
IV. TÍCH CỰC XÂY DỰNG, CỦNG CỐ HẬU PHƯƠNG VỮNG MẠNH, GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ 2 CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (3/1968-1972)
Năm 1968, thế và lực của cách mạng nước ta có nhiều thuận lợi, song còn không ít khó khăn. Cùng với cả nước, nhiệm vụ chiến thắng thiên tai, địch hoạ vẫn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và cấp bách nhất của Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà.Về nhiệm vụ xây dựng, củng cố hậu phương, trước hết về kinh tế – sản xuất, đời sống, làm nghĩa vụ với Nhà nước: Từ đầu năm 1968, Hội nghị Ban thường vụ Huyện ủy ngày 12 tháng 01 năm 1968 đã xác định: “… Mấy năm qua, công tác thuỷ lợi đã có nhiều cố gắng, thành tích cũng nhiều… Thi đua cùng đồng bào chiến sỹ miền Nam Anh hùng, nhân dân Hiệp Hoà ra sức làm thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng, chủ động chuẩn bị phòng chống thiên tai, trước hết là lụt bão…”… Căn cứ vào thực tiễn, Huyện uỷ đề ra mục tiêu phấn đấu thực hiện “Con số 9 quan trọng” – Năm 1968, phải đạt được 9000 ha lúa xuân, 9 triệu m3 thuỷ lợi, 900 con lợn nái và 9 vạn tấn phù sa. Lấy khí thế cách mạng tiến công để động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân, tăng cường giáo dục tuyên truyền cho các mục tiêu đã đề ra, tích cực mở rộng lực lượng thuỷ lợi chuyên trách, đi sâu vào chất lượng, đồng loạt tiến quân vào đồng ruộng.Từ năm 1968, công tác thuỷ lợi chủ yếu sửa chữa nâng cấp và bổ sung cho các công trường của tỉnh và Trung ương. Phong trào làm phân cải tạo đất sôi nổi, có nhiều điển hình tốt. Huyện có 848 mẫu bèo hoa dâu, hàng ngàn mẫu cây lấy lá bổ sung cho lượng phân hữu cơ trong nông nghiệp.
Tháng 8-1968, cơn bão số 4 gây lụt lớn ở sông Cầu, mực nước cao hơn năm 1945 (năm có lụt lớn) 83cm – trên mức báo động cấp 3 tới 1,53m, làm lở và nứt rạn 65m, 67 chỗ rò rỉ… Huyện huy động 3.580 người và hàng vạn dụng cụ cứu được gần 100 km đê Đại Hà và đê Tiểu Bối. Năm 1969, thiên tai nhiều hơn, nặng hơn, mặc dù chủ động phòng chống nhưng vẫn không tránh khỏi thiệt hại tới 3.413 mẫu lúa, 33 mẫu mạ, 150 mẫu hoa mầu và 7.280 gian nhà – riêng xã Mai Đình có 4.412 gian nhà bị hư hỏng nặng. Huyện cùng các cơ quan, đơn vị bộ đội huy động được 14.250 người (riêng 4 xã ven sông Cầu 5.385 người) đã hoàn thành 130% kế hoạch tỉnh giao và 101 % kế hoạch huyện giao. Trong những năm này huyện liên tục mở các chiến dịch thi đua với quyết tâm “Chiến thắng thiên tai đánh bại giặc Mỹ”. Năm 1971, có trận lụt lớn chưa từng có (trong hàng trăm năm). Mực nước sông Cầu lên cao 10,25m (trên cấp 3) toàn huyện bị ngập 38.107 ha lúa đã cấy. Huyện huy động khẩn cấp lực lượng chống lụt gồm 9.316 người, 32 đội xung kích, 41 đội dự bị, 24 đội canh phòng, 68 đội cừ lặn, cùng hàng vạn nhân công đưa 644.800 m3 đất đá vào chân đê và lên mặt đê. Sau chiến dịch, quân khu và tỉnh tặng 14 bằng khen, 14 giấy khen, 11 thư khen cho cá nhân và tập thể có thành tích cao, huyện được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng 3.
Sau trận lụt, việc phục hồi sản xuất được tiến hành kịp thời: Huyện xuất kho 150 tấn thóc ăn, 40 tấn thóc giống, 57 tấn phân đạm giúp dân. Huyện uỷ phát động phong trào quyên góp ủng hộ đồng bào bị lụt trong huyện và huyện bạn (Yên Phong) rất nhiều đồ dùng và phương tiện lao động, đồng thời tích cực phòng trừ sâu bệnh cho lúa, trồng nhiều rau màu để đề phòng nạn đói.Những khó khăn do thiên tai gây ra và cách quản lý hành chính bao cấp đã bắt đầu bộc lộ những yếu kém trì trệ ở các xã và HTX. Huyện uỷ chỉ đạo các cấp, các ngành và nhân dân học Điều lệ HTX bậc cao trong 4 ngày liền, có liên hệ và dân chủ công khai đóng góp ý kiến cho cán bộ, đảng viên từ đội sản xuất đến huyện. Đồng thời Huyện uỷ mở Hội nghị quán triệt quan điểm – ý kiến của đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng về vị trí, vai trò kinh tế – chính trị – xã hội cấp huyện. Liên hệ với địa phương, Huyện uỷ thấy được những năm qua còn rất nhiều khó khăn trong đời sống, lực lượng dự trữ trong nhân dân không còn. Đời sống ổn định và có phần khá lên chủ yếu là nhờ vào ruộng 5%, sản lượng khoai lang và sự trợ giúp của Nhà nước(*). Huyện uỷ thành lập và cử đoàn cán bộ về cơ sở khảo sát toàn diện. Đồng thời mở tiếp 3 đợt thi đua lớn (**). Tranh thủ thời cơ Mỹ tạm ngừng ném bom bắn phá miền Bắc (1-1968), tiến hành mở rộng các Hội nghị quán triệt, thảo luận sâu sắc các Nghị quyết của Đảng và Nghị quyết 09 của Huyện uỷ về phát triển kinh tế, Nghị quyết 78/HU về tăng cường quản lý HTX, Nghị quyết 20 của Hội đồng Chính phủ về ổn định nghĩa vụ lương thực, Chỉ thị 195 của Ban Bí thư Trung ương về nâng cao chất lượng đảng viên, Nghị quyết 197 phát huy quyền làm chủ ở nông thôn… Kết hợp tổ chức quần chúng đóng góp ý kiến cho đảng viên và cơ sở đảng. Vì vậy, tình hình có chuyển biến, trong đó quan hệ sản xuất XHCN và cơ sở vật chất của thành phần kinh tế tập thể trong hoàn cảnh rất khó khăn vẫn giữ vững và phát triển. Từ năm 1970, Huyện uỷ chỉ đạo tích cực đợt củng cố quản lý HTX. Huyện đã thành lập Ban chỉ đạo do đồng chí Bí thư huyện uỷ làm trưởng ban, cán bộ huyện, xã được phân công trực tiếp xuống các HTX để giúp cơ sở. Năm 1972, có 103 HTX, trong đó 42 HTX từ kém lên khá. Thu nhập bình quân 203,6đ/người/năm. Điển hình trong nông nghiệp là HTX Trung Hoà đạt bình quân 7,8 tấn thóc, 11 tấn khoai lang, 2,5 con lợn/1 lao động/năm – được Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng 3. Tỉnh uỷ phát động phong trào thi đua học tập, làm theo, đuổi kịp HTX Trung Hoà.
Qua đợt củng cố đã thấy thực chất của các HTX: Công tác quản lý lỏng lẻo, số tài sản hư hỏng thất thoát rất lớn, nhất là ruộng đất (*). Có tới 320 hộ bán ruộng, trâu bò, nông cụ… của tập thể. Kiểm kê tài chính ở 24 HTX phát hiện hụt quỹ 76.980 đ. Toàn huyện thu hồi 2.916 mẫu ruộng lấn chiếm, 809.300đ nợ trong đợt củng cố. Kinh tế tập thể sa sút, tham ô lãng phí lớn, phân phối không công bằng gây mất đoàn kết, mất dân chủ, không quản lý được sản phẩm, không hoàn thành một số chỉ tiêu nghĩa vụ quan trọng. Tinh thần trách nhiệm kém, tranh chấp tài sản, xin ra HTX… khá phổ biến. Đặc biệt yếu nhất là công tác quản lý lao động. Nghị quyết Huyện uỷ 5-9-1972 đã chỉ ra: “Mấy năm qua công tác quản lý lao động là khâu cơ bản trong toàn bộ công tác quản lý kinh tế HTX. Trong điều kiện tiền vốn còn nghèo, cơ sở vật chất còn ít, lao động là lực lượng chủ yếu và quyết định, là nguồn gốc làm ra của cải xã hội, làm giầu cho gia đình, HTX và Nhà nước. Do đó phải tiến hành quản lý tổ chức lao động, điều chỉnh và phân công lại cho hợp lý với khả năng lao động để tăng năng suất lao động, đáp ứng yêu cầu ngày một cao, trước mắt phải thực hiện 3 khoán, chống đi muộn về sớm, rong công phóng điểm, thực hiện phân phối theo lao động, xây dựng định mức tiêu chuẩn kỹ thuật cho từng cây con, ngành nghề…” Từ thực tế và căn cứ vào Nghị quyết, huyện xây dựng định mức lao động và chỉ đạo các HTX thực hiện.Mặc dù còn những yếu kém khuyết điểm, nhưng do sự cố gắng của nhân dân, đời sống kinh tế vẫn ổn định và có tăng trưởng. Năm 1972 so với 1968: về nông nghiệp – Tổng diện tích gieo trồng là 59.265/58.660 mẫu, tổng sản lượng lương thực quy thóc là 69.261/63.016 tấn; về chăn nuôi-lợn 37.230/30.540 con, trâu 8.535/6.873 con, bò 2.014/2831 con.Cùng với nông nghiệp, các ngành khác cũng tăng trưởng: công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã khắc phục khó khăn, mở rộng quy mô sản xuất, hàng năm đảm bảo 75% số mặt hàng phục vụ nông nghiệp. Năm 1972 tổng số sản phẩm tăng hơn 20.000 so với 1968. Một số cơ sở được mở rộng, như làm nón lá, bóng đèn, guốc gỗ, chế biến nước chấm… và thành lập 75 tổ sửa chữa công, nông cụ ở địa phương. Ngành giao thông vận tải, bưu chính được Nhà nước và nhân dân tập trung lực lượng tu sửa đường cũ, mở thêm đường mới, các HTX vận tải như thuyền buồm, xe bò Liên Minh, hoạt động tích cực. Ngành bưu điện đã có ý thức đi xuống cơ sở phục vụ, động viên kịp thời, bảo đảm liên lạc, đưa sách báo nhanh, đủ.
Về tài chính, thương nghiệp và tổ chức đời sống nhân dân đảm bảo cả 2 yêu cầu động viên và bồi dưỡng sức dân. Nghĩa vụ lương thực năm nào cũng đạt chỉ tiêu, cao nhất là năm 1969 đạt 114 %, năm 1972 đạt 112%. Thu mua nông sản, thực phẩm: Về lợn hơi, năm 1968 đạt 103% kế hoạch, năm 1972 đạt 105%. Năm 1972 lạc vỏ 127%, đỗ các loại 128%, thuốc lá, thuốc lào 122%. Công tác ngân hàng tín dụng, cho vay phục vụ sản xuất năm 1968 đạt 108 %, bình quân 11đ/ người, năm 1972 lên 16,7 đ/người. Các ngành ngoại thương, vật liệu kiến thiết, thực phẩm bán lẻ, dược phẩm… đều đảm bảo chỉ tiêu, phục vụ đời sống và sản xuất.
Các mặt hàng thiết yếu như dầu hoả, muối, diêm, vải, xà phòng, kim chỉ, thuốc chữa bệnh… mặc dù gặp nhiều khó khăn trong khâu phân phối lưu thông nhưng định lượng, sức mua của dân tăng từ 64 đ năm 1968 lên 102 đ năm 1972(*).
Sự nghiệp văn hoá – xã hội: Từ thời chiến chuyển sang thời bình rồi lại có chiến tranh với quy mô cường độ ác liệt hơn, mọi hoạt động xã hội đều gặp rất nhiều khó khăn. Song quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa, trong hoàn cảnh nào, “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”. Các trường học vẫn phải sơ tán, cơ sở vật chất thiếu thốn nhưng năm học 1968-1969 so với năm học 1966-1967, tổng số lớp của các khối học phổ thông, bổ túc văn hoá và mầm non, mẫu giáo vẫn tăng 6,7% (trong đó các lớp vỡ lòng tăng gần 1000 cháu). Bình quân 3,2 người có 1 người đi học. Năm 1969, Huyện uỷ có kế hoạch phát triển giáo dục 3 năm (1969-1970-1971) nhằm mở rộng trường lớp và nâng cao chất lượng giáo dục.
Năm 1971, Huyện uỷ tiếp tục xây dựng kế hoạch 3 năm (1971-1972-1973). Năm học 1972-1973, toàn huyện có 981 lớp, hơn 40.000 học sinh (trung bình tăng 2000 em/năm). Mỗi năm có khoảng 1.500 em học hết lớp 7, lớp 10 và bổ túc văn hoá. Hầu hết học sinh đỗ tốt nghiệp cấp I được vào cấp II, 30% học hết cấp II được vào cấp III. Số giáo viên năm 1972 tăng 191% so với năm 1968.
Năm 1972, ngành giáo dục quyết tâm phổ cập cấp I, mở rộng hơn nữa cấp II và III. Thực hiện chuyên môn hoá giáo viên. Đảm bảo 75% số cháu 3-5 tuổi ra mẫu giáo nhỏ và 100% ra mẫu giáo lớn (6 tuổi) có 75% học sinh vỡ lòng ra lớp 1. Đảm bảo hằng năm có từ 90-100% học sinh được lên lớp, 80-100% thi đỗ tốt nghiệp, 30% số trường tiên tiến cấp tỉnh. Các phong trào thi đua vẫn dược duy trì và đi vào chiều sâu. Thực hiện quy ước “3 nền nếp” (giảng dạy, học tập và quản lý) và giữ gìn vở sạch chữ đẹp. Có 3 tổ giáo viên là “Tổ lao động XHCN”. Ngành giáo dục Hiệp Hoà 3 năm liền được xếp loại tiên tiến của tỉnh. Công tác thông tin văn hoá văn nghệ, trong lúc kinh tế rất khó khăn nhưng Huyện uỷ vẫn đặc biệt quan tâm, đầu tư vào lĩnh vực này. Ngay đầu năm 1968, Huyện uỷ giao cho ngành thông tin văn hoá huyện tuyên truyền về “4 nhiệm vụ, 6 phong trào, 8 công tác”. Bám sát tình hình thời sự, tận dụng và đẩy mạnh lợi thế tuyên truyền. Các đội văn hóa, văn nghệ quần chúng hoạt động rất sôi nổi, phục vụ kịp thời các đợt công tác đột xuất và những ngày kỷ niệm lớn, ca ngợi gương người tốt, việc tốt, chiến đấu dũng cảm (Lê Mã Lương, Lê Thị Hồng Gấm…). Thực hiện nếp sống mới theo Chỉ thị 01 ra ngày 2-2-1972 của Tỉnh uỷ và Nghị quyết 07 ra ngày 8-7-1972 của Huyện uỷ về việc tiếp tục cải tạo hư phong hủ tục trong đình đám, lễ hội, chống mê tín dị đoan. Phòng văn hoá xây dựng quy ước nếp sống mới. Nhiều xã làm tốt như Đức Thắng, Hoàng Thanh… Hai đội chiếu bóng lưu động đã chiếu hàng nghìn tối phim cho nhân dân xem, tuyên truyền về giống lúa xuân, lợn nái, kỹ thuật thúc mầm, trồng lạc, khoai lang theo kỹ thuật mới. Công tác thư viện thường xuyên có từ 11.000 đến 15.000 đầu sách, tổ chức đi cơ sở giới thiệu “Lịch sử Việt Nam. Lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, thơ Tố Hữu…” Đài truyền thanh huyện có 4 loa, phát 3 buổi/ ngày. Hội nghị Thường vụ Huyện uỷ ngày 21-12-1972 đánh giá”… Công tác thông tin văn hoá văn nghệ quần chúng những năm qua đã bám sát cơ sở, hoạt động sôi nổi đúng đường lối của Đảng, tổ chức rộng rãi góp phần xây dựng cuộc sống lành mạnh ở nông thôn, quần chúng phấn khởi tin tưởng hoàn thành nhiều chỉ tiêu do huyện đề ra, đóng góp đủ cho Nhà nước”.
Công tác y tế từ thời chiến chuyển sang thời bình, từ nơi sơ tán chuyển về trung tâm huyện, có điều kiện phát triển cả về số lượng và chất lượng, từ bệnh viện huyện đến trạm y tế xã, tinh thần phục vụ và kết quả khám chữa bệnh có tiến bộ.
Tỷ lệ cán bộ y tế cấp huyện năm 1968 là 1/2.800 người dân, năm 1972 là 1/1700, ở cấp xã 1/1300 (1968) và 1/1980 (1972). Hội đông y huyện có 85 người, 18 xã có hội đông y (87 người). Nhiều trạm xá mở rộng vườn trồng cây và chế biến thuốc nam (sinh địa, ích mẫu, huyền sâm, hoa hoè…). Bệnh viện huyện có đủ các khoa: Tai mũi họng, răng hàm mặt, xét nghiệm, ngoại khoa, sản khoa. Công tác bảo vệ và chăm sóc BMTE được duy trì tốt, phụ nữ có thai được khám, lập sổ y bạ cho trẻ sơ sinh. Ngành y tế đã có 85 cán bộ đi công tác, phục vụ đồng bào chiến sỹ miền Nam Anh hùng.
Về công tác quốc phòng – an ninh: Sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đã chuyển sang giai đoạn mới, có lợi cho ta cả về thế và lực. Song tình hình trong nước và thế giới có nhiều khó khăn, phức tạp. Ngày 2-11-1968, Chính phủ ta tuyên bố về việc Mỹ ngừng ném bom vô điều kiện miền Bắc Việt Nam. Ngày 3-11, Hồ Chủ tịch thay mặt Đảng và Chính phủ ra lời kêu gọi nhân dân cả nước, nêu bật thắng lợi của nhân dân ta và dã tâm ngoan cố của Mỹ và tay sai, đã khẳng định “Nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là… Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”. Trước tình hình mới, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu vẫn được hết sức coi trọng. Thực hiện chủ trương của Trung ương, Huyện uỷ mở hội nghị 4 ngày liền (27-30/10/1968) cho hơn 300 cán bộ chủ chốt, phát động toàn dân tham gia đợt sinh hoạt chính trị với chủ đề “Toàn dân làm việc chống Mỹ cứu nước”. Ngày 20-12-1968, Ban chấp hành Đảng bộ Hiệp Hoà gửi thư kêu gọi cán bộ đảng viên và nhân dân trong huyện: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam đã sắp đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà yêu nước và chống Mỹ là đây, yêu chủ nghĩa xã hội là đây, trung thành tin tưởng ở Đảng là đây…”. Hưởng ứng lời kêu gọi của BCH đảng bộ huyện, đông đảo cán bộ đảng viên và nhân dân trong huyện hăng hái làm việc nhiều hơn để xứng đáng với chiến công của quân dân miền Nam Anh hùng. Tuy nhiên gần đến ngày thắng lợi, khó khăn phức tạp càng nhiều. Trước những khó khăn về kinh tế và chiến tranh tâm lý của địch, những dư luận xấu của các phần tử tiêu cực, phản động đã gây ảnh hưởng đến tâm lý, tình cảm và gây hoang mang dao động đến một số cán bộ đảng viên và quần chúng. Trước tình hình đó, các ngành nội chính tăng cường bám sát cơ sở, xử lý các vụ việc như nghe đài địch, trộm cắp, phá hoại sản xuất, cho đi cải tạo tập trung những phần tử chống đối chế độ ta… Mạng lưới an ninh nhân dân hoạt động có hiệu quả, hàng năm cung cấp nhiều tin quan trọng cho Công an, Toà án, Viện kiểm sát, khởi tố nhiều án hình sự: 46 vụ năm 1968, 27 vụ năm 1969, 35 vụ năm 1970, 31 vụ năm 1971, 43 vụ năm 1972, góp phần làm trong sạch địa bàn, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Quần chúng càng thêm tin tưởng, yên tâm phấn khởi động viên con em tham gia lực lượng vũ trang địa phương và đi chiến đấu.
Năm 1969, dân quân tự vệ học tập Nghị quyết 185 của Thủ tướng Chính phủ, Luật nghĩa vụ quân sự và năm 1970, học tập Nghị quyết 61 của Tổng quân uỷ Trung ương về tăng cường công tác quân sự địa phương, Nghị quyết 117 của Tỉnh uỷ về công tác tuyển quân và chính sách hậu phương quân đội. Tỉnh đội cử đoàn cán bộ 253 tăng cường cho Hiệp Hoà nhằm củng cố lực lượng hậu bị. Huyện đội thành lập thêm các đội dự bị tại chỗ, mở 5 trạm chuyên điều trị cho thanh niên khám nghĩa vụ, thay một số đồng chí trong các ban chỉ huy xã đội do sức khoẻ và năng lực yếu, tăng cường hơn nữa các đợt giáo dục chính trị, soát xét lại ý thức phẩm chất đạo đức của cán bộ, chiến sỹ để đảm bảo tỷ lệ 11-12% đảng viên trong lực lượng vũ trang. Tăng cường các tổ trinh sát, quân báo, công binh, tác chiến, giao thông liên lạc… giữ vững tỷ lệ dân quân tự vệ11-13% dân số, làm cơ sở cho công tác tuyển quân nhanh gọn.
Lực lượng dân quân tự vệ hăng hái tham gia huấn luyện, xây dựng “Đội vũ trang quyết thắng”. Nhiều xã và đơn vị có thành tích được Đảng và Nhà nước động viên khen thưởng: Xã Ngọc Sơn, Danh Thắng, Hoà Sơn, Quang Minh, Mai Trung – Huân chương chiến công hạng 3, xã Đông Lỗ Huân chương chiến công hạng 2. Tiểu đội trực chiến của huyện – Huân chương chiến công hạng 2 và Quân khu Tả Ngạn tặng cờ Quyết thắng cho quân và dân Hiệp Hoà (**). Tuy nhiên, công tác tuyển quân có lúc gặp khó khăn. Trong huấn luyện, số người trên 40 tuổi khá đông, một số tư tưởng không yên tâm, còn biểu hiện ngại khó, ngại khổ, ỷ lại, chấp hành không nghiêm, tập dượt qua loa chiếu lệ…
Năm 1972, đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc lần thứ 2, rất ác liệt, nhiều lần máy bay Mỹ bay qua Hiệp Hoà. Ngày 11-7-1972 lúc 6h15 phút một tốp (2 chiếc) từ hướng đông nam bay vào, bị không quân ta hạ một chiếc F4 rơi xuống cánh đồng Sơn Giao (xã Ngọc Sơn). Hai tên giặc lái Mỹ nhẩy dù bị quân và dân xã Ngọc Sơn và xã Đoan Bái bắt sống.
Ngày 20-7-1972 Huyện uỷ ra Chỉ thị về việc đẩy mạnh công tác phòng không nhân dân, thực hiện sơ tán triệt để hơn nữa, giải toả hết các khu vực đông dân và hàng hoá tập trung. Đồng thời thành lập một đại đội dự nhiệm phục viên (ngoài các đơn vị có từ trước) 2 đội dân quân, 2 đội cơ động chiến đấu, 1 đại đội cao xạ (53 người) lập 3 trận địa bắn máy bay Mỹ ở xã Hoàng Thanh, Đông Lỗ, Hoà Sơn.
20 giờ ngày 12-10-1972, 2 máy bay địch từ phía tây bắc bay đến, ném 17 quả bom (loại 500 bảng Anh) xuống xã Hoàng An, Ngọc Sơn (nổ 4 quả). Tuy chúng đánh bất ngờ lúc chập tối nhưng do nhân dân có ý thức phòng không tốt nên không bị thiệt hại gì. Và đây là trận cuối cùng trên đất Hiệp Hoà trong 2 cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Tháng 12 -1972, sau 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” quân và dân ta đã chiến thắng oanh liệt, đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa ri về Việt Nam, rút hết quân Mỹ và chư hầu về nước.
Về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể trong tình hình mới:
Để chuẩn bị cho Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IX, ngày 27/12/1968, Ban thường vụ Huyện ủy đã xác định mục đích, yêu cầu của Đại hội: “Đánh giá nghiêm túc những khuyết điểm, ưu điểm và nguyên nhân. Rút ra bài học kinh nghiệm thiết thực. Xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu của Đảng bộ và nhân dân toàn huyện… ” Và việc bầu cử ban chấp hành mới phải “tăng cường cấp uỷ về chất lượng… thực sự là trung tâm vững mạnh, kiên quyết, sắc bén, khẩn trương để có đủ khả năng chủ động đưa phong trào huyện ta tiến lên”. Huyện uỷ tự đánh giá năm 1968 Đảng bộ Hiệp Hoà xếp loại trung bình – sau khi đã chỉ rõ và phân tích sâu sắc “7 mạnh, 4 yếu” của Đảng bộ.
Đại hội đại biểu Đảng bộ Hiệp Hoà lần thứ IX (nhiệm kỳ 2 năm 1969-1970) từ ngày 22 đến ngày 24/4/1969 tại hội trường UBHC huyện, 171 đại biểu thay mặt cho 2.952 đảng viên, sinh hoạt tại 43 cơ sở đảng về dự. Tinh thần Đại hội là: “Đại hội của hành động cách mạng thực sự, nhằm thẳng vào mục tiêu: 5 tấn thóc, 10 tấn khoai lang, 2 con lợn, 1 lao động/1 ha gieo trồng. Là Đại hội xây dựng Đảng bộ Hiệp Hoà thêm vững mạnh, xây dựng Hiệp Hoà thêm giàu đẹp… Đại hội IX có ý nghĩa rất trọng yếu về chính trị và tổ chức, được tiến hành khẩn trương, cẩn thận, công phu, chu đáo, đầy đủ và chủ động”. “Báo cáo chính trị mang tính tổng kết và tính tư tưởng cao, rút ra được những điểm mạnh, yếu và nguyên nhân mấu chốt, phân biệt rành mạch, dứt khoát, rõ ràng, đúng sai… nhất là bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạo trong khi thực hiện nhiệm vụ chính trị ” (**). Đại hội IX đã: “Mở rộng dân chủ, phát huy cao độ trí tuệ của toàn Đảng bộ và nhân dân trong huyện, thực sự đề cao phê bình và tự phê bình. Tăng cường sự đoàn kết thống nhất ý chí hoạt động cách mạng tiến công không ngừng thanh toán mọi biểu hiện tiêu cực trong nội bộ…”.
Đại hội đã bầu Ban chấp hành đảng bộ khoá IX gồm 21 đồng chí (7 đồng chí trong Ban thường vụ), đồng chí Đặng Văn Thọ được bầu lại làm Bí thư Huyện uỷ.Tại Hội nghị BCH lần 1 (khoá IX) đã xác định công tác xây dựng Đảng, trước hết phải “Có kế hoạch thật cụ thể, con người cụ thể, việc làm cụ thể, tránh chung chung… Công tác kiểm tra Đảng phải công khai hơn nữa, dân chủ, rộng rãi… là công tác của cả Đảng bộ và quần chúng tham gia… Trước mắt tập trung đánh giá đúng, đánh giá hết những mặt mạnh, mặt yếu, nguyên nhân của nó để làm nền cho những năm sau xây dựng Đảng thật tốt hơn…”
Huyện uỷ thành lập các đoàn kiểm tra các cơ sở Đảng kết hợp với các đợt thanh tra Nhà nước, phát động quần chúng phát hiện vi phạm và đóng góp ý kiến, thực hiện “Toàn dân xây dựng Đảng”.
Giữa lúc toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang hăng hái thi đua lao động sản xuất, chiến đấu lập thành tích chào mừng Quốc khánh lần thứ 24 (2-9-1945/2-9-1969) thì một tin đau buồn lớn đến với đồng bào và chiến sỹ cả nước: Ngày 2-9-1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam từ trần. Đây là một tổn thất vô cùng lớn lao đối với nhân dân ta. Ngày 4-9, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị về tổ chức tang lễ Người trong cả nước. Huyện uỷ tổ chức lễ tang trong 2 ngày (6-7/9-1969) biểu thị lòng biết ơn sâu sắc công lao trời biển của Bác, có hơn 64.300 lượt người của 245 đoàn trong huyện đến viếng. Các cấp, các ngành cũng đặt bàn thờ Bác ở nơi trang trọng và thiêng liêng nhất. Cùng với cả nước, đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà dấy lên khí thế “Biến đau thương thành hành động cách mạng”, “Lập công dâng Bác”, “Sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Có nhiều đơn vị, cá nhân điển hình tiên tiến, trong đó có những cụ 70-80 tuổi vẫn gương mẫu lao động phục vụ tập thể, nhiều cán bộ đảng viên trẻ, đảng viên nữ hăng hái công tác, sẵn sàng chiến đấu.
Năm 1970, công tác kiểm tra là trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, nhất là từ khi có Chỉ thị 192 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về nâng cao chất lượng đảng viên, làm cho Đảng vững mạnh trong sạch, gắn củng cố Đảng với phong trào quần chúng thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương. Tháng 12-1970, Hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng của Huyện uỷ đã đánh giá “Năm 1969 là năm kiểm tra Đảng… tuyệt đại bộ phận đảng viên gương mẫu rèn luyện tu dưỡng được Đảng và quần chúng rất tin tưởng. Những cán bộ đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng tuy số lượng không nhiều nhưng khá trầm trọng, nhiều cán bộ có chức có quyền từ HTX trở lên, có cả bí thư, chủ tịch xã “… năm 1969, có 197 đảng viên bị kỷ luật trong đó có 14 đồng chí cấp ủy, có đảng viên thủ tiêu đấu tranh, đòi chia HTX, xin ra HTX…
Hội nghị đã chỉ ra một trong những nguyên nhân cơ bản vẫn là do công tác kiểm tra chưa được triệt để “Mới có 6 Đảng uỷ có người kiêm nhiệm công tác kiểm tra… Có 3 năm Huyện uỷ không kiểm tra… Qua 1 năm có 6 Đảng bộ không xét một trường hợp kỷ luật nào, 3 Đảng bộ trong 3 năm không có án nào (Quang Minh, Thái Sơn, Đồng Tân). Xét và kỷ luật chậm (Đồng Tân có 2 đảng viên trốn nghĩa vụ quân sự, 1 đánh dân, 1 bê tha cờ bạc)…”.
Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ X tổ chức từ ngày 13 đến 18-5-1971. Về dự Đại hội có 140 đại biểu (136 đại biểu chính thức). Đại hội “đã làm việc với tinh thần hết sức khẩn trương, tưng bừng phấn khởi, đoàn kết nhất trí, tin tưởng quyết tâm…”.
Về công tác Đảng, Đại hội X đánh giá: “Việc gắn công tác Đảng, công tác quần chúng với nhiệm vụ chính trị trên một số mặt tiến bộ… ý thức trách nhiệm, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, sửa chữa khuyết điểm của một bộ phận đảng viên khá hơn… Đưa đảng viên ra rèn luyện trong phong trào quần chúng, mở rộng cho quần chúng phê bình xây dựng Đảng… Về xử lý những đảng viên vi phạm kỷ luật so với những năm trước có tích cực và kịp thời hơn”. Tuy nhiên “Chưa gắn chặt và chuyển kịp thời với nhiệm vụ chính trị, trình độ kiến thức về mọi mặt của đảng viên còn yếu, quản lý sử dụng và phân công kiểm tra đảng viên còn nhiều lúng túng. Một bộ phận đảng viên và cơ sở yếu kém còn để kéo dài. Nhiều trường hợp hữu khuynh chưa nghiêm, nhất là với những đảng viên có chức có quyền”.
Ban chấp hành khoá X (nhiệm kỳ 2 năm 1971-1972) do Đại hội bầu được 20 đồng chí (trong đó 7 đồng chí Thường vụ, 2 dự khuyết, 3 nữ, 3 chủ nhiệm HTX nông nghiệp). Đồng chí Đặng Văn Thọ được bầu lại làm Bí thư Huyện uỷ.
Thi hành Nghị quyết Đại hội, Huyện uỷ thành lập “Ban chỉ đạo củng cố cơ sở Đảng”. Tiến hành tổng kết thực hiện Chỉ Thị 192 của Ban Bí thư Trung ương về việc “Đưa những đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng”. Tổ chức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng tiếp tục học tập tài liệu “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của Hồ Chủ tịch. Liên hệ với thực tiễn trong công tác xây dựng Đảng, còn một bộ phận cán bộ đảng viên lúc này “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh… Hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ đảng viên… Kỷ luật Đảng phải nghiêm minh, công tác kiểm tra Đảng phải chặt chẽ”. “Chuyển sang thời bình, Huyện uỷ có điều kiện xem xét đánh giá chất lượng cơ sở Đảng và đảng viên, giải quyết có tình, có lý, cho tự nguyện xin ra và kỷ luật nghiêm minh đúng người, đúng tội, đúng điều lệ. Đảm bảo được sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng chính quyền và đoàn thể vững mạnh”.
Về xây dựng chính quyền, ngay từ đầu năm 1969, để chuẩn bị cho bầu cử HĐND 3 cấp được tốt, Huyện uỷ đã ra Nghị quyết số 8 (1-2-1969) về việc vận động giáo dục công dân tìm hiểu luật bầu cử, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, giám sát những uỷ viên hội đồng đương nhiệm, phát hiện những người có năng lực uy tín để đề cử.
Ngày 27-4-1969 trong cuộc bầu cử HĐND tỉnh, huyện và xã (khoá 5) nhiệm kỳ 1969-1971, có 49.650 cử tri đi bầu. Bầu ra 49 đại biểu HĐND huyện, 716 đại biểu HĐND xã .
Tháng 4-1971 trong cuộc bầu cử Quốc hội khoá IV và bầu cử HĐND 3 cấp (huyện khoá 6, xã khoá 7), có 87,8% cử tri đi bỏ phiếu (có 4 đơn vị 100% là Hùng Sơn, Đồng Tân, Thường Thắng và Thị trấn), không có sự khiếu nại, bầu lại, bầu thêm. Trong các nhiệm kỳ “Sự hoạt động của hội đồng nói chung là tốt, hầu hết các đại biểu đều tham gia một cương vị công tác và phát huy được trách nhiệm của mình” nhưng “Còn biểu hiện tư tưởng hữu khuynh, chưa phát huy hết chức năng trong quản lý kinh tế – xã hội, bảo vệ tài sản Nhà nước và tập thể… nhất là các xã còn lúng túng bị động, luộm thuộm, chưa tôn trọng về nguyên tắc và đề cao được uy tín của chính quyền, không biết sử dụng chính quyền để bảo hộ HTX, đẩy mạnh sản xuất và thực hiện các chính sách, do đó hạn chế kết quả sự lãnh đạo của Đảng”.
Các đoàn thể và tổ chức xã hội cũng được quan tâm củng cố, kiện toàn. Tháng 4 năm 1969, Đại hội lần thứ VIII Đoàn thanh niên Lao động huyện. Tháng 11 -1969, Đại hội Mặt trận Tổ quốc huyện. Tháng 5-1970, Đại hội “Phụ nữ 3 giỏi”. Tháng 8-1970, Đại hội Cháu ngoan Bác Hồ. Tháng 3-1972, Đại hội “Hội mẹ chiến sỹ” toàn huyện… đã tổng kết công tác, đề ra phương hướng nhiệm vụ mới và kiện toàn tổ chức, đưa hoạt động của các đoàn thể, tổ chức xã hội đi vào nền nếp.
Lực lượng Đoàn viên thanh niên với tinh thần “Vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, vì lý tưởng cộng sản, vì CNXH, vì thống nhất Tổ quốc, Thanh niên anh dũng tiến lên !” Phong trào thanh niên vẫn là lực lượng xung kích, thể hiện quyết tâm “Làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm”, “Đảng cần là có, Đảng gọi là đi” … bằng những công trình “Đoạn đường thanh niên”, ” Xe cải tiến thanh niên”, “Thanh niên 5 tấn, 10 tấn”… Vụ đông xuân năm 1968 – 1969, Huyện Đoàn Hiệp Hoà là đơn vị khá nhất tỉnh về làm bèo hoa dâu, đưa giống mới vào đồng ruộng, làm khoai lang Trung Hoà… được Trung ương Đoàn tặng bằng khen. Hằng năm, thông qua phong trào nhiều cấp bộ đoàn và đoàn viên đã được bình bầu, công nhận đạt tiêu chuẩn “4 tốt”.
Công tác thiếu niên nhi đồng có tiến bộ mọi mặt. Các phong trào thi đua “Mừng đất nước nở hoa, vâng lời Bác Hồ dạy”, “Vì độc lập tự do, quyết tâm làm người chiến sỹ nhỏ thắng Mỹ”… Đã thu hút phần lớn các em tham gia, nhiều em trở thành tấm gương tốt cho phong trào. Từ năm 1968 đến 1972, có 49 em nhặt được của rơi đem nộp cho tổ chức và trả lại người mất, hàng trăm em là con ngoan trò giỏi. Trung bình mỗi năm có từ 81-85% số em được kết nạp vào đội Thiếu niên tiền phong và Nhi đồng tháng Tám. Số em đạt danh hiệu Cháu ngoan Bác Hồ ngày càng nhiều (*). Đó là kết quả rèn luyện của các em trong môi trường hoà bình, được các thế hệ cha anh dìu dắt theo quan điểm, đường lối của Đảng và Bác Hồ “Vì tương lai con em chúng ta”.
Mặt trận Tổ quốc phát huy vai trò đại đoàn kết huy động được sức mạnh toàn dân, thực hiện các nhiệm vụ của địa phương và vận động nhân dân, giúp đỡ các đơn vị đóng quân, sơ tán tại Hiệp Hoà trong những năm chiến tranh ác liệt .
Những bậc cao tuổi cũng rất hăng hái tham gia đóng góp phần còn lại sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp của Đảng. Tại Hội nghị “Tổng kết công tác toàn dân làm việc chống Mỹ cứu nước” năm 1969 có 9.347 phụ lão “3 giỏi”. Đại hội phụ lão toàn huyện (tại xã Đông Lỗ) tháng 10-1969, có 178 đại biểu thay mặt cho hơn 12.940 cụ trong huyện (trong đó có 10.360 cụ “3 giỏi”, 98 cụ trên 80 tuổi) nhiều cụ phát biểu rất sâu sắc và cảm động .
Trong bất cứ nhiệm vụ nào, hội phụ lão cũng gương mẫu cho con cháu noi theo. 7.800 cụ gửi tiền tiết kiệm “chống Mỹ cứu nước” thành lập tổ đào hố trồng cây XHCN. “Các cụ đã đồng lòng, đồng sức quyết tâm cắm lá cờ quyết thắng trên mặt trận nông nghiệp “.
Hội phụ nữ trong tình hình mới vẫn duy trì được các phong trào thi đua yêu nước sôi nổi, nhiều chị em được nhân dân ca ngợi và học tập, được quần chúng suy tôn là “Cúc Hoa thời nay”, “Trung hậu đảm đang”.
V. TIẾP TỤC XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỮNG MẠNH, CHI VIỆN HƠN NỮA CHO TIỀN TUYẾN, GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT TỔ QUỐC (1973-1975)
Ngày 27-1-1973, trước thế tiến công như vũ bão của quân và dân ta, đế quốc Mỹ và nguỵ quyền Sài Gòn đã buộc phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Sau nhiều năm chiến đấu vô cùng gian khổ và anh dũng, quân và dân ta đã “đánh cho Mỹ cút” và tiếp tục “đánh cho nguỵ nhào” tiến tới giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.
Trong niềm vui lớn của cả nước, Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà với khí thế “Tất cả cho tiền tuyến” đã xác định quyết tâm “Dù khó khăn thiếu thốn thế nào thì nhiệm vụ tuyển quân và công tác chi viện cho tiền tuyến vẫn phải hoàn thành… Tập trung trí tuệ toàn Đảng bộ và nhân dân vào những nhiệm vụ trọng tâm… Nếu không, chúng ta có tội với Đảng, với đồng bào miền Nam”. Để tạo khí thế quyết tâm và hành động cách mạng cao hơn nữa, Huyện uỷ chỉ đạo các chi, đảng bộ khẩn trương tiến hành đại hội cơ sở, chuẩn bị cho Đại hội đảng bộ huyện lần thứ XI.
Đại hội lần thứ XI diễn ra từ ngày 25 đến ngày 29-3-1973 tại hội trường UBHC huyện, có 161 đại biểu thay mặt cho 3.061 đảng viên. Tinh thần đại hội là “Tin tưởng tuyệt đối, phấn khởi quyết tâm cao, đảng bộ cùng nhân dân Hiệp Hoà-Vì CNXH, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc tiến lên !”. Đại hội thông qua “Báo cáo chính trị” và thảo luận tập trung vào các nội dung chính:
1. Phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở kinh tế địa phương.
2. Tổ chức thực hiện 3 cuộc cách mạng (Quan hệ sản xuất-Khoa học kỹ thuật-Tư tưởng văn hoá).
3. Công tác quân sự địa phương, giao thông vận tải, bảo vệ trị an và pháp chế XHCN.
4. Thực hiện nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, tăng thu nhập cho ngân sách địa phương.
5. Tổ chức đời sống nhân dân.
6. Công tác Đảng, công tác quần chúng…
Đại hội đánh giá “Đầy đủ và đúng đắn thành tích và khuyết điểm với thái độ phụ trách, nghiêm túc… Trên cơ sở đó phát huy ưu điểm, ra sức khắc phục tồn tại thiếu sót trong suy nghĩ và hoạt động. Nhất định Đảng bộ và nhân dân ta sẽ làm nên những thành tích, ưu điểm lớn hơn, toàn diện hơn”. Đồng thời “Xác định rõ phương hướng nhiệm vụ và trách nhiệm của đảng bộ trong sự nghiệp xây dựng kinh tế, văn hoá, đời sống của địa phương và góp phần tích cực vào sự nghiệp cách mạng chung của toàn Đảng, toàn dân”.
Đại hội đã bầu 19 đồng chí vào Ban chấp hành trong đó 7 đồng chí trong Ban thường vụ Huyện ủy. Đồng chí Đặng Văn Thọ được bầu lại làm Bí thư Huyện ủy.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội với “Khí thế mới, thắng lợi mới”, Huyện uỷ chỉ đạo ngay đợt tuyên truyền rộng rãi về thành công của Đại hội, về thắng lợi ở miền Nam và thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của ta… Về tổ chức, tiếp tục “Lồng ghép” các chức danh, kết hợp các nhiệm vụ kinh tế-quốc phòng an ninh, văn hoá, giáo dục. Về chính trị tư tưởng, mở đợt học tập “Phẩm chất đạo đức cách mạng”, học tập Nghị quyết 37 của Tỉnh uỷ về “Phát huy ưu điểm, ra sức khắc phục sửa chữa khuyết điểm”… “Nghị quyết 77-78/HĐCP của Hội đồng Chính phủ về “Củng cố HTX gắn với cơ sở Đảng yếu kém”, và Chỉ thị 192/TW”. Lúc này tình hình trong Đảng bộ có nhiều khó khăn. Năm 1973, toàn đảng bộ có 508 đảng viên bị kỷ luật (18%). Huyện uỷ kỷ luật nghiêm minh những cán bộ lãnh đạo vi phạm kỷ luật như: Bí thư đảng uỷ xã Hoàng Thanh, một số đảng uỷ viên xã Hoàng Vân, Xuân Cẩm, Đông Lỗ, và chi uỷ viên thuộc đảng bộ Đồng Tân, Lương Phong, Hoàng Lương…
Thực hiện Nghị quyết 228/BCT của Bộ chính trị, tiếp tục củng cố, chỉnh đốn Đảng, kiểm tra phân loại cơ sở đảng và đảng viên. Tháng 9-1974, các chi, đảng bộ mở đại hội, đã kiện toàn các cấp uỷ. Về số lượng tăng 1,8%, tuổi trẻ (dưới 30%) tăng 19,3%, văn hoá cấp 2 tăng 31,7%… so với khoá trước.
Đại hội đại biểu đảng bộ huyện lần thứ XII tổ chức vào tháng 10-1974 nhiệm kỳ 2 năm (1975-1977), 247 đại biểu đại diện cho 2.905 đảng viên trong Đảng bộ về dự. Đại hội đã bầu Ban chấp hành khoá XII gồm 38 đồng chí (3 dự khuyết) trong đó Ban thường vụ 9 đồng chí. Đồng chí Đặng Văn Thọ tiếp tục được bầu làm Bí thư Huyện ủy. Báo cáo chính trị của Đại hội nêu rõ: “Đảng bộ ta tăng cường chỉ đạo thực hiện Chỉ thị 192… Tăng cường giáo dục tinh thần yêu nước, yêu CNXH, yêu quê hương làng xóm, hồi tưởng so sánh sự trưởng thành, đổi mới, nâng cao lòng tự trọng, thấy trách nhiệm, đoàn kết nhất trí, kiên trì chịu khó, khắc phục khó khăn, quyết tâm xây dựng đảng bộ vững mạnh về tổ chức và tư tưởng”.
Công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng đã có nhiều tiến bộ, đảm bảo sự lãnh đạo chính quyền, đoàn thể và nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ. Về công tác cán bộ, Huyện uỷ thực hiện phương châm: “Kiên quyết – dứt điểm – kỷ luật nghiêm – đề bạt đúng – cán bộ đức độ – tài năng – cống hiến”. Trong nhiệm kỳ đã đề bạt 17 trưởng, phó ngành, phân công 31 đảng viên làm đội trưởng sản xuất, xử lý 592 vụ (vi phạm chính sách 17%, tham ô 53%, các hình thức khác 30%: khai trừ 335 đồng chí, lưu Đảng 36 đồng chí, cảnh cáo 155 đồng chí, khiển trách 16 đồng chí).
Về nhiệm vụ phát triển sản xuất và đời sống, “Báo cáo chính trị” Đại hội XII nêu rõ: “Đảng bộ và nhân dân ta trải qua 20 tháng phấn đấu khẩn trương… xây dựng kinh tế văn hoá, đời sống và góp phần tích cực vào sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân”. Dưới ánh sáng các nghị quyết Trung ương và Tỉnh uỷ, trên mặt trận nông nghiệp, huyện Hiệp Hoà thu được những thành tích quan trọng: “Vụ mùa năm 1973 so với 10 năm về trước (1963-1973) là thắng lợi to lớn có tính chất lịch sử và mở ra triển vọng rất tươi đẹp: vì năng suất đạt 787 kg/mẫu – cao nhất từ trước đến nay. So với 1972 diện tích nông nghiệp đã tăng đáng kể (lúa 8%, lạc 3,5%, ngô 6,2% khoai tây 16%…”).
Về chăn nuôi đã đi đúng hướng, có trọng tâm như nghị quyết đại hội đề ra: “đẩy mạnh chăn nuôi, chú trọng tăng đàn lợn giống và theo kỹ thuật mới”. Tháng 10-1973 huyện thành lập trại lợn giống để cung cấp cho nhân dân. So với 1972 tổng đàn lợn tăng 2.221 con (lợn nái tăng 26,4%, lợn lai kinh tế tăng 238% và 100% làm chuồng 2 bậc, xây kiên cố). Đàn trâu bò tăng 418 con. Những đơn vị có phong trào chăn nuôi khá như HTX Bình Dương, Trung Hoà… và Hợp Thịnh, Bắc Lý, Hùng Sơn, được tỉnh cấp bằng khen, HTX Xuân Thành, Lữ Vân được huyện biểu dương về chăm sóc và phát triển trâu bò sinh sản.
Huyện uỷ tăng cường chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất đi đôi với củng cố HTX, kiện toàn các cấp, các ngành ở cơ sở, kiên quyết chấm dứt tình trạng buông lỏng về quản lý tư liệu lao động, vật tư tiền vốn và những sai phạm nguyên tắc, thực hiện tốt Nghị quyết 22/TW về khắc phục và phát triển kinh tế 2 năm 1974-1975, kết quả xã viên gắn bó với HTX, có ý thức làm chủ cao, phấn khởi, yên tâm lao động sản xuất, hăng hái tham gia các nhiệm vụ khác.
Về công tác thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng, trong 2 năm (1973-1974) đã hoàn thành chương trình đắp đê với khối lượng 94.807m3 và 574.419 m bờ vùng bờ thửa (*), chống úng cho 871 ha, tu sửa kênh mương, trông giữ nước được 124.990 m3 chống hạn cho 143 ha.
Nhờ đẩy mạnh sản xuất phát triển toàn diện, mạnh mẽ, nên vấn đề lương thực làm nghĩa vụ nhà nước đảm bảo nhanh và nhiều hơn : lương thực đạt 113% (1973), 116% (1974), thực phẩm, nông sản: 1973 đạt 109%, năm 1974 đạt 116,4% (riêng đỗ tăng 8,3 tấn, lạc tăng 542 tấn…). Nhiều xã đạt cao như Mai Trung, Hợp Thịnh, Ngọc Sơn… và nhiều xã cố gắng vươn lên như Quang Minh, Bắc Lý, Xuân Cẩm, Hoàng Vân… đều đạt 95-100% kế hoạch hàng năm. Tuy nhiên so với yêu cầu thì khả năng làm nghĩa vụ còn lớn hơn nữa.
Cùng với nông nghiệp, ngành thủ công nghiệp đã khắc phục khó khăn về nguyên liệu, về tổ chức, làm ra ngày càng nhiều sản phẩm. Tổng khối lượng các mặt hàng năm 1974 so với năm 1972 tăng 92,6%, 6 tháng cuối năm 1974 tăng 154% so với cùng kỳ năm 1973. Giá trị bán ra năm 1974 tăng 127% so với năm 1973.
Ngành ngân hàng, tín dụng thực hiện chủ trương “Về cơ sở, đến với cơ sở” và sự cố gắng của cán bộ trong ngành nên kết quả đạt khá, tác dụng tốt.
Các HTX nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, vận tải, các ngành nghề… đều được vay tiền để hoạt động. Do quản lý tốt nên năm 1974 Ngân hàng bội thu 119.584 đồng (năm 1973 bội chi 1.300.000 đồng).
Hoạt động của ngành y tế, giáo dục, văn hoá, xã hội: sau những năm chiến tranh phá hoại và thiên tai nay có điều kiện “Củng cố, cải tạo, xây dựng và phát triển” (Nghị quyết Đại hội XII) cả về tổ chức, cơ sở vật chất, kỹ thuật và hoạt động chuyên môn. Năm 1974 so với năm 1973: Cán bộ y tế cấp huyện tăng 23 người, cấp xã tăng 105 người, số giường bệnh ở 2 tuyến tăng 96, số người khám và điều trị tăng 14%… Các phong trào vệ sinh vẫn được duy trì tốt (năm 1973 thanh toán xong bệnh mắt quặm), công tác điều trị bệnh và khám tuyển thanh niên nhập ngũ có hiệu quả cao.
Sự nghiệp giáo dục đã phát huy thành tích những năm trước, các trường đều chuyển từ nơi sơ tán về các khu trung tâm, cơ sở vật chất được tăng cường. Năm học 1973-1974 có 156 lớp vỡ lòng, 5.600 cháu, mẫu giáo có 2.023 lớp, 5.690 cháu (85,6% KH), phổ thông cấp I có 4.490 lớp, 16.606 em (95% KH). Cấp II có 169 lớp, 6671 em, cấp III có 2 trường 22 lớp, 980 em. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp: cấp I là 85%, cấp II: 71%, cấp III: 69%. Nhà nước đầu tư và nhân dân đóng góp 87.251 đồng, xây dựng 69 phòng học mới, 159 gian nhà tập thể giáo viên, 1.298 bộ bàn ghế. Chấm dứt tình trạng học 3 ca, học đứng ở phổ thông. Kiện toàn các chi bộ, công đoàn, đoàn thanh niên, sắp xếp lại đội ngũ giáo viên. Hàng năm đều tổ chức bồi dưỡng chính trị cho cán bộ quản lý và giáo viên trong dịp hè, các đợt học tập chính trị do huyện uỷ chỉ đạo. Các phong trào thi đua: “Dạy tốt, học tốt”, thực hiện “10 điều không vi phạm” được phát động sâu rộng trong thầy giáo và học sinh (không nói tục, chửi bậy, gây gổ…). Toàn ngành có 18 chiến sỹ thi đua, 239 lao động tiên tiến, 14 học sinh giỏi cấp tỉnh, 11 em cấp huyện, 1 em được dự thi học sinh giỏi miền Bắc… Mặc dù còn những khó khăn thiếu thốn, nhưng với sự cố gắng nỗ lực của thầy và trò, ngành giáo dục đã thể hiện sự vươn lên không ngừng của một ngành mũi nhọn giàu truyền thống.
Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thông tin làm cho đời sống tinh thần nhân dân được nâng lên rõ rệt. Việc mua và đọc báo, tạp chí tăng đáng kể. Ngành bưu điện năm 1973 đạt 101%KH. Phát hành báo chí năm 1973 đạt 113% KH (368.161 tờ báo các loại), năm 1974 lên 396.921 tờ (107% KH)… Thực hiện đúng phương châm “Nhanh, nhiều, đúng, đủ”, “Sách báo là món ăn tinh thần của Đảng, của quần chúng”. Báo cáo tại hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 1974 đã nêu rõ: “Công tác thông tin thời sự chính sách được mùa lớn… như những luồng gió mới thổi cao hơn, mạnh hơn tinh thần yêu nước của nhân dân Hiệp Hoà”.
Cùng với nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, nhiệm vụ bảo vệ trật tự, giữ gìn an ninh và chi viện được các cấp, các ngành thực hiện tốt. Hội nghị Ban thường vụ Huyện uỷ ngày 29-1-1973 đã xác định “Trong tình hình mới, lực lượng Công an, dân quân tự vệ chẳng những đảm bảo số lượng mà chất lượng phải được nâng lên, đáp ứng mọi yêu cầu của tình hình…”.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đảm bảo 100% đảng viên là dân quân tự vệ. Chính trị viên xã đội đều là Thường vụ đảng uỷ, ở đại đội là chi uỷ. Tăng cường công tác huấn luyện, diễn tập để nâng cao chất lượng dân quân tự vệ.
Công tác khám tuyển và nhập ngũ có tiến bộ vượt bậc, mặc dù yêu cầu về số lượng ngày một tăng. Tuyển quân đợt 1 năm 1973 có 8 xã thì đợt 2 (tháng 8) có 26/26 xã, thị trấn, vượt chỉ tiêu, điển hình là Hoàng Thanh đạt 148% (nữ 150%), Quang Minh 126 (nữ 117%), Bắc Lý 117% (nữ 140%), Thanh Vân 111% (nữ 120%), Thị trấn và Lương Phong 119%. Chỉ tiêu toàn huyện đạt 115%. Năm 1974 lại càng phát huy cao hơn nữa, đạt 181% KH, tinh thần, ý thức của thanh niên rất cao, 100% xung phong tình nguyện, vui vẻ phấn khởi lên đường nhập ngũ.
Bước sang năm 1975, thời cơ giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng miền Nam đã xuất hiện. Chiến thắng liên tiếp ở tiền tuyến làm nức lòng quân và dân ta, càng thôi thúc thanh niên lên đường chiến đấu. Huyện uỷ tổ chức phổ biến quán triệt nhanh và khẩn trương thực hiện Nghị quyết 04/HĐCP và Chỉ thị 120/TW về công tác quân sự địa phương, chính sách hậu phương quân đội (*). Hưởng ứng rầm rộ phong trào “Toàn tỉnh ra quân, toàn quân ra trận”. Càng gần thắng lợi, yêu cầu chi viện càng cao. Chỉ tiêu tuyển quân năm 1975 gấp đôi năm 1974. Riêng đợt 1 đầu năm, khám sức khoẻ đạt 130% (3.590 người), trúng tuyển đi chiến đấu đạt 180% chỉ tiêu cả năm. Có 317 thanh niên nhập ngũ mới 17 tuổi. Đồng thời công tác tuyển sinh cũng đạt 125%, tuyển lao động đạt 130% KH… Huy động lương thực đạt cao: 6 tháng cuối năm 1974 với cố gắng rất lớn đã đạt 140% KH, thì 3 tháng đầu năm 1975 trong lúc giáp hạt vẫn đạt 160%…
Trong thời điểm quyết định của lịch sử, đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà muôn người như một, bằng cố gắng phi thường cùng cả nước làm nên chiến thắng vĩ đại 30-4-1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Và đúng ngày Quốc tế lao động 1-5, hơn 6000 đại biểu dự mít tinh trọng thể mừng chiến thắng và đón nhận Huân chương về “Công tác chi viện” chào mừng sự toàn thắng của cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới: cả nước đi lên xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Kỳ sau đăng tiếp phần năm: ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN HIỆP HOÀ CÙNG CẢ NƯỚC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC (1976 – 2010)
BBT.





Bình luận về bài viết này