Bút ký của Trần Hoành

Cách đây hơn mười năm, Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tri Nguyên, Phó viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, kiêm Giám đốc Phân viện Huế – đồng môn với tôi thời đại học – có mời tôi vào Quảng Nam tham gia lớp tập huấn về văn hóa vật thể và phi vật thể do cơ quan anh tổ chức. Dường như đọc được thắc mắc của tôi tại sao không đặt địa điểm lớp tập huấn ở thành phố Huế quê anh, nơi anh làm Giám đốc mà lại là Xứ Quảng, anh giải thích luôn: “Quảng Nam không những là mảnh đất kiên cường, một tỉnh có gần sáu ngàn Bà mẹ Việt Nam anh hùng mà còn là tỉnh duy nhất có hai Di sản văn hóa thế giới lừng danh, đó là Thánh địa Mỹ Sơn và Phố cổ Hội An! Thuyết phục chưa?”

Những ngày vừa qua, tham gia chuyến đi thực tế sáng tác miền Trung của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh do Chủ tịch Nguyễn Tuấn Khương làm Trưởng đoàn đã cho tôi thêm cơ duyên một lần nữa được trở lại Quảng Nam. Thực ra, trong chuyến đi thực tế đầy lý thú này, chúng tôi không thẳng tiến Xứ Quảng ngay mà còn hành hương về các địa chỉ đỏ: thăm Ngã Ba Đồng Lộc – nơi yên nghỉ của 10 cô gái thanh niên xung phong huyền thoại; thăm thành cổ Quảng Trị – bản giao hưởng bi hùng, miền đất can đảm và kiêu hãnh, mùa hè đỏ lửa của 81 ngày đêm chiến đấu giữ thành của chiến sĩ ta, để hiểu thêm một lần nhắn gửi “Cỏ non xanh tơ xin chớ vô tình”, được tận mắt chứng kiến “khúc tráng ca về một dòng sông”, để  hiểu thêm lời thỉnh cầu đồng đội “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/Có tuổi hai mươi thành sóng nước/Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”; thăm nghĩa trang quốc gia Trường Sơn, để tri ân những người con anh hùng hy sinh vì Tổ quốc; viếng mộ Danh nhân văn hóa thế giới, Thi hào dân tộc Nguyễn Du…, nhưng trong thiên bút ký này, tôi muốn dành riêng cho Quảng Nam, rằng những đền đài kỳ vĩ của Thánh địa Mỹ Sơn hơn 10 thế kỷ trước, vẻ bình lặng song đầy sức hấp dẫn của Phố cổ Hội An và những con người Xứ Quảng, với tôi, đã hơn một lần gắn bó, và đã để lại trong tôi những kỷ niệm đến nao lòng…

Tôi muốn nói đến Quảng Nam, mảnh đất xưa kia thuộc xứ sở của Chiêm Thành, câu chuyện cách đây hơn bảy trăm năm, có người con gái dòng dõi trâm anh thế phiệt của quốc gia Đại Việt là công chúa Huyền Trân, đã gác tình riêng, nguyện làm sứ giả của hòa bình, kết duyên Tần Tấn với vua Chiêm Thành Chế Mân theo thỏa ước của vua cha Trần Nhân Tông. Với sính lễ là châu Ô, châu Lý, bước vu qui của nàng  đã mang về cho Tổ quốc một vùng đất đai rộng lớn, khiến hậu thế phải có lời cảm thán “Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm/Một gái Huyền Trân của mấy mươi!”.

Và cũng gần 600 năm trước, vào năm 1471, hoàng đế Lê Thánh Tông – vị vua của một trong những triều đại thịnh trị nhất của lịch sử phong kiến Việt Nam (có nhà nghiên cứu văn hóa tỉnh nhà đã gọi triều đại ông là thời đại Lê Thánh Tông!), sau khi chinh phạt vùng đất Nam Thuận Hóa đến đèo Cù Mông đã lập nên đơn vị hành chính mới là Thừa Tuyên Quảng Nam. Danh xưng Quảng Nam bắt đầu từ đây. Tên gọi Quảng Nam, nghĩa là mở rộng về phương nam.

Trở lại chuyến đi của Đoàn. Rời thành phố Đà Nẵng, xe chúng tôi chạy chừng gần 70 km để đến Thánh địa Mỹ Sơn. Di sản thế giới Mỹ Sơn nằm ở địa phận xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam. Trên đường hành hương vào đây, mặc dù trong xe ồn ã, đầy ắp tiếng nói cười của gần ba chục con người, đâu đó có tiếng cười phá lên khi hai chuyên gia văn nghệ dân gian họ Trần là Trần Quốc Thịnh và Trần Văn Lạng thi nhau  kể chuyện tiếu lâm, thỉnh thoảng mọi người lại cười ngả nghiêng như cỏ lau gặp bão…, riêng tôi đang mông lung chìm đắm trong dòng suy tưởng, mảnh đất Duy Thành của huyện Duy Xuyên ở chỗ nào nhỉ, xe của đoàn có đi qua, có gần Thánh địa Mỹ Sơn không, nơi cách đây hơn 40 năm trước, nữ nhà báo, nhà văn Dương Thị Xuân Quý đã vĩnh viễn nằm lại? Và bài thơ khóc vợ có tựa đề “ Bài thơ về Hạnh phúc” của nhà thơ Dương Hương Ly, là nỗi mất mát của người trong cuộc, là tiếng lòng của thi sĩ với người vợ đã khuất“Thôi em nằm lại/với đất lành Duy Xuyên/Trên mồ em có mùa xuân ở mãi/Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên”. Một định nghĩa giản dị về hạnh phúc “Hạnh phúc là gì?/Bao lần ta lúng túng/Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi chưa ra/Cho đến ngày cất bước đi xa/Miền Nam gọi hai đứa mình có mặt”, đã không ít người chép vào sổ tay, và có trong hành trang của chiến sĩ ta ra trận, đã thôi thúc  thế hệ trẻ cầm súng chiến đấu bảo vệ tổ quốc, trong đó có bạn bè cùng trang lứa với tôi thời sinh viên là Hoàng Nhuận Cầm (anh được Giải Nhất thơ Báo Văn nghệ năm 1972, nhưng tác giả đang chiến đấu ở Quảng Trị, nên mẹ anh – phu nhân của nhạc sĩ tiền chiến Hoàng Giác, đã thay mặt con nhận Phần thưởng trong Lễ tôn vinh của Hội Nhà văn Việt Nam) và đặc biệt là Nguyễn Văn Thạc, sinh viên Khoa Toán –  anh  đã vĩnh viễn nằm lại ở thành cổ Quảng Trị vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, “tên anh khắc vào đá núi” để “Mãi mãi tuổi hai mươi” (Tên Nhật ký được xuất bản của Thạc). “Bài thơ về hạnh phúc” của Bùi Minh Quốc – Dương Hương Ly như có một sức mạnh vật chất vậy!

Đã nhiều lần có mặt ở Thánh địa Mỹ Sơn, đã từng được Giám đốc Sở Văn hóa-thông tin Quảng Nam Nguyễn Đức Tuấn đưa đi thực địa Mỹ Sơn, từng nghe nhiều người giới thiệu về di tích, nhưng người hướng dẫn viên lần này cho Đoàn công tác của Hội văn nghệ Bắc Giang đã để lại cho mọi người nhiều ấn tượng tốt đẹp. Hiểu biết rộng, thông tuệ, sắc sảo, hóm hỉnh là cảm nhận của mọi người về anh. Về độ uyên bác của anh, giám đốc Bảo tàng Bắc Giang Trần Văn Lạng xếp người hướng dẫn viên này có học hàm Giáo sư! Anh tên Tiến, còn có một tên gọi nữa là Lê Lam Sơn, quê huyện Điện Bàn, Quảng Nam, đồng hương với nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Mai Thúc Lân, là bà con gần với Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX Phan Diễn.  Theo lời giới thiệu, Mỹ Sơn có lẽ được xây dựng vào thế kỷ thứ 4. Tiếp xúc đầu tiên của đoàn với di sản Mỹ Sơn, theo hướng tay chỉ của hướng dẫn viên, cách vài mươi mét bên phải chúng tôi là một phế tích, chỉ còn lại một mảng tường nhưng có niên đại muộn nhất đã là thế kỷ XIII! Vâng, Thánh địa Mỹ Sơn là một tổ hợp bao gồm nhiều đền đài Chăm Pa, trong một thung lũng đường kính khoảng 2km bao quanh bởi đồi núi. Đây từng là nơi tổ chức cúng tế của vương triều Chăm cũng như là lăng mộ của các vua Chăm hay hoàng thân quốc thích. Trong nhiều thế kỷ, thánh địa này được bổ sung thêm các ngọn tháp lớn nhỏ và trở thành khu di tích chính của văn hóa Chăm pa. Vẫn theo anh Tiến, ngoài chức năng hành lễ, giúp các vương triều tiếp cận với các thánh thần, Mỹ Sơn còn là trung tâm văn hóa và tín ngưỡng của các triều đại Chămpa và là nơi chôn cất các vị vua, các thầy tu nhiều quyền lực. Thánh đường để thờ cúng linga Shiva là của vị vua Bhadravarman (trị vì từ năm 381 đến năm 413) xây dựng. Chỉ cho các thành viên trong đoàn các dòng bia ký bằng chữ Phạn cổ trên các tấm bia, anh Tiến nói rằng di sản Mỹ Sơn chịu ảnh hưởng lớn về kiến trúc của Ấn Độ thể hiện ở các đền tháp đang chìm đắm trong huy hoàng quá khứ và các dòng bia ký kia là thể hiện dấu ấn văn hóa. Nhìn những dòng chữ trên phiến đá, đẹp như in, tôi có hỏi giám đốc Bảo tàng tỉnh Trần Văn Lạng, có rành và đọc được chữ Phạn cổ kia không? Anh cười mà rằng, ở Việt Nam, bậc thầy của chữ Phạn cổ, chỉ có giáo sư – nhà khảo cổ học Hà Văn Tấn!

Sau khi trả lời các câu hỏi của các thành viên trong đoàn, hướng dẫn viên Tiến vẫn tiếp tục dòng chảy: và dựa trên các tấm bia văn tự khác người ta biết nơi đây đã từng có một đền thờ đầu tiên được làm bằng gỗ vào thế kỷ thứ IV. Một trận hỏa hoạn lớn đã tiêu hủy nó. Cho đến thế kỷ thứ VII vua Sambhuvarman (trị vì năm 577 đến năm 629) đã dùng gạch để xây dựng lại ngôi đền còn tồn tại đến ngày nay. Gạch là vật liệu tốt để lưu giữ ký ức của một dân tộc kỳ bí, và kỹ thuật xây tháp của người Chăm cho đến nay vẫn còn là điều bí ẩn! Bàn tay tài hoa nào vậy của người Chăm cổ đã xây nên những thánh đường kỳ vĩ, những công trình nghệ thuật tuyệt mỹ, mặc cho vật đổi sao dời, như vẫn còn thách thức với thời gian, như vẫn còn trơ gan cùng tuế nguyệt?

Nếu như các vua Champa đã để lại ở Mỹ Sơn những công trình kiến trúc đền đài kỳ vĩ, những tác phẩm điêu khắc độc đáo, những bí ẩn cần phải khám phá… thì Hội An, dù từng là thương cảng lớn nhất, sầm uất nhất vùng Đông Nam Á từ nhiều thế kỷ (từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19), nhưng vẫn giữ được vẻ dịu dàng, trầm lắng của phố cổ đã ngàn tuổi…

Địa danh Hội An đã đến với tôi từ thuở ấu thơ trên ghế nhà trường, từ những bài học đầu đời về lòng yêu nước, về địa lý, lịch sử, đặc biệt là sự kiện năm 1858, thực dân Pháp bắn phát đạn đại bác đầu tiên vào thương cảng Đà Nẵng, Hội An, mở đầu cho cuộc viễn chinh xâm lược Việt Nam và cuộc trường kỳ kháng chiến oanh liệt 117 năm giành và giữ lấy độc lập dân tộc của nhân dân ta đến ngày toàn thắng 30.4.1975!

Do tính chất công việc cơ quan nên tôi có điều kiện tìm hiểu về Hội An. Chả là, thực hiện đường lối chiến lược về văn hóa của Đảng, năm 2001, Bộ Văn hóa Thông tin có đề án xây dựng huyện miền núi Lục Ngạn của Bắc Giang, huyện miền núi Quỳ Hợp của Nghệ An, thị xã Hội An của Quảng Nam là huyện điểm văn hóa, đô thị điểm văn hóa của cả nước.

Phố cổ Hội An nằm bên bờ sông Thu Bồn. Nổi tiếng từ thế kỷ 16,17, bởi các thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản đã từng làm ăn , buôn bán ở xứ sở này. Từ đó, thương cảng Hội An đã thịnh vượng, là trung tâm buôn bán lớn vùng Đông Nam Á, một trong những trạm đỗ chính của thương thuyền vùng viễn đông.

Thời gian tập huấn ở Quang Nam những năm trước, tôi đã được các anh của Sở Văn hóa Thông tin đưa xuống Hội An, được các anh của Phòng Văn hóa trực tiếp đưa đi tìm hiểu phố cổ. Bước chân vào khu phố cổ, bạn sẽ thực sự ngỡ ngàng bởi thế giới biệt lập nơi đây: không có tiếng gầm rú của động cơ  xe cơ giới, cũng chẳng có thương hiệu rực rỡ đèn màu. Tất cả đã lùi xa sau lưng, cả không gian và thời gian đều lắng đọng trong những nếp nhà gỗ cổ…Như sợ đánh thưc hồn phố cổ, tiếng con người cũng nhẹ nhàng hơn, việc giao dịch, mặc cả của kẻ bán, người mua, nghe qua như gió thoảng… Hội quán, đình, chùa, miếu mạo, dãy nhà cổ quay lưng lại phía sông Hoài, nhà thờ tộc , bến cảng như đang lặng lẽ tồn tại để con người hoài niệm về một thời quá khứ…Sử sách từng ghi: Hội An là cảng thị của người Chăm khi vương quốc Chămpa thống trị. Sau đó vùng này bị xâm thực bởi nền văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa người Việt, rồi cuộc bang giao với Trung Quốc, Nhật Bản, những vết tích từng thời gian văn hóa này vẫn còn đậm  nét ở 1.360 di tích, thắng cảnh, từ đình, chùa, lăng mộ, thánh thất, nhà thờ, hội quán…Những công trình xưa cũ như chùa Cầu-biểu tượng của Hội An, nhà cổ Quân Thắng  có niên đại 150 năm, nhà cổ Tần Kỳ được xây cách nay gần 200 năm, những công trình kiến trúc cổ  đầy rêu phong, những con hẻm sạch sẽ vừa đủ một người đi…tất cả đều toát lên không khí hoài niệm của khu phố cổ có độ tuổi cả ngàn  năm!

Khi đang tư duy viết bài thu hoạch sau chuyến đi thực tế dài ngày của Hội Văn học nghệ thuật, tình cờ tôi được đọc  bài phỏng vấn Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, Bí thư Thành ủy Hội An Nguyễn Sự của nhà báo Hồng Thanh Quang in trên An ninh thế giới Giữa tháng (tháng 4/2012) với tựa đề”Muốn làm cán bộ phải có dũng khí”, đã khiến tôi quan tâm. Thấy bài phỏng vấn trên có liên quan đến nội dung bài viết,  cách giải quyết hài hòa làm sao ở trong những điều kiện vật chất cổ kính mà lại sống được theo kiểu hiện đại, làm thế nào vẫn giữ được những ngôi nhà cổ  nhưng lại vẫn có được những tiện nghi của nền văn minh đương đại, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu một địa phương về bảo vệ Di sản văn hóa thế giới, không chỉ cho hôm nay mà cho cả mai sau, tôi xin trích đăng lời tôn vinh  nhân dịp trao giải thưởng về sự nghiệp văn hóa giáo dục cho Bí thư Nguyễn Sự, cuối tháng 3-2012, Quỹ văn hóa Phan Châu Trinh đã nhấn mạnh: “Là một nhà lãnh đạo có quan hệ rất rộng rãi và thân thiết với nhiều nhà khoa học uyên bác, nhiều nhà văn hóa – giáo dục tâm huyết, lại gắn bó sâu sắc với nhân dân trong đời sống hàng ngày, Nguyễn Sự đã thực sự thu hút được về mình cả tầm cao và chiều sâu trí tuệ và tâm hồn của họ, để trở thành người truyền cảm hứng cho Hội An, một trong những không gian văn hóa độc đáo của nước ta ngày nay”.

Đắm chìm trong những liên tưởng, say mê trong cảnh sắc Hội An và một Quảng Nam “chưa mưa đã thấm”, tôi lại nhớ đến kỷ niệm của hơn mười năm trước…

Sau khi kết thúc lớp tập huấn “Văn hóa vật thể và phi vật thể” do Viện Văn hóa-Nghệ thuật phối hợp cùng Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam tổ chức, Ủy ban nhân dân tỉnh có tổ chức mở tiệc chia tay Đoàn chúng tôi. Tới dự có các quan khách của địa phương, đặc biệt sự có mặt của Chủ tịch UBND tỉnh – Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, đã làm cho cuộc giao lưu thêm trang trọng và thân mật. Sau này khi với cương vị là Bí thư Tỉnh ủy, ông có đóng góp không nhỏ với khu kinh tế mở Chu Lai, một vùng kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Ông tái đắc cử vào Ban chấp hành Trung ương khóa XI, hiện nay  đảm nhận chức vụ Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương. Nếu ai tiếp xúc với ông đều có cảm nhận Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng ăn nói nhỏ nhẹ nhưng đầy tính thuyết phục bởi tính khoa học và thực tiễn trong cách lập luận và sự ấm áp chân tình trong giọng nói của ông.

Cũng tối đó tôi còn được gặp nhà văn Nguyên Ngọc. Ông đi thực tế Tây Nguyên, trên đường ra Bắc, ông ghé về thăm quê. Lần đầu tiên tôi được gặp ông. Tác giả của “Đất nước đứng lên”, của bài trích giảng “Bắn Pháp chảy máu”, đặc biệt là thiên tùy bút “Đường chúng ta đi” khiến lũ học trò chúng tôi say đắm một thời, đang hiển hiện trước tôi đây! Là người yêu văn, tôi đã được đọc nhiều tùy bút, kể cả tác giả nước ngoài, như những bài tùy bút của nhà văn Erenbua – phóng viên mặt trận của Liên bang Xô viết trong thế chiến thứ II, được đánh giá có sức mạnh vật chất như một trung đoàn cũng không thể hấp dẫn bằng “Đường chúng ta đi” của Nguyên Ngọc – Nguyễn Trung Thành! Văn tùy bút của ông hấp dẫn như thơ. Cả bài tùy bút là một bài thơ. Ông mượn suy nghĩ của người chiến sĩ thao thức trước ngày mai ra trận để nói về quê hương, về miền Nam quật khởi, về cái giá phải trả cho độc lập tự do. Hãy nghe ông hỏi và tự trả lời: “Không biết có nơi nào nữa trên trái đất, quyền làm người được bảo vệ bằng nhiều máu đến như vậy không? Giá như chúng ta minh họa lịch sử dân tộc thì có trang nào, dòng nào không phải vẽ một thanh gươm tự vệ và tô đậm một màu máu? Máu thắm đượm rãnh cày nơi ta gieo hạt giống. Máu thắm đượm mảnh sân con ta nô đùa ngày bé. Máu thắm đượm con đường, nơi đó mẹ ta lau nước mắt, ngày tiễn ta ra đi. Máu thắm đượm bờ ao em ta ngồi giặt áo trên chiếc cầu nhỏ gập ghềnh…Ôi dân tộc ta từ trong máu lửa sinh ra mà lớn lên!”.

Chia tay Quảng Nam, tôi có hẹn ngày gặp lại, bởi trong tôi còn sâu đậm những tên đất, tên người Xứ Quảng. Những địa danh Mỹ Sơn, Duy Xuyên, Hội An, Tam Kỳ…, những đồng nghiệp của tôi: Nguyễn Đức Tuấn, Đinh Hài, Lê Hữu Trí…dù mai ngày trở về Xứ Bắc, dù chặng đường cách chia xa ngái, nhưng với tôi, Xứ Quảng vẫn rất gần, rất gần!

Thánh địa Mỹ Sơn (ảnh đồng nghiệp)

T.H Mai Đình, Hiệp Hoà.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành