch cơ bản) và số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tham gia các biện pháp tránh thai đều tăng. Tỷ lệ phát triển dân số giảm từ 1,25% (2000) xuống 1,14 % năm 2010.

Cùng với sự phát triển và tiến bộ chung của xã hội, đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và phong trào “Xây dựng và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” tiếp tục thực hiện, đem lại những giá trị nhân bản đích thực của mỗi con người, mỗi cộng đồng. Tỷ lệ và chất lượng gia đình văn hóa, làng (khu phố) văn hóa, cơ quan văn hóa tăng lên. Năm 2010 so sánh với năm 2000 – về tỷ lệ gia đình văn hóa là 84%/56%; về làng – khu phố văn là 58,9%/37% (năm 2010 có 123/219 làng, thôn, khu phố văn hóa); về cơ quan văn hóa là 92/41%. Các cấp, các ngành luôn quan tâm đầu tư kinh phí và động viên tinh thần phong trào văn hóa – thể dục thể thao. Phong trào thể dục thể thao mang tính quần chúng phát triển mạnh, đi vào ý thức người dân. Khoảng 30% dân số thường xuyên tham gia dưới nhiều hình thức, nhiều lứa tuổi, theo giới tính. 14% gia đình thể thao, 203/219 thôn (92,7%) có nhà văn hóa; 930 nhà luyện tập, nhà thi đấu thể thao, sân bóng đá bóng chuyền, sân cầu lông, sới vật…Về chính sách xã hội: Các đối tượng chính sách xã hội được quan tâm giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần, thực hiện nghiêm chỉnh chế độ chính sách của Đảng – Nhà nước và điều kiện khả năng ở địa phương. Tạo điều kiện thuận lợi để người lao động có việc làm ở các khu công nghiệp, ở trong và ngoài nước…Về an ninh, quốc phòng: Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, tham nhũng lãng phí, vi phạm chế độ chính sách, cờ bạc, buôn lậu, mê tín, dị đoan… được đẩy mạnh và có kết quả. Vai trò vị trí của ngành nội chính, nòng cốt là lực lượng Công an, Quân đội, Tư pháp được đề cao.

Công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được củng cố và tăng cường: Huyện ủy, UBND huyện đề ra các chương trình kế hoạch, chuyên đề về giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội, lãnh đạo các cơ quan nội chính chủ động phối hợp giữa các lực lượng, phát hiện và xử lý nhiều vụ việc, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu “Diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch trên địa bàn, trên mọi lĩnh vực. 85% số vụ  phạm pháp hình sự được khám phá làm rõ, xử lý theo pháp luật. Nắm chắc tình hình các đoàn nước ngoài đến Hiệp Hòa; ngăn chặn các hoạt động, âm mưu chống đối, thu thập tin tức tình báo, xúi giục lôi kéo quần chúng lạc hậu, lợi dụng tôn giáo chia rẽ giáo – lương, nhưng cũng tạo điều kiện cho những người làm ăn hợp pháp, có điều kiện đầu tư phát triển kinh tế ở địa phương. Phối hợp với các ban ngành kiểm tra xử lý làm trong sạch môi trường văn hóa – văn nghệ, thông tin, giải trí, hướng dư luận vào cuộc sống lành mạnh, văn minh, tiến bộ. Bắt giữ nhiều đối tượng buôn bán trẻ em, hàng lậu vi phạm pháp luật; thu giữ hàng trăm triệu đồng tiền giả. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát các phương tiện giao thông nhằm làm giảm tối đa tai nạn giao thông trên địa bàn, Công an huyện đã xử lý, giải tỏa kịp thời những vụ gây gối trật tự công cộng, góp phần quan trọng trong việc giải quyết các điểm mâu thuẫn khiếu kiện và hoạt động tà giáo ở một số cơ sở…(*). Tham gia giúp đỡ những gia đình, quản lý đối tượng cai nghiện tại nhà và cộng đồng, kết hợp với Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân xét xử lưu động một số vụ án nhằm phục vụ công tác chính trị tư tưởng ở địa phương. Tăng cường thanh tra các lĩnh vực liên quan đến công tác quản lý, đất đai, tài chính, thu chi ngân sách, xây dựng cơ bản, phòng chống tham nhũng, lãng phí…Công tác xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh trật tự có nhiều tiến bộ. Thường xuyên duy trì hoạt động “Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Xây dựng hàng trăm cụm, khu vực, điểm an ninh theo các mô hình thích hợp; các tổ bảo vệ, tự quản, hòa giải, làm cho mọi người nâng cao ý thức và tham gia bảo vệ an ninh trật tự ở địa phương.

Công tác quốc phòng, quân sự địa phương được quan tâm chỉ đạo thường xuyên, có hiệu quả cả về tổ chức và lực lượng. Các cấp ủy đảng, chính quyền đã tập trung xây dựng lực lượng vũ trang có bản lĩnh chính trị vững vàng, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, cảnh giác và kiên quyết đấu tranh chống âm mưu “Diễn biến hòa bình – Bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Ban chỉ huy quân sự xã, thị trấn đủ biên chế (3/3), có trình độ chuyên môn vững, và lý luận chính trị trung cấp. Tỷ lệ dân quân nòng cốt duy trì từ 1 đến 1,03% dân số, tự vệ là 14-15% cán bộ công nhân viên chức – tổ chức biên chế theo phương châm “Rộng khắp – vững chắc và chất lượng ngày càng cao” – đủ khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao và là lực lượng quan trọng góp phần bảo vệ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế – văn hóa trên địa bàn. Huyện ủy, UBND huyện xây dựng kế hoạch chuyên đề, thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh, Trung ương trên các lĩnh vực về công tác quân sự địa phương, giải quyết kịp thời chế độ chính sách hậu phương quân đội, những đối tượng chính sách còn tồn đọng. Thực hiện triệt để quan điểm của Đảng – gắn quốc phòng toàn dân với an ninh nhân dân, gắn quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng. Tăng cường bảo vệ an toàn các công trình quốc phòng, công trình kinh tế, khu vực phòng thủ. Có kế hoạch hoàn chỉnh quyết tâm A, A2, phòng không nhân dân, chiến đấu tại chỗ, phòng chống bão lụt, cứu hộ cứu nạn… Hàng năm đều tổ chức huấn luyện, diễn tập theo kế hoạch từng địa hình, từng loại nhiệm vụ – quân số đạt trung bình từ 95% trở lên. Kết quả 100% đạt yêu cầu. Công tác tuyển quân thực hiện theo phương châm dân chủ, công khai, công bằng, đúng luật, đã huy động 100% thanh niên nhập ngũ, đạt 100% chỉ tiêu trên giao. Tổ chức tốt các đợt tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng, giải quyết chế độ cho anh em lên đường phấn khởi, yên tâm làm nhiệm vụ.

2. Tăng cường công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Về công tác xây dựng Đảng: Thực hiện các nghị quyết Đại hội Đảng bộ, các cấp uỷ tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 19 của Tỉnh ủy Bắc Giang về nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng, củng cố đơn vị yếu kém; thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của Tỉnh ủy, Huyện ủy và cấp ủy các cấp đã triển khai tổ chức thực hiện có kết quả các Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII), Nghị quyết Trung ương 6 lần 2, Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VIII), Nghị quyết 42 Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác cán bộ thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và công tác quy hoạch cán bộ, đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, của đội ngũ cán bộ đảng viên”.Công tác chính trị tư tưởng được quan tâm nhất là việc tuyên truyền giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị, tư tưởng cho đảng viên. Chỉ đạo chặt chẽ các chi đảng bộ, các cơ quan ban ngành, học tập, quán triệt và thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy. Đặc biệt năm 2010 – tổ chức sơ kết, tổng kết 5 năm, 10 năm trên nhiều lĩnh vực theo yêu cầu của Trung ương và của Tỉnh ủy (*); thường xuyên duy trì học tập và thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, quy định của Bộ Chính trị về 19 điều đảng viên không được làm, kết hợp quán triệt tinh thần Pháp lệnh phòng chống tham nhũng, Pháp lệnh phòng chống lãng phí, thực hành tiết kiệm, cuộc vận động “3 xây, 3 chống” nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức chính trị tư tưởng, giữ gìn phẩm chất đạo đức cán bộ, đảng viên, củng cố lập trường quan điểm giai cấp công nhân, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng. Trong mỗi cuộc vận động, học tập đều được tổ chức chặt chẽ, có từ 85% đảng số trở lên tham gia, có liên hệ kiểm điểm với cán bộ đảng viên, tổ chức Đảng, đóng góp phê bình, tự phê bình, tạo sự chuyển biến sâu sắc, toàn diện trong Đảng bộ. Trong 10 năm (2000-2010) đã mở 265 lớp cho 25.393 quần chúng ưu tú, cán bộ đảng viên theo học với từng loại đối tượng, từng chuyên đề khác nhau (*). Đến năm 2000,  đã có 97% cán bộ cấp huyện, 88% cán bộ cấp xã đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ; 97,2% số cán bộ huyện và xã có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên – góp phần đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng và công tác quy hoạch đào tạo, quản lý và sử dụng cán bộ của Huyện ủy ngày càng tốt hơn. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng đã đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển 183 đồng chí cán bộ cấp trưởng phó các phòng ban, ngành ở huyện và xã (huyện 110 đồng chí); cử 76 đồng chí đi đào tạo chuyên môn và lý luận chính trị, trình độ cao cấp và sau đại học. Chất lượng đội ngũ cán bộ cấp ủy viên các cấp được nâng lên, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.Cùng với công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, công tác xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ cũng luôn được Huyện ủy và các cấp ủy đảng quan tâm nhằm kiện toàn công tác tổ chức cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng. Hình thức sinh hoạt và chất lượng sinh hoạt ở chi bộ, đảng bộ được đổi mới và nâng lên. Nguyên tắc tổ chức của Đảng được giữ vững. Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng được bảo đảm. Lấy việc thực hiện Điều lệ, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và căn cứ vào thực tiễn ở cơ sở để đánh giá phân loại đảng viên, tổ chức cơ sở Đảng và phân loại cán bộ lãnh đạo quản lý hàng năm. Phong trào thi đua xây dựng chi đảng bộ trong sạch, vững mạnh được coi trọng và chất lượng hơn. Tăng cường củng cố những cơ sở đảng yếu kém. Làm tốt công tác tổ chức cán bộ, tiến hành đánh giá phân loại tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hàng năm đã thiết thực góp phần phát hiện, xử lý và ngăn chặn những vụ việc cũng như những dấu hiệu vi phạm kỷ luật Đảng, làm cho tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, do tác động của những nguyên nhân khách quan và chủ quan đã làm thoái hóa biến chất một số cán bộ đảng viên, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, quản lý đất đai, nội chính. Vì vậy, với công tác kiểm tra giám sát, Huyện ủy luôn tăng cường chỉ đạo các cấp ủy thực hiện theo Điều lệ Đảng, chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy. Hơn 10 năm (2000-2010), toàn Đảng bộ đã tiến hành 1050 cuộc kiểm tra, giám sát tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, dưới nhiều hình thức (kiểm tra theo Điều lệ, kiểm tra định kỳ, đột xuất, kiểm tra theo chương trình kế hoạch…) (*). Qua các cuộc kiểm tra, giám sát và giải quyết đơn thư khiếu kiện, đã chỉ ra những ưu khuyết điểm của từng tổ chức đảng, của cán bộ đảng viên vi phạm, yêu cầu có kế hoạch, biện pháp khắc phục cụ thể, góp phần thúc đẩy việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và nhiệm vụ chính trị ở địa phương.Từ năm 2000 đến năm 2010 đã có trên 600 đảng viên bị xử lý kỷ luật, trong đó có 01 Huyện ủy viên, 3 trường hợp bị xử lý và truy tố trước pháp luật; khiển trách 3 BTV đảng ủy; khiển trách 4 Ban chi ủy và 1 chi bộ; khai trừ xóa tên cho rút 73 đảng viên ra khỏi Đảng. Đã thu hồi hơn 280 triệu đồng, trên 6 tấn thóc, 1.648m2 đất… Việc thi hành kỷ luật với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm cơ bản đúng người, đúng lỗi, đảm bảo nguyên tắc, thủ tục, dân chủ, công khai, khách quan, nghiêm minh, kịp thời, có tính giáo dục.Trong 10 năm (2000- 2010), Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện mở 57 lớp “Tìm hiểu về Đảng” cho 3.962 quần chúng ưu tú ở các cơ sở; đã kết nạp được 2.306 đảng viên mới, bổ sung lực lượng cho Đảng bộ. Công tác phát triển đảng viên mới theo tinh thần đổi mới, có nhiều tiến bộ, động viên được nhiều đối tượng, nhiều lĩnh vực tham gia vào công tác xây dựng Đảng. Đảng viên mới chủ yếu là lứa tuổi thanh niên, có sức khỏe tốt, có trình độ văn hóa trung học phổ thông trở lên, đang tham gia công tác ở cơ sở, có nhiệt tình trách nhiệm, rèn luyện phấn đấu.Công tác phát thẻ đảng, đến năm 2010 đạt 98% số đảng viên chính thức. Việc phát thẻ và trao huy hiệu Đảng được tổ chức nghiêm túc, trân trọng và có tính giáo dục, động viên tốt.Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân góp ý vào công tác xây dựng đảng và cán bộ, dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, các tổ chức cơ sở đảng và MTTQ từ huyện đến xã đã tiến hành 6 lần trưng cầu ý kiến của quần chúng và các tổ chức đoàn thể đóp góp cho cán bộ đảng viên. Nhiều ý kiến đóng góp có giá trị, mang tính xây dựng cao. Những vấn đề liên quan đến cán bộ đảng viên đều được xem xét, xử lý và có kết luận thỏa đáng. Góp phần làm cho công tác xây dựng đảng ngày càng đổi mới, phong phú, sinh động, rộng rãi, đem lại kết quả thiết thực và làm cho tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, giúp cho hoạt động của chính quyền, đoàn thể có hiệu quả, chất lượng hơn. Uy tín của tổ chức Đảng và đảng viên được nâng lên, vai trò, trách nhiệm của quần chúng được phát huy. Hệ thống chính trị – xã hội được hoàn thiện.

Chính quyền các cấp được kiện toàn, củng cố, ngày càng được nâng cao về chất lượng và hiệu quả hoạt động. Các cuộc bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp được tổ chức thực hiện thành công, dân chủ, đúng luật định. Hoạt động của HĐND từ huyện đến cơ sở từng bước được đổi mới và ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ theo luật định. Chất lượng các kỳ họp HĐND được nâng lên có tính sát thực và khả thi. Việc tiếp xúc cử tri với đại biểu HĐND có tiến bộ, thẳng thắn, dân chủ, công khai, tạo điều kiện trực tiếp để cử tri tham gia xây dựng chính quyền.

UBND các cấp trong quá trình quản lý, điều hành, thực hiện nhiệm vụ đã chấp hành nghiêm túc các văn bản, quy định của Nhà nước. Các chương trình, đề án phát triển kinh tế, xã hội thực hiện các nghị quyết Đại hội Đảng bộ được xây dựng và tổ chức thực hiện có kết quả. Hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch đề ra.

Tiếp tục chỉ đạo sâu rộng Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 04-CT/TU của Tỉnh ủy về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đảm bảo đúng pháp luật và có kết quả tích cực. Triển khai thực hiện chương trình cải cách hành chính có tiến bộ, giảm phiền hà cho tổ chức và công dân. Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân có nhiều chuyển biến…

Công tác Dân vận là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, được Huyện ủy quan tâm chỉ đạo, đổi mới, củng cố kiện toàn về tổ chức từ huyện đến cơ sở thôn, xóm, khu phố. Những phong trào thi đua, các cuộc vận động đều đem lại kết quả thiết thực. Sức mạnh đoàn kết toàn dân, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy và được thực hiện ngày càng tốt.

Tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc có nhiều chuyển biến tích cực. Mặt trận Tổ quốc huyện đã tổ chức 2 kỳ đại hội: Đại hội XVIII vào tháng 10/2003, nhiệm kỳ 5 năm (2003-2008) và Đại hội XIX vào tháng 11/2008, nhiệm kỳ 2008-2013. Kiện toàn về tổ chức, nâng cao chất lượng cán bộ mặt trận, đề ra phương hướng nhiệm vụ cụ thể, phù hợp với tình hình, phát huy vai trò trách nhiệm của các thành viên. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa VII), Nghị quyết Trung ương 8B (khóa VIII), các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương về công tác Mặt trận, vận động quần chúng, Huyện ủy chỉ đạo sơ kết 3 năm thực hiện Đề án 03 của Tỉnh ủy về “Nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân…” thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX và XXI. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp sâu rộng và hiệu quả. Hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, lời kêu gọi của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, thành lập “Quỹ vì người nghèo” và đặc biệt hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã đem lại kết quả to lớn  nâng cao nhận thức của quần chúng, của cán bộ đảng viên trong tình hình hiện nay. Đến năm 2010, đã có trên 150.000 lượt người tham gia trực tiếp học tập, quán triệt tinh thần các cuộc vận động. Quyên góp ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”, “Ngày vì người nghèo” (15/10 hàng năm), “Tết vì người nghèo” và giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, được trên 10 tỷ đồng, làm được 1.118 ngôi nhà “Đại đoàn kết”, “Nhà tình nghĩa”, “Nhà tình thương”; tặng hơn 15.000 suất quà và trên 4,5 tỷ đồng cho các hỗ trợ khác (*). Phát huy truyền thống và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tương thân tương ái, đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện trong các tầng lớp xã hội; không chỉ có giá trị vật chất mà cao quý hơn cả là tấm lòng, san sẻ cưu mang “Mình vì mọi người” của mỗi con người, mỗi thập thể. Làm tốt công tác đoàn kết tôn giáo, để giáo dân hiểu rõ chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tự do tín ngưỡng, đoàn kết giáo – lương, kính chúa yêu đời, yêu người, yêu nước, yêu chế độ.Ngoài chức năng vận động đoàn kết toàn dân, Mặt trận Tổ quốc từ huyện đến cơ sở đã phối hợp với chính quyền, đoàn thể thực hiện tốt chức năng hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XI, XII và bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp. Tổ chức tốt 876 cuộc tiếp xúc cử tri với 11.721 lượt người, thu được 2.902 ý kiến đóng góp cho Quốc hội, Chính phủ và Hội đồng Nhân dân 3 cấp – chủ yếu về các lĩnh vực kinh tế, đất đai, tham nhũng, chế độ chính sách… Lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt và trưởng thôn, giúp cho cấp ủy và chính quyền đánh giá đúng, sắp xếp cán bộ hợp lý. Liên đoàn Lao động được kiện toàn tổ chức, hoàn thiện hệ thống từ huyện đến xã, đã thu hút 85% số cán bộ, công nhân viên chức trong huyện tham gia; động viên cán bộ, công nhân viên chức thực hiện tốt Pháp lệnh công chức, chăm lo đời sống, bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động. Những phong trào thi đua “lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “2 tốt”, “12 điều y đức”… gắn với các cuộc vận động “Quỹ vì người nghèo”, “Đền ơn đáp nghĩa, từ thiện nhân đạo”… thu được kết quả tích cực, đóng góp vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Huyện.Hội nông dân được tăng cường, củng cố về tổ chức, đến năm 2010 toàn huyện có 30.312 hội viên, chiếm 78,5% số hộ nông nghiệp, sinh hoạt trong 230 chi hội (trong 219 thôn, làng, khu phố) và 128 câu lạc bộ, có 90,1% đảng viên nông thôn là hội viên Hội nông dân.Các cấp hội đã đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động, khắc phục khó khăn, đẩy mạnh các phong trào thi đua, đoàn kết năng động sáng tạo, xây dựng Hội vững mạnh, xứng đáng là lực lượng trung tâm, nòng cốt của nông dân ở nông thôn, đóng góp tích cực thực hiện các chương trình phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng và hệ thống chính trị trong huyện. Các phong trào do Hội phát động như phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng đã thu được kết quả tích cực, trên 100 cánh đồng (hàng ngàn ha) cho thu nhập từ 50 triệu đồng/ha/năm trở lên, gần 1.000 hộ thu nhập 50 triệu đồng/năm, có 14.313 hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi (trong đó 369 hộ cấp tỉnh, 31 hộ cấp Trung ương), gần 100 mô hình điểm về sản xuất hàng hóa nông nghiệp. Trong các hộ nông dân, toàn huyện không còn hộ đói, giảm mạnh hộ nghèo, hộ khá và giàu chiếm 41% số hộ hội viên; có 26.420 hộ hội viên nông dân đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa” (87%); tư vấn, tạo việc làm cho 7.517 lao động (có 286 lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn), đóng góp quan trọng vào công tác xây dựng hệ thống chính trị của huyện.Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh được quan tâm, nâng cao cả về số lượng và chất lượng hoạt động. Trong hơn 10 năm, số chi đoàn trực thuộc đoàn cơ sở tăng 112 chi đoàn, số đoàn viên tăng 17%, tỷ lệ tập hợp thanh niên năm 2000 là 34%, đến năm 2010 tăng lên 50,8%; thành lập Hội Liên Hiệp thanh niên cấp cơ sở với gần 200 câu lạc bộ, 700 chi hội thanh niên, hội nghề nghiệp của thanh niên, nhằm tập hợp những thanh niên chưa gia nhập Đoàn, được rèn luyện giáo dục, cống hiến cho quê hương.

Để nâng cao nhận thức chính trị – tư tưởng cho đoàn viên thanh niên, các cấp bộ đoàn đã tổ chức những đợt học tập nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của Đoàn, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống, giáo dục pháp luật, phòng chống tội phạm tệ nạn xã hội, Luật An toàn giao thông, Luật Phòng chống tham nhũng, lãng phí… cho thanh thiếu niên, tạo nên những đợt sinh hoạt sôi nổi, rộng khắp trong toàn huyện. Đoàn viên thanh niên đã đóng góp 9.706 ý kiến về công tác xây dựng Đảng, chính quyền các cấp, đánh giá phân loại đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng, nhất là những cán bộ chủ chốt. Đã hưởng hứng và tham gia tích cực các cuộc vận động, các phong trào thi đua do Trung ương Đoàn, Tỉnh Đoàn phát động. Đồng thời vận dụng sáng tạo, đề ra mục tiêu nhiệm vụ cụ thể, sát với cơ sở, phù hợp với địa phương, thu được hiệu quả thiết thực. Tiêu biểu là các phong trào “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”, phong trào “Thi đua, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và phong trào “5 xung kích phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ Tổ quốc – 4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” với tinh thần đổi mới, vươn lên, giành thắng lợi – “Tuổi trẻ Hiệp Hòa tiến bước dưới cờ Đảng”, “Đoàn thanh niên Hiệp Hòa – tiếp lửa truyền thống – mãi mãi tuổi 20”, “Thanh niên làm theo lời Bác”… Phong trào thanh niên làm kinh tế giỏi đã ra đời 250 mô hình kinh tế thanh niên có thu nhập 30-50 triệu đồng/năm. Từ các phong trào thi đua, đã có nhiều tập thể, cá nhân được nhận danh hiệu “Thanh niên làm theo lời Bác”.

Hội phụ nữ đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp phát triển chung của huyện trong sự nghiệp đổi mới. Chất lượng cán bộ hội và hội viên ngày càng được nâng lên về mọi mặt, đến năm 2010 Hội phụ nữ thu hút 53,6% số phụ nữ trong huyện tham gia vào Hội. Nội dung và phương thức hoạt động có nhiều đổi mới. Hội phụ nữ tích cực thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”, Chỉ thị số 37-CT/TW của Ban Bí thư về “Một số vấn đề về công tác cán bộ nữ”, học tập các văn kiện Đại hội Đảng, văn kiện đại hội phụ nữ các cấp. Tham gia cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, cùng với phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, thực hiện 6 chương trình trọng tâm do Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam phát động… Trong các phong trào: Kế hoạch hóa gia đình, chăm lo sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/AIDS, buôn bán phụ phụ nữ, trẻ em được các cấp hội quan tâm tham gia tích cực, có hiệu quả. Hội phụ nữ huyện đã tích cực động viên chồng, con lên đường nhập ngũ, tham gia quân dự bị động viên, thực hiện chính sách hậu phương quân đội. Để nâng cao chất lượng cuộc sống, xóa đói, giảm nghèo vươn lên khá và giàu, Hội phụ nữ các cấp đã tạo điều kiện cho chị em vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh. Mỗi năm trung bình có từ 8.000 đến 12.000 hội viên được vay vốn với tổng số từ 50 đến 70 tỷ đồng để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, xây dựng gia đình theo 4 chuẩn mực: Ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ.Hội cựu chiến binh luôn được Đảng bộ và nhân dân tin tưởng và đánh giá cao. Từ ngày thành lập (20/9/1990), đến năm 2010- Hội Cựu chiến binh đã tổ chức 4 kỳ Đại hội (*). Tổ chức Hội không ngừng kiện toàn, phát triển hội viên, thực hiện các chương trình công tác do Hội đề ra. Khi thành lập, có 910 hội viên, đến 2010 đã có 10.076 hội viên (bằng 96% số cựu chiến binh trong huyện). Đồng thời để tập hợp số cán bộ chiến sĩ sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương nhưng chưa đủ điều kiện gia nhập Hội Cựu Chiến binh, tháng 7/2002 huyện thành lập Hội Cựu quân nhân – trực thuộc Hội Cựu chiến binh; huyện, xã có Ban liên lạc, thôn có câu lạc bộ. Toàn huyện năm 2010 có 7.924 thành viên cựu quân nhân (79%), 232 câu lạc bộ, 25 Ban liên lạc. Để giữ vững và phát huy phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn cách mạng mới, công tác giáo dục chính trị tư tưởng nâng cao nhận thức cho cán bộ và hội viên luôn được các cấp hội quan tâm. Hàng tháng, Hội Cựu Chiến binh đều tổ chức thông tin thời sự chính sách, trang bị 180 số báo Cựu chiến binh, 550 bản tin nội bộ. Hội viên được tham gia học tập các chủ trương chính sách, nghị quyết của Đảng, pháp luật Nhà nước và chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh Hội, của Trung ương Hội. Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Cựu chiến binh trong giai đoạn cách mạng mới”, Pháp lệnh Cựu chiến binh. Tỷ lệ hội viên tham gia học tập, nghiên cứu đạt từ 85% trở lên, thường xuyên tổ chức tập huấn chính trị cho cán bộ, tạo nhân tố xây dựng hội vững mạnh (*) nhằm củng cố niềm tin và bản lĩnh chính trị vững vàng của cán bộ và hội viên. Là những người gắn bó máu thịt với cách mạng, với Đảng, với dân tộc, chế độ và nhân dân; trước tình hình phức tạp trên thế giới và trong nước, “Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Đảng là nhiệm vụ hàng đầu”, Hội Cựu chiến binh đã tích cực đóng góp ý kiến cho Đảng, chính quyền và các chủ trương chính sách, về các chương trình phát triển kinh tế – văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, nhất là trong các dịp đại hội Đảng, đại hội Hội Cựu chiến binh các cấp.Với lực lượng đông đảo, mạnh mẽ hội viên Cựu chiến binh, đã tham gia tích cực vào các phong trào thi đua, các cuộc vận động lớn, như: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”… “Cựu Chiến binh gương mẫu” sát với từng cơ sở, từng lĩnh vực, có hiệu quả, thu hút hàng nghìn, hàng vạn lượt người tham gia. Việc tạo vốn và xây dựng quỹ hội giúp nhau được đẩy mạnh. Đến nay, Hội Cựu chiến binh không còn hộ đói, hộ nghèo còn 6,4%, hộ khá và giàu 66,3%; có 15 trang trại hội cựu chiến binh.

Các tổ chức xã hội, nghề nghiệp như Hội người cao tuổi, Hội Đông y, Hội người mù, Hội Khuyến học, Hội Sinh vật cảnh, Hội Cựu thanh niên xung phong, Hội Cựu giáo chức, Hội Nạn nhân chất độc da cam – Điôxin, Ban đại diện Phật giáo … thời gian thành lập có khác nhau nhưng đều hoạt động theo chức năng, nghề nghiệp, sở thích, quy tụ mọi tầng lớp, có tôn chỉ mục đích đúng đắn, phát huy tiềm năng thế mạnh, luôn vì cuộc sống con người và nhu cầu xã hội, được Đảng, chính quyền và các đoàn thể quan tâm đầu tư khuyến khích, tạo điều kiện hoạt động để các hội phát triển, góp phần làm giàu đẹp cho quê hương.

Nhìn lại 10 năm đầu thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ III, Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa đã giành được những thành tựu quan trọng và thu được những bài học kinh nghiệm quý báu. Bước vào giai đoạn mới, Hiệp Hòa vẫn còn những khó khăn thách thức. Phát huy truyền thống của quê hương cách mạng Anh hùng – tiếp tục đổi mới, sáng tạo, tranh thủ thời cơ, huy động mọi nguồn lực, phát triển nhanh, bền vững, xây dựng quê hương Hiệp Hòa giàu mạnh, “Xứng đáng với phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước đã dành cho, đáp ứng lòng mong mỏi của Bác Hồ kính yêu.

       Hơn 70 năm lãnh đạo, tổ chức nhân dân đấu tranh và xây dựng quê hương qua các thời kỳ cách mạng, Đảng bộ Hiệp Hòa đã không ngừng lớn mạnh. Từ một chi bộ được thành lập vào đầu năm 1940 gồm 4 đảng viên, tới nay Đảng bộ Hiệp Hòa có trên 7300 đảng viên. Tổ chức Đảng đã có ở tất cả các thôn, xóm, đường phố, cơ quan, trường học, bệnh viện… đó là những hạt nhân lãnh đạo thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng. Từ trong thắng lợi vinh quang và cả khuyết điểm, hạn chế, Đảng bộ Hiệp Hòa đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu.Trong quá trình đấu tranh xây dựng và phát triển, trong bất kỳ tình huống nào, đảng bộ luôn luôn nắm vững quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.Đảng ta ra đời đảm đương sứ mệnh lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và niềm tin của nhân dân đối với Đảng cũng bắt nguồn từ đó. Hai mặt ấy có quan hệ chặt chẽ với nhau và tạo nên sức mạnh gắn bó bền chặt giữa Đảng và quần chúng trong mọi hoàn cảnh, mọi giai đoạn cách mạng, khi đấu tranh giành chính quyền cũng như khi Đảng lãnh đạo chính quyền. Lịch sử Đảng bộ huyện Hiệp Hòa góp phần làm nổi bật vai trò, sức mạnh của nhân dân trong từng thời kỳ cách mạng và giá trị kỳ diệu của mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng. Trước cách mạng  tháng Tám, số lượng đảng viên của Đảng bộ rất ít nhưng đã lãnh đạo được nhân dân trong huyện làm nên những thắng lợi vẻ vang, đó là do nhân dân đã tự  giác tiếp nhận và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng bằng tinh thần sáng tạo, ý chí kiên cường vượt lên mọi khó khăn, thử thách. Từ sau cách mạng tháng Tám, Đảng bộ phát triển vượt bậc về tổ chức và số lượng đảng viên, song nhiệm vụ của Đảng bộ lại tăng lên gấp bội, nhưng dù trong hoàn cảnh nào, nhân dân vẫn giữ lòng tin ở Đảng, theo Đảng làm cách mạng, giúp cho Đảng bộ làm tròn được trách nhiệm trước nhân dân,  hoàn thành nhiệm vụ do cấp trên giao cho. Trong hoạt động, Đảng bộ luôn luôn dựa vào dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, gắn bó và liên hệ mật thiết với nhân dân. Mọi chủ trương chính sách của Đảng bộ xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng cũng như khả năng thực tế của nhân dân, được nhân dân hưởng ứng và hăng hái thực hiện. Quan liêu mệnh lệnh, áp đặt, xa rời lợi ích chung của nhân dân sẽ làm Đảng mất chỗ dựa và không đảm đương được vai trò lãnh đạo của mình.

Từ khi thành lập đến nay, đảng bộ không ngừng chăm lo xây dựng củng cố và tăng cường vai trò lãnh đạo về mọi mặt, làm cho Đảng bộ xứng đáng là hạt nhân chính trị  lãnh đạo phong trào cách mạng của địa phương.

Đảng bộ thường xuyên nâng cao bản lĩnh cách mạng, trau dồi quan điểm và lý luận cách mạng, năng lực lãnh đạo và tổ chức thực tiễn. Quán triệt và chấp hành sáng tạo đường lối của Đảng, phù hợp với thực tiễn địa phương. Mỗi cấp ủy Đảng và cán bộ đảng viên luôn luôn tự rèn luyện mình để có quyết tâm cách mạng cao, có tư duy chính trị mới, đúng đắn, dám nghĩ, dám làm, không thụ động, chờ đợi.

Đảng bộ đã thường xuyên chăm lo giữ gìn và tăng cường sự đoàn kết trong Đảng trên cơ sở thống nhất về quan điểm đường lối, chủ trương chính sách, đấu tranh tự phê bình và phê bình, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng.

Trong sự nghiệp đổi mới, thấm nhuần quan điểm: Lấy phát triển kinh tế làm nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, Đảng bộ thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng chi bộ và Đảng bộ trong sạch vững mạnh, giáo dục, rèn luyện, phẩm chất, đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư cho mỗi cán bộ, đảng viên; kiên quyết sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hóa, biến chất, bảo đảm cho tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là những chiến sĩ tiên phong trong chiến đấu cũng như trong xây dựng và bảo vệ đất nước, quê hương.

Truyền thống và kinh nghiệm lịch sử của Đảng bộ Hiệp Hòa trong hơn 70 năm qua là tài sản tinh thần vô cùng quí giá, không chỉ là niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa mà còn là điểm tựa quan trọng để Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa tiến vào chặng đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu “Dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

BBT(kỳ sau đăng tiếp phần phụ lục và các tổng của Huyện Hiệp Hoà)

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành