( Tặng các thầy cô giáo đang công tác ở vùng cao của tỉnh Điện Biên)
Điện Biên là một tỉnh nghèo khu vực miền núi Tây Bắc, với 21 dân tộc anh em cùng chung sống trong đó dân tộc Thái chiếm 38,4%, dân tộc Mông chiếm 29,6%, dân tộc Kinh chiếm 20%, còn lại là các dân tộc Dao, Hơ Mú, Hà Nhì, Giáy, La Hủ, Lào, Lự, Hoa, Kháng, Mảng, Tày, Cống, Xinh Mun, Lô Lô, Si La, Nùng, Mường và Phù Lá. Năm 1954, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã mang lại cuộc sống tự do cho nhân nhân các dân tộc tỉnh nhà; thế nhưng cùng với đó là cái đói nghèo và lạc hậu cứ đeo bám con người nơi đây. Thực hiện chủ trương xây dựng kinh tế, xã hội miền núi Tây Bắc vào những năm 1958- 1960 đã có rất nhiều cán bộ, nhân dân từ miền xuôi lên Điện Biên công tác. Trong đoàn người đó có một thế hệ các nhà giáo miền xuôi đã có mặt ở Điện Biên từ những năm 1959- 1960 của thế kỉ trước. Họ là những người có công đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục của tỉnh Điện Biên. Nhân dịp kỉ niệm 30 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 – 20/11/2012) xin gửi tới những nhà giáo lão thành lời tri ân sâu sắc nhất.

Một lớp học ở huyện Mường Nhé- Điện Biên
Tiếp bước các thế hệ nhà giáo lão thành từ đó cho đến nay trên mảnh đất anh hùng này đã có biết bao những thầy cô giáo trẻ từ mọi miền quê trong cả nước tình nguyện hiến dâng tuổi trẻ của mình vì sự nghiệp giáo dục vùng cao. Nhân dịp cả nước tri ân các nhà giáo chúng ta hãy cùng nhìn lại sự hi sinh thầm lặng của đội ngũ các thầy cô giáo và nhất là những thầy cô đang công tác ở những vùng sâu, vùng xa của tỉnh Điện Biên. Trong những năm qua giáo dục vùng cao nói chung và giáo dục Điện Biên nói riêng đã có rất nhiều khởi sắc, công lao đó một phần không nhỏ thuộc về đội ngũ những người thầy, người cô đang từng ngày âm thầm cống hiến tâm huyết, trí tuệ của mình ở những bản làng xa xôi, hẻo lánh. Bài viết này xin dành tặng đội ngũ các thầy cô giáo đang công tác ở vùng sâu, vùng xa nhất là những thầy cô giáo trẻ như một lời tri ân gửi đến các thầy cô. Người viết bài này xin giới thiệu với bạn đọc, với các thầy cô giáo những câu chuyện dung dị đời thường với tất cả những khó khăn, thử thách mà họ phải vượt qua để quyết tâm theo đuổi sự nghiệp trồng người.
Rào cản lớn nhất với các thầy cô giáo vùng cao là sự bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán. Rất nhiều thầy cô giáo tâm sự, khi mới lên công tác do không hiểu ngôn ngữ, phong tục, tập quán của bà con nên rất khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ. Nhất là ở những bản xa, giao thông đi lại cực kì khó khăn, điện và thông tin liên lạc không có nên rất buồn chán, nhiều lúc các thầy cô chỉ ước được nghe tiếng nói chuyện bằng tiếng phổ thông mà khó quá. Thế nhưng bằng tình yêu nghề thầy cô giáo đã nhanh chóng thích nghi với đời sống của bà con, nhiều thầy cô “nói tiếng dân tộc như gió” và được gọi những cái tên thân thương “thầy giáo, cô giáo của bản”. Thế rồi chuyện dạy chữ mới khó khăn vất vả làm sao bởi 100% học sinh là con em các dân tộc thiểu số nên khả năng nói tiếng phổ thông rất hạn chế. Có chứng kiến cảnh các cô giáo Mầm non, Tiểu học kiên trì rèn luyện cho các em cách phát âm, uốn nắn từng nét bút ta mới thấu hiểu những gian nan mà các thầy cô giáo nơi đây phải trải qua. Có cô giáo tâm sự những ngày đầu đi dạy chưa quen nói nhiều hai bên hàm mỏi nhừ về nhà cơm chẳng muốn ăn.Thế rồi các thầy cô giáo THCS, THPT miệt mài bên những trang giáo án hàng đêm bên những ngọn đèn khuya. Nhiều đêm các thầy cô trằn trọc, mất ngủ chỉ để tìm ra cách giảng bài sao cho dễ hiểu nhất với học sinh vùng cao. Các thầy cô đã phải hi sinh những kiến thức cao siêu của mình học được trong các trường chuyên nghiệp, để truyền dạy cho các em những kiến thức cơ bản nhất. Thiết nghĩ đó cũng là một sự hi sinh rất lớn của những người thầy, người cô nơi đây. Bên cạnh việc dạy chữ thì những câu chuyện vận động học sinh ra lớp cũng chẳng kém phần gian nan. Rất nhiều học sinh không xác định động cơ và mục đích học tập nên tình trạng bỏ học, nghỉ học tự do còn diễn ra nhiều và những lúc ấy thầy cô lại phải đi vận động học sinh ra lớp. Trời mưa, đường trơn phải chống gậy mới đến được nhà các em, đến nơi các em lại cùng bố mẹ đi nương, đi dãy thôi thế đành ra về hôm khác lại đến và “một ngày đi bộ công cốc”. Chúng tôi được biết ở các điểm bản, điểm trường thì chuyện đi vận động học sinh ra học là chuyện cơm bữa. Thế mới biết các thầy cô vất vả như thế nào, dạy học sinh đã khó, duy trì sĩ số lại càng khó hơn.
Còn đây là câu chuyện tình cảm của các thầy cô giáo vùng cao, phần lớn những cặp vợ chồng nhà giáo là mỗi người một quê. Họ có cùng chung một mục đích cao cả phục vụ sự nghiệp giáo dục vùng cao, mục đích ấy đã gắn kết họ với nhau. Chỉ sau một thời gian tìm hiểu cùng với sự cổ vũ của bạn bè, đồng nghiệp họ đã thành vợ chồng. Cuộc sống và công việc vất vả là vậy nhưng bên trong mái nhà những gia đình nhà giáo vùng cao vẫn luôn ăm ắp niềm vui, hạnh phúc với những tiếng nô đùa của những đứa trẻ. Mặc dù vậy, khi trò truyện với các thầy cô chúng tôi đã cảm nhận được những băn khoăn, lo lắng của các thầy cô giáo. Đó là mỗi khi vợ chồng, con cái ốm đau mỏi mệt, ở đây điều kiện y tế rất hạn chế, ốm nhẹ thì không sao chứ ốm nặng là lại phải ra tận bệnh viện tỉnh cách xa hàng trăm km rất vất vả và tốn kém. Hay mỗi khi tết đến về thăm quê, đường xa hàng nghìn km, thời gian nghỉ lại ngắn về đến nhà chưa hoàn hồn vì say se đã phải lên trường, nhiều đêm nằm trên giường mà cứ nghĩ đang trên xe. Ấn tượng nhất với chúng tôi là những thầy cô giáo đã tình nguyện gắn bó lâu dài với giáo dục vùng cao. Đó là những thầy cô giáo đã xây dựng hạnh phúc trăm năm của mình với người dân địa phương. Tình yêu nghề, yêu người là động lực để các thầy cô cống hiến. Giờ đây Điện Biên đã thực sự trở thành quê hương thức hai của các thầy cô.
Cảm phục nhất là những tấm gương thầy cô giáo tâm huyết, tận tụy hết mình vì học sinh thân yêu. Không thể kể hết những tình cảm tốt đẹp mà người thầy, người cô nơi đây đã dành cho học sinh. Những cảnh cô giáo Mầm non, Tiểu học không chỉ dạy chữ mà còn làm thay nhiệm vụ của người cha, người mẹ của các em. Đi đến các trường điểm bản sẽ không hề xa lạ khi thấy các cô giáo hướng dẫn các cháu tắm, giặt, vệ sinh cá nhân. Hay ở những ngôi trường bán trú, nội trú các thầy cô giáo thật sự là người cha, người mẹ thứ hai của các em; các thầy cô đã chăm bẵm cả cái ăn, giấc ngủ của các em.
Còn nhiều, rất nhiều những câu chuyện cảm động về sự hy sinh của đội ngũ thầy cô giáo vùng cao mà không thể kể hết. Những sự hy sinh thầm lặng ấy của thầy cô giáo vùng cao đã và đang từng ngày làm thay đổi bộ mặt giáo dục vùng cao nói chung và giáo dục Điện Biên nói riêng. Xin chúc các thầy cô giáo vùng cao luôn giữ vững niềm tin để tiếp tục cống hiến cho giáo dục tỉnh nhà. Xã hội và đồng nghiệp vẫn luôn hướng về thầy cô “ những chùm hoa trên đá” với với niềm kính trọng sâu sắc nhất.
Tác giả: Nguyễn Văn Tập, GV Ngữ văn THPT Chà Cang – Mường Nhé- Điện Biên, Quê: Hoàng Vân – Hiệp Hòa- Bắc Giang ( SĐT 0944256578)





Bình luận về bài viết này