HIỆP HOÀ TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG, GÓP PHẦN CHI VIỆN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT TỔ QUỐC (1965-1975)

I. THỰC HIỆN PHÒNG KHÔNG NHÂN DÂN-XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CHIẾN ĐẤU, CHI VIỆN CHO TIỀN TUYẾN (1965-3/1968).

Năm 1965, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh cục bộ ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta lúc này như hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 11 (3/1965) khẳng định: “Với những âm mưu và hoạt động mới của đế quốc Mỹ, tình hình một nửa nước có chiến tranh, một nửa nước có hoà bình đã biến thành cả nước có chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau mỗi miền. Miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn. Những nhiệm vụ lớn của miền Bắc là: Vừa xây dựng vừa trực tiếp chiến đấu và chi viện cho tiền tuyến”, “Lúc này, chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mọi người Việt Nam yêu nước”.Miền Bắc nhanh chóng thực hiện sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng.Ngày 27-3-1965 Tỉnh uỷ ra Chỉ thị “Về công tác động viên thời chiến”. Ngày 10-4 ra Nghị quyết “Về phòng không nhân dân”.

UBHC tỉnh mở hội nghị cán bộ về nhiệm vụ phòng không sơ tán trong toàn tỉnh. Tháng 5/1965 Tỉnh đội ra kế hoạch bổ sung về việc củng cố và tăng cường lực lượng vũ trang địa phương…Thực hiện chủ trương của Trung ương, của tỉnh, Huyện uỷ và UBHC huyện mở nhiều hội nghị cán bộ để quán triệt. Trước hết, kiểm tra lại toàn bộ công tác phòng không nhân dân, lực lượng vũ trang, biên chế và tổ chức chiến đấu, tuyên truyền rộng rãi hơn nữa trong nhân dân, củng cố quyết tâm chiến thắng trên mọi nhiệm vụ.Để tăng cường sức mạnh chính trị trong lực lượng vũ trang, đồng chí Bí thư Huyện uỷ làm chủ tịch Hội đồng quân sự , các ban xã đội đều có 5 đồng chí (Bí thư đảng uỷ kiêm chính trị viên xã đội, 2 xã đội phó, đều trong ban đảng uỷ xã). Lực lượng vũ trang từ cơ sở đến huyện đều được nâng lên về quân số, trình độ kỹ chiến thuật, phẩm chất chính trị, năng lực chỉ huy.

Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở Hà Bắc mở đầu bằng trận ném bom ngày 23-8-1965 tại thị trấn Kép (Lạng Giang). Sau đó 2 lần máy bay địch bay qua Hiệp Hoà. Lực lượng dân quân tự vệ được đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao và phối hợp với các đơn vị bộ đội phục vụ chiến đấu và chiến đấu. Nghị quyết Huyện uỷ ngày 8-4-1965 xác định: “Lực lượng dân quân tự vệ đông đảo, có ý thức tác phong kỷ luật nghiêm, được tổ chức chặt chẽ… Trong khi chiến sự chưa xảy ra, phải là lực lượng mạnh nhất thi hành các nhiệm vụ kinh tế, phòng không sơ tán và chi viện”.

Trong chiến dịch”Vụ mùa thắng Mỹ” năm 1965, lập thành tích mừng thọ Bác Hồ 75 tuổi, đặc biệt trên mặt trận nông nghiệp dấy lên phong trào “Ngày làm 3 buổi, tăng điểm, thêm công”(*) tiêu biểu như dân quân tự vệ xã Đức Thắng, Đoan Bái, Xuân Cẩm, Hoà Sơn.v.v… Nhiều đồng chí đạt 9 đến 12 công/ngày, có chị thồ 130 kg thóc chuyển vào kho. Vừa tham gia sản xuất, vừa mang súng bên người để sẵn sàng chiến đấu. Trung đội Hoà Tiến, Trung Thành, tiểu đội dân quân Nguyễn Thị Tắc, Nguyễn Thị Toán (Hùng Sơn) nhận trực chiến thay nam giới, ngày lao động sản xuất, đêm tuần tra canh gác… được Trung ương Đoàn khen. Tỉnh đội khen thưởng biểu dương dân quân xã Thường Thắng, Đức Thắng, trung đội Tân Tiến (Danh Thắng) và trung đội nữ Hùng Sơn.Về công tác phòng không, sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện, Hội đồng quân sự huyện đã tổng kết kiểm tra, đánh giá và bổ sung kịp thời, nhất là những nơi trọng điểm và xung yếu. Xây dựng các tổ bắn máy bay Mỹ ở Đức Thắng, Thị trấn, Xuân Cẩm, Châu Minh, Hợp Thịnh, Hùng Sơn, Hoà Sơn. Cho sửa thêm 1.480 hố cá nhân, 3.460 m giao thông hào. Triệt để thực hiện “Hầm hố đi trước, cầy cuốc theo sau, người ở đâu, hầm hố ở đấy”.

Ngày 20-01-1966 đồng chí Hoàng Quốc Việt về thăm và làm việc với đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà, sau đó lên thăm 2 xã Hoàng Vân và Hoàng An. Đồng chí Vũ Oanh, Phó Ban tổ chức Trung ương gửi thư thăm hỏi động viên, giao nhiệm vụ cho Hiệp Hoà. Sự quan tâm cổ vũ của Đảng, Nhà nước đã làm cho đảng bộ và nhân dân trong huyện càng phấn khởi và thấy rõ vinh dự, trách nhiệm của mình trong tình hình cách mạng mới.Đúng như dự đoán của trên, cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã lan đến Hiệp Hoà. 15 giờ ngày 24-4-1966, 3 máy bay Mỹ từ phía tây (Thái Nguyên) bay đến gây tội ác tại xã Hoàng Thanh-ném 4 quả bom và cũng là trận đầu tiên chúng bị trừng trị trên đất Hiệp Hoà: 1 máy bay bị tên lửa của ta bắn cháy, rơi xuống ấp Trản, quân dân xã Hoàng Thanh và xã Việt Ngọc (huyện Tân Yên) nhanh chóng khắc phục hậu quả, thu dọn bảo vệ các hiện vật (dù, máy bay…), chôn cất người bị chết và lập bia căm thù. Tin thắng trận làm nức lòng quân và dân trong huyện, khí thế đánh Mỹ và thắng Mỹ càng sôi sục và khẩn trương.

Ngày 8-5-1966, 10h10 phút, lợi dụng lúc trời nắng gắt, 4 máy bay Mỹ từ hướng tây lao tới, chia làm 2 tốp, lượn 2 vòng rồi bắn 18 quả rốc két, nhiều loạt đạn 20 ly vào trận địa bộ đội tên lửa phòng không ở xã Lương Phong, thả bom xuống làng Dinh Hương (xã Đức Thắng) gây thiệt hại cháy 71 gian nhà (của 17 gia đình), 2 người dân bị thương nhẹ, hy sinh 1 đồng chí bộ đội và bị thương 2 đồng chí, làm hư hỏng một số tài sản của cơ quan sơ tán. Trận này ta bắn 2 quả tên lửa diệt 1 máy bay Mỹ (rơi ở Vĩnh Phú). Địch hoảng sợ ném 5 thùng dầu phụ xuống xã Đức Thắng và xã Hương Lâm. Ngay sau khi địch rút, huyện đội, công an… phối hợp cùng dân quân và nhân dân địa phương giải quyết hậu quả, nhanh gọn, đúng phương án. Khuyết điểm là ý thức cảnh giác chưa cao, cán bộ y tế đến chậm, người xem (nhất là học sinh) đông… Sau đó Huyện uỷ chỉ đạo phát động căm thù, thông báo chiến sự cho nhân dân biết, tăng cường phòng không sơ tán.Giặc Mỹ đánh phá ngày càng dã man. Cuộc chiến đấu của quân và dân Hiệp Hoà ngày càng ác liệt.

Ngày 31-7-1966, lúc 7h, từ hướng Thái Nguyên nhiều máy bay Mỹ bay đến khu vực kho lương thực Độc Lập (thị trấn Thắng giáp xã Đức Thắng và Lương Phong) ném 30 quả bom, gồm bom phá và bom hơi gây thiệt hại nghiêm trọng về người và của. Trận đánh đang diễn ra đã có mặt đồng chí Bí thư huyện uỷ, Huyện đội trưởng… kịp thời chỉ huy mọi người phòng không sơ tán. Sau trận đánh, các đồng chí đi thăm hỏi động viên các gia đình bị thiệt hại. Phòng văn hoá cho dán hơn 300 khẩu hiệu xung quanh khu vực bị ném bom. Tối ngày 31 tháng 7, Huyện uỷ chỉ đạo tổ chức mít tinh, có hơn 2000 người dự nhằm tố cáo tội ác, vạch mặt kẻ thù dã man đánh vào khu kinh tế và dân thường. Hôm sau, kho lương thực, cửa hàng bách hoá, nông sản, xưởng cơ khí … được sơ tán để đề  phòng địch đánh tiếp(*). Các trận địa phòng không trực chiến căng thẳng suốt ngày đêm. Tháng 8 có 25 lần máy bay Mỹ bay qua Hiệp Hoà (8 lần vào ban đêm) trong đó nhiều trận chúng đánh phá rất thâm độc nhưng bị ta trừng trị đích đáng.Ngày 7-8-1966 mới 7h15 phút, 6 máy bay Mỹ từ phía huyện Đa Phúc (tỉnh Vĩnh Phúc) bay sang, quân và dân Hiệp Hoà cảnh giác cao, chủ động đánh trả rất quyết liệt. Ngay loạt đạn đầu đã bắn tan xác 2 chiếc (trong đó có 1 chiếc thứ 1.300 trên miền Bắc). Địch hoảng sợ ném bom bừa bãi xuống cánh đồng Tam Đồng (xã Đoan Bái) 5 quả bom (làm hư hỏng 2 sào mạ, 2 sào lúa và 1 cụ già bị sức ép); 3 quả bom xuống khu đồi thuốc HTX Tân Hưng (xã Đức Thắng) làm chết 3 con bò, 1 em bé bị thương nhẹ;  4 quả bom xuống xóm Yêm (xã Hoà Sơn) làm chết 4 người (3 em nhỏ) bị thương 1 người; 1 quả bom phá và 1 quả bom bi mẹ xuống khu dốc Thắng (cách thị trấn Thắng 800 m về phía đi Đông Lỗ) làm bị thương 1 người và 2 quả bom xuống xóm Minh Tân (Hoàng Vân) nhưng không thiệt hại gì.

Liên tiếp trong 2 ngày (8-9 tháng 8-1966), từ sáng sớm, máy bay Mỹ lại lao đến Hiệp Hoà, những đã phải tháo chạy vì bộ đội phòng không cùng quân và dân ta đánh phủ đầu quyết liệt, chúng không kịp gây tội ác.

Trước sự leo thang của giặc Mỹ, Tỉnh uỷ điện hoả tốc cho các huyện, thị về tinh hình phòng không sơ tán và sẵn sàng chiến đấu. Ngày 13-8-1966 Huyện uỷ họp phiên mở rộng để đánh giá tình hình: “…Tư tưởng cán  bộ đảng viên và quần chúng rất sôi sục căm thù đế quốc Mỹ và tay sai…tuy nhiên diễn biến tư tưởng rất phức tạp, một số hoang mang dao động, chủ quan coi nhẹ công tác phòng không…như trường công nghiệp nhẹ Trung ương sơ tán ở xã Bắc Lý có 470 học sinh, giáo viên nhưng không có 1 hầm hố nào…”.Sau hội nghị,  Huyện ủy kiện toàn ban sơ tán (8 đồng chí) do đồng chí Nguyễn Văn Hợp phó chủ tịch huyện làm trưởng ban. Ban kiểm tra phòng không (5 đồng chí ) do đồng chí Tạ Đình Đẩu, trưởng công an huyện làm trưởng ban. 6 tháng cuối năm 1966 toàn huyện đào thêm 3.850 hầm hố gia đình (nhiều gia đình có  4-5 hầm) 4.280 hầm hố nơi công cộng, 2.496 hầm hố dọc đường,  đào giúp các gia đình thuộc diện chính sách 462 hố, làm thêm 21.080 mũ áo rơm (điển hình là xã Hùng Sơn trung bình 2-3 hố/người). Tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau cùng làm có những điển hình tốt trong công tác phòng không sơ tán.Địch  tăng cường do thám và đánh phá. Tình hình chiến sự ngày càng căng thẳng. Các trận địa phòng không được tăng cường quân số, vũ khí và thường xuyên báo động. Thế trận chiến tranh nhân dân tầng tầng, lớp lớp ngày càng vững chắc. Phương án tác chiến, kỹ chiến thuật và kinh nghiệm chiến đấu được bổ sung kịp thời để sẵn sàng, chủ động tiêu diệt bọn cướp trời, trả thù cho bà con bị chúng giết hại.Ngày 20-9-1966, khoảng 9h, 2 máy bay Mỹ lợi dụng địa hình, bay thấp, bất ngờ từ phía Tây Bắc bay qua Hiệp Hoà về hướng Hà Nội. Trung đội dân quân xã Hoà Sơn trực chiến trên đỉnh núi Ia, do đồng chí Hoàng Đại Nghĩa chỉ huy, bằng súng bộ binh, ngay loạt đạn đầu đã bắn cháy một chiếc “Thần Sấm” F105D của giặc Mỹ. Chiến công này càng làm cho sức mạnh và lòng tin của Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà tăng lên gấp bội. Toàn huyện dấy lên phong trào học tập và thi đua với quân dân xã Hoà Sơn.Về công tác trị an, ta làm rất kịp thời, thu dọn và tiêu huỷ truyền đơn do địch thả xuống, không gây dư luận xấu, đưa đi cải tạo 15 tên phản động, cải tạo tại chỗ cho 27 đối tượng, ổn định tư tưởng trong vùng giáo dân ,giáo dục và đưa về đơn vị cũ 125 anh em đào, lạc ngũ.Địch mở rộng chiến tranh, dùng nhiều thủ đoạn nham hiểm và vũ khí tối tân  đánh phá ác liệt miền Bắc. Công tác phòng không sơ tán của ta  đã bộc lộ mặt mạnh, mặt yếu. Năm 1967 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Tổ chức đẩy mạnh công tác phòng không nhân dân” có ý nghĩa tổng kết kinh nghiệm và chỉ đạo các địa phương thực hiện. Toàn huyện có 68.000 lượt cán bộ đảng viên và quần chúng học tập Chỉ thị. Huyện thành lập 19 đội chuyên đào bới (788 người) cùng 292 đội bán chuyên ở các HTX, 43 tổ canh gác từ xa (viễn tiêu), 16 tổ trực chiến, sửa và làm thêm hàng ngàn hầm hào, mũ rơm, bịch đất để cất giấu tài sản trong nhà dân và cơ quan (điển hình là xã Lương Phong- 100% hộ có hầm và bịch đất trong nhà, hào ra vườn) đảm bảo trung bình có 5 hố/mẫu ruộng  và 20 m đường giao thông 1 hố trong toàn huyện. Ngoài ra có 350 tổ cứu thương (2480 người), 685 tổ cứu hoả (2480 người), 215 tổ liên lạc thông tin. Thường xuyên tổ chức các cuộc báo động diễn tập để các tổ chuyên môn thuần thục động tác, phối hợp nhanh, chi viện kịp thời.Năm 1967- năm ác liệt nhất trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (8/64 – 3/68). Tại Hiệp Hoà, ngay từ đầu năm, lúc 7 giờ, ngày 16-1, đế quốc Mỹ cho 12 máy bay  từ hướng tây nam bay  tới thả 24 quả bom (*) xuống 4 địa điểm thuộc các xã Hùng Sơn, Hoà Sơn và Thường Thắng. Khói bom chưa tan, bất chấp nguy hiểm, cán bộ và nhân dân cùng 30 học sinh trường Đại học TDTT- TW (sơ tán) lao vào khắc phục hậu quả, tìm bới tử thi, cứu người bị thương… Sau đó cùng  nhau sửa chữa nhà cửa  và canh gác những chỗ bom chưa nổ. Chỉ mấy ngày sau, vào lúc 10h (22-1-1967)- giặc Mỹ lại đến gây tội ác – 12 máy bay từ phía tây nam chia  làm 2 tốp lao đến, lượn một vòng rồi ném 47 quả bom từ kè Gia Tư, dọc bờ sông máng đến khu vực cầu Hương thuộc xã Hoàng Lương, Hoàng An và Thanh Vân gây nhiều tội ác…

Ngay sau khi địch rút, lực lượng dân quân tự vệ, dân công do huyện điều động (từ 9 xã gồm 1650 người) nhanh chóng đến khắc phục hậu quả, san lấp hố bom , hàn khẩu đê (kè An Cập). Huyện uỷ họp ngày 23 tháng 1 khẳng định địch tiếp tục đánh vào mục tiêu kinh tế và dân thường -phát động căm thù sâu sắc hơn nữa và sơ tán triệt để trong nhân dân.

Vào lúc 8h kém 15 phút ngày 7-6, 18 máy bay Mỹ từ phía tây ào ào bay vào, thả nhiều bom phá, bom bi xuống 4 xã Thanh Vân, Hoàng An, Ngọc Sơn và Hoàng Lương. Các trận địa bộ đội phòng không và dân quân tự vệ đánh trả quyết liệt. Dứt tiếng bom, 3 đồng chí Thường vụ Huyện uỷ, 3 đồng chí Huyện uỷ viên cùng cán bộ phụ trách cơ sở và lực lượng tại chỗ giải quyết hậu quả, hạn chế thấp nhất những tổn thất do địch gây ra.Ngày 11-6-1967 khoảng 10 giờ, 2 máy bay Mỹ lao đến, ném 2 quả bom xuống trận địa bộ đội cao xạ 57 ly thuộc địa phận HTX Tân Hưng (xã Đức Thắng). Bom không trúng mục tiêu nên không gây thiệt hại gì. Chúng bắn tên lửa xuống thôn Phú Thuận xã Đoan Bái làm chết 2 người dân.Càng thất bại, giặc Mỹ càng điên cuồng ngoan cố và liều lĩnh. Tính chất, quy mô và cường độ chiến tranh phá hoại đã và đang ở vào giai đoạn cực điểm. Không ngày nào nhân dân Hiệp Hoà không phải chứng kiến cảnh máy bay giặc dội bom đạn xuống các địa phương, hoặc Thủ đô yêu quý của chúng ta. Cuộc sống thời chiến vô cùng căng thẳng. Mọi suy nghĩ và hoạt động, mọi lực lượng vật chất và tinh thần đều ưu tiên cho chiến đấu.Ngày 19-6-1967 đế quốc Mỹ cho nhiều máy bay ném bom vào các xã Quang Minh, Hoà Sơn và Hợp Thịnh, gây tội ác dã man  về người và của ở các thôn xóm.Sang tháng 7, vào các ngày 17, 19 và 31 chúng liên tiếp đánh 3 trận cũng rất dữ dội vào nhiều xã trong huyện, gây nhiều tội ác với nhân dân ta. Như lửa đổ thêm dầu ! Biến căm thù thành hành động – Quân dân một ý chí “Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay , tăng cường đánh phá miền Bắc- Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được ý chí sắt đá quyết tâm chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chúng càng hung hăng thì tội ác của chúng càng thêm nặng. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ ! Không có gì quý hơn độc lập tự do”- Lời kêu gọi “Đồng bào và chiến sỹ cả nước” của Hồ Chủ tịch (ngày 17-7-1966) đã được chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thể hiện một cách hùng hồn và rực rỡ nhất. Hòa cùng cả nước, Hiệp Hoà sôi sục khí thế đánh Mỹ và thắng Mỹ, mọi người sát cánh bên nhau, đồng tâm hiệp lực, tích cực phòng không sơ tán, bất chấp bom đạn, sản xuất thắng lợi, chi viện kịp thời cho tiền tuyến.

Ngày 20-7-1967 Huyện ủy mở hội nghị “Báo công bình công” toàn huyện lần thứ nhất tại xã Hoà Sơn nhằm động viên đảng bộ và nhân dân trong huyện quyết tâm “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Ngày 24-10-1967 nhân dân và lực lượng vũ trang Hiệp Hoà vinh dự được được Đảng, Chính phủ tặng Huân chương quân công hạng 2, Huân chương chiến công hạng 2, hạng 3 và 3 cờ “Bắt giặc lái giỏi” về thành tích chiến đấu, góp phần vào thành tích chung của quân và dân Hà Bắc bắn rơi chiếc thứ 100 (miền Bắc: 2411 chiếc), là tỉnh bắt sống nhiều giặc lái nhất, được Bác Hồ gửi thư khen.

Trong 2  năm (1966- 1967) giặc Mỹ đã 19 lần đánh vào Hiệp Hoà ở 34 địa điểm của 21 xã (có xã bị đánh nhiều lần) bằng 268 quả bom phá, hơn 3.790 quả bom bi, 79 quả rốc két và 15 lần trinh sát, 8 lần thả truyền đơn vào 24 xã. Địch đã gây ra nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân trong huyện: Chết 199 người (trong đó có 35 trẻ em), bị thương 190 người (có 23 trẻ em), tài sản hư hỏng trị giá 179.909 đồng…

Về công tác tuyển quân: Tháng 4/1965 Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh, ban hành: “Luật nghĩa vụ quân sự thời chiến”. Tại Hiệp Hoà, Luật được phổ biến, học tập rộng rãi trong nhân dân trong đó có hơn 9.800 cán bộ chiến sỹ dân quân tự vệ tham gia. Hội đồng nghĩa vụ quân sự huyện cải tiến công tác khám tuyển và gọi thanh niên nhập ngũ. Có biện pháp kiên quyết xử lý những đối tượng vi phạm. Giải quyết có tình có lý với những quân nhân đào, lạc ngũ để họ yên tâm vui vẻ trở về đơn vị. Đồng thời tham mưu cho Huyện uỷ, UBHC huyện có kế hoạch cung cấp nhân lực cho các ngành theo yêu cầu của Nhà nước. Trong chiến tranh, các đợt tuyển quân diễn ra liên tục, động viên lớp lớp thanh niên Hiệp Hoà hăng hái lên đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ với Tổ quốc. Tuy nhiên do nhu cầu của chiến trường ngày càng nhiều mà khả năng thì có hạn nên công tác tuyển quân và cung cấp nhân vật lực cho Nhà nước gặp  nhiều khó khăn. Mỗi con số, mỗi chỉ tiêu đạt được là sự cố gắng rất lớn của Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà – Quyết tâm đảm bảo “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” – Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Sau đây là số lượng nhập ngũ của huyện Hiệp Hoà từ năm 1965 đến 1969:

Năm

Số lượng

nhập ngũ

Tỷ lệ %

(so với chỉ tiêu)

Đảng viên

Đoàn viên

Xuất ngũ,

phục viên về địa phương

1965

1990

102

192

822

46

1966

1460

100

77

848

193

1967

1261

79

123

701

201

1968

1348

98,8

162

699

124

1969

351

110.3

8

277

379

Nhiệm vụ xây dựng lực lượng hậu bị – dân quân tự vệ có ý nghĩa đặc biệt vì đây là nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu tại chỗ, làm nòng cốt thực hiện mọi nhiệm vụ khác, huyện thành lập một tiểu đoàn địa phương quân cơ động chiến đấu. Luôn duy trì 500-600 dân quân tự vệ đi dã ngoại hàng năm để rèn luyện ý thức và sức khoẻ. Đảm bảo 10-15% dân số trong lực lượng vũ trang của huyện(*). Nhiều xã làm tốt như Quang Minh, Đức Thắng, Đông Lỗ… Công tác huấn luyện quân sự, học tập chính trị, quân sự cho dân quân tự vệ được tiến hành nhiều đợt nhằm nâng cao giác ngộ chính trị và thuần thục các động tác chiến đấu.Các đơn vị bộ đội đóng quân và cơ quan, trường học sơ tán về huyện được nhân dân giúp đỡ hơn 17.800 ngày công, hơn 28.900 cây tre, gỗ, trên 2.400 kg quần áo cũ, 8.800 mũ, áo rơm; ủng hộ các đơn vị 138.900 kg lương thực, hơn 19.000 kg thực phẩm các loại và trên 48.000 đồng. Các đơn vị bộ đội, cơ quan, trường học, xí nghiệp… cũng đem đến cho địa phương nguồn động viên to lớn. Phong trào kết nghĩa có tác dụng tốt.Những việc làm tốt đẹp của địa phương đã góp phần làm cho bộ đội yên tâm phấn khởi chiến đấu, truyền thống yêu nước và cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà càng được phát huy.

II. CHĂM LO PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI TRONG NHỮNG NĂM CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT (1965-3/1968).

Nghị quyết Đại hội đảng bộ huyện lần thứ VII (vòng 2 tháng 9/1964) khẳng định: “Có chiến tranh nên càng phải củng cố quan hệ sản xuất XHCN mới mong hoàn thành các chỉ tiêu…”.Thực hiện Nghị quyết của Đại hội, Huyện uỷ tổ chức các đợt cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật và cải tiến tổ chức ở các HTX. Trước hết giảm bộ máy cồng kềnh, giảm số công điểm gián tiếp, thống nhất khoanh vùng, đẩy mạnh chuyên canh. Năm 1965 toàn huyện đã hợp nhất 25 HTX nhỏ thành 9 HTX bậc cao và thành lập 4 HTX từ 4 xóm trắng. Năm 1966 thực hiện Chỉ thị 176 của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Bổ khuyết về cải tiến quản lý đợt 1 vòng 2”, trong 2 tháng toàn huyện đồng loạt mở Đại hội xã viên, nhằm đánh giá tổng kết phong trào hợp tác hoá, đồng thời sáp nhập 32 HTX nhỏ thành 12 HTX bậc cao. Năm 1967 cải tiến tiếp vòng 3 và vòng 4. Tiến hành 12 cuộc kiểm tra phối hợp giữa tỉnh và huyện đối với cấp xã và HTX về cả 3 khâu: Quản lý ruộng đất, tài sản; quản lý lao động, quản lý tài vụ. Phát hiện và xử lý 93 vụ, 440 đối tượng đã lạm dụng, tham ô, lãng phí 31.400 đồng, 137.800 kg thóc, 126 mẫu ruộng và đồi bãi. Giảm được 109 cán bộ hưởng công gián tiếp từ đội phó đến chủ nhiệm HTX… Xã viên yên tâm phấn khởi, gắn bó với đồng ruộng và hăng hái sản xuất, đảm bảo các chế độ “3 có, “3 khoán, “3 quản lý” và “3 mục tiêu”(*). Hộ cá thể xin vào HTX ngày một tăng. Trong cuộc vận động tháng 10-1967 toàn huyện “…chỉ trong vòng 1 tháng đã phát triển được trên 600 hộ xã viên. So công việc làm 1 tháng bằng 2 năm 1965-1966 cộng lại. Đây là một tiến bộ rất đáng kể trong công tác củng cố phát triển HTX…”.

Trên mặt trận nông nghiệp, Huyện uỷ xác định trước hết và trọng tâm vẫn là thuỷ lợi và cải tạo đất bạc mầu. Phát huy thành tích những năm trước, nhận thức ngày càng đầy đủ hơn tầm quan trọng của công tác thuỷ lợi, nhằm từng bước giải quyết nạn úng lụt và hạn hán, đắp bờ vùng bờ thửa bình quân 15 m3/người. Huyện tập trung đầu tư vốn, ngày công và vật liệu vào xây dựng các công trình tưới tiêu thủy nông, đắp bờ vùng, bờ thửa và hệ thống mương máng nội đồng. Thực hiện tưới tiêu theo khoa học thực nghiệm cho 849 mẫu, thường xuyên có từ 80 đến 95 đội “202” thuỷ lợi chuyên trách. Ngoài các đội thuỷ lợi, thành lập thêm nhiều đội chuyên khác và dự trữ đầy đủ các phương tiện phòng chống thiên tai.Với tư tưởng “Chiến thắng bão lụt, đẩy lùi hạn hán” và khí thế cách mạng tiến công, Huyện ủy đã hoàn thành việc đắp đê phân lũ, với khối lượng lớn nhất: 91.445 m3 đất dự trữ trên mặt đê và sử dụng gần 1 vạn dụng cụ, chuẩn bị thêm 1 vạn m3 đất ở đê Đại Hà, 4000 m3 đất đê Yên Ninh, 50 vạn viên cay đất… Tổng khối lượng đất bằng 117 %, đá bằng 130% kế hoạch cả năm, đề phòng khi đê vừa tràn có thể hàn khẩu, khắc phục kịp thời.Chính những năm địch đánh phá ác liệt nhất cũng  là những năm Hiệp Hoà liên tục bị thiên tai nặng. Sức mạnh tổng hợp của quân và dân Hiệp Hoà được khơi dậy mãnh liệt để chống trả thiên tai địch họa. Với tinh thần “Trong Nam tìm Mỹ mà diệt, ngoài Bắc tìm nước mà tát “, quyết tâm “Dốc toàn lực chống hạn, thắng úng”. Hợp tác xã Trung Hòa (Mai Trung) được tỉnh và huyện chọn làm HTX trọng điểm làm thủy lợi, cải tạo đất bạc mầu, cải tiến kỹ thuật tiếp thu giống mới từ cây khoai lang, Trung Hòa đạt 5 tấn thóc /1ha đầu tiên của huyện, là HTX lá cờ đầu phát triển sản xuất toàn diện, cả lúa, màu, cây công nghiệp và chăn nuôi. Thành tích làm thủy lợi, cải tạo đất, phát triển sản xuất của Trung Hòa đã được Đảng, Nhà nước đánh giá cao, đồng chí Nguyễn Thị Song được tặng danh hiệu Anh hùng lao động.Đến cuối năm 1967 Hiệp Hoà đã có hệ thống các công trình thuỷ lợi khá hoàn chỉnh gồm, 1 kênh chính, 6 nhánh, 117 “chân rết”, 3 trạm bơm có đóng mở và âu thuyền, 5 cống dưới đê Đại Hà (Đại La, Xuân Biều, Choá, Lạc Khổng, Yên Ninh), 750 ao hồ, 56 đập, 36 ngòi tiêu, 34 máy bơm, 1 trạm thuỷ điện 10KW ( Cẩm Trang). Thực hiện tốt “4 kết hợp” trong thuỷ lợi: Trồng cây, thả cá, giao thông và quốc phòng.

Chính nhờ làm thuỷ lợi cải tạo đất mà nông nghiệp Hiệp Hoà đã phá được thế độc canh, xác định được cơ cấu cây trồng làm cho “Đồng ruộng đẹp trước, làng nước đẹp sau” thực hiện được phương châm “Lấy đất nuôi ruộng, lấy ruộng nuôi ruộng, lấy đồi, lấy đường nuôi ruộng”… cho nên năng suất lúa tăng lên, Đại hội Đảng bộ huyện làn thứ VIII xác định: “Lấy mục tiêu cải tạo đất bạc mầu, phấn đấu đạt 5 tấn /1 ha, thể hiện quyết tâm và sức mạnh của Đảng bộ và nhân dân huyện ta” và “Thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu của hàng đầu để thâm canh tăng năng suất”(*). Các biện pháp kỹ thuật cũng được đẩy mạnh theo hướng chuyên môn hoá như quản lý nước, làm phân, chọn giống, chăn nuôi…Với cây lúa, thay đổi giống cũ, dùng giống mới như Mộc Tuyền, Di Hương, Khê Lùn… ngắn ngày, có năng suất cao. 100% thóc giống được xử lý và gieo mạ luống, cấy nông, một dảnh, thẳng hàng. Phòng trừ sâu bệnh kịp thời, kết hợp vệ sinh đồng ruộng với bón vôi và phun thuốc chống sâu đục thân, vàng lụi… Phát triển giao thông nông thôn, phương tiện vận tải thô sơ như thuyền nan, xe bò, xe đạp thồ, cào cỏ cải tiến. Toàn huyện có 3.600 xe ba gác ổ bi, 25 máy xay xát, xây dựng thêm 5 trạm tuỷ lợi. Việc làm phân cũng đạt kết quả khá, đảm bảo 1 tấn phân các loại quy ra phân chuồng cho 1 ha, coi trọng cả 3 khâu sản xuất, tận thu và chế biến, khai thác triệt để nguồn phân phù sa, phân xanh – 13.000 mẫu bèo hoa dâu và 560 ha cây muồng muồng, điền thanh, cốt khí.Các loại màu lương thực, cây công nghiệp tăng đáng kể. Năm 1967 so về diện tích: lạc tăng 53%, khoai lang 65%, về sản lượng tăng 30% và 150%. Thực hiện khẩu hiệu “Không lân, không vôi thì thôi trồng lạc”, áp dụng giống khoai Hoàng Long và kỹ thuật Trung Hoà, phù hợp với đồng đất cát pha bạc màu cho năng suất cao, phấn đấu để “No về củ đủ về màu giầu về cây công nghiệp”.Về chăn nuôi: Năm 1967 so với 1965, lợn nái tăng gần 3 lần, đầu lợn trong gia đình tăng từ 1,57 lên 1,89 con/hộ, tiêu biểu là HTX Trung Hoà 337 con/337 hộ, HTX Bình Dương 195 con/129 hộ, HTX Ngọc Tân 101 con/98 hộ… Số chuồng trại tập thể thực hiện 3 khoán tăng từ 68 lên 140. Các biện pháp tiến bộ kỹ thuật như chuồng 2 bậc, chế biến thức ăn, phối giống… được áp dụng rộng rãi. Đàn trâu bò cũng tăng mạnh, nhưng tăng nhiều nhất là gia cầm như ngan, gà, vịt, ngỗng (*). ổn định vùng đất trồng dâu, phát triển cả tằm lá dâu và tằm lá sắn. Tăng cường nuôi ong ở các xã ven Sông Cầu và vùng thượng huyện. Nghề cá phát triển nhanh. 100% số HTX nuôi cá thịt (đạt bình quân 5-7 kg/người/năm), 40% số HTX có lò ươm cá giống (lãi 15.000-20.000 đồng/lò/năm). Năm 1967 so với 1965 số HTX nuôi cá tăng gấp 4 lần v.v…

Trong chiến tranh, vừa sản xuất vừa chiến đấu, nhân lực vẫn chủ yếu là phụ nữ nhưng nền kinh tế Hiệp Hoà vẫn không ngừng tăng trưởng. Lần đầu tiên trong lịch sử, lá cờ 5 tấn tung bay trên đồng đất bạc màu Hiệp Hoà: HTX Trung Hoà và HTX Trung Hưng đạt trên 5 tấn/ha; 30 HTX đạt xấp xỉ 5 tấn/ha – cho thấy “sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của cán bộ đảng viên và nhân dân… mở ra triển vọng to lớn những năm tới có khả năng thực hiện 5 tấn một cách rộng rãi…”. Và, cũng lần đầu tiên sau nhiều năm phấn đấu, mô hình kinh tế “Lúa lang”, “Lợn lạc” được kiểm nghiệm và đứng vững trên quê hương cách mạng.Cùng với sự đi lên trong nông nghiệp, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng được mở rộng nhằm đảm bảo hậu cần tại chỗ. Củng cố 2 xí nghiệp cơ khí Quang Trung và Tiền Phong. Khắc phục tình trạng thiếu thiết bị và nguyên vật liệu. Chủ yếu là sản xuất và sửa chữa, cải tiến công nông cụ thô sơ. Quản lý tốt các lò gạch. lò vôi để phục vụ theo yêu cầu của nhà nước. Xây dựng 16 cơ sở chế biến thực phẩm và nước chấm. Các nghề truyền thống được duy trì theo hướng tập thể hoá và kế hoạch hoá từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm. “Nguồn thu từ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp làm cho kinh tế huyện thêm ổn định, giải quyết đáng kể về công nông cụ…tiết kiệm cho nhà nước, tận dụng các ngành nghề truyền thống và nhân công nhất là lao động phụ ở các HTX “.Lĩnh vực kinh tế Nhà nước (Ngân hàng, Tài chính, Thương nghiệp…) sơ tán về các xã, có nhiều cố gắng. Cán bộ công nhân viên nêu cao ý thức “Mình vì mọi người”, “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”. Năm 1966 thương nghiệp tổng hợp Hiệp Hoà mua vào tuy có giảm 91.733 đ so với năm 1965 nhưng bán ra tăng hơn năm 1965 là 17.941 đồng. Có 9/13 mặt hàng bán ra vượt chỉ tiêu trong đó lợn hơi đạt 273 % KH. Ngành ngoại thương năm 1967 đã bán ra cho các HTX 59670 con vịt giống, 4500 quả trứng, 3,5 kg trứng tằm lá sắn cho 22 HTX nuôi tằm, 80 kg hạt giống thầu dầu, 3 kg hạt hoa hoè làm dược liệu. Cung cấp cho bộ đội 2,3 tấn gà vịt, hơn 16.000 quả trứng. Xuất khẩu tổng giá trị đạt 98% KH.

Về đóng góp với Nhà nước: Trong lúc cuộc kháng chiến cực kỳ gian khổ ác liệt, việc làm nghĩa vụ, thực hiện các chỉ tiêu ngày một cao.

Năm 1965  nhập kho tăng hơn năm1964 là 826.750 kg thóc, trong đó mua khuyến khích đạt mức chưa từng có: 1964 là 107.351 kg, năm 1965 là 563.452 kg (tăng 5 lần). Vận chuyển nhanh gọn hơn năm1964 là 7 ngày và 10 ngày sau khi gặt xong – Là huyện thứ hai trên miền Bắc (sau huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội) và là huyện dẫn đầu trong tỉnh Hà Bắc về công tác giao nộp thuế. Có 113 HTX (Cẩm Xuyên, Đại Mão, Đồng thịnh… đặc biệt HTX Trung Hoà hoàn thành nhanh nhất huyện, có ngày nhập 40 tấn thóc vào kho) và 16 xã hoàn thành vượt mức và đúng thời hạn (Quang Minh, Thái Sơn, Danh Thắng, Hùng Thắng, Đông Lỗ, Bắc lý, thị trấn)… Các hộ cá thể cũng làm nhanh hơn, nhiều hơn so với năm 1964 (2 ngày và 1.760 kg). Những đợt chuyển thóc vào kho, khí thế như ngày hội, những khẩu hiệu như: “Bán thóc nhanh nhiều là góp phần tiêu diệt giặc Mỹ”, “Mình làm nghĩa vụ vất vả nhưng chưa bằng đồng bào miền Nam ruột thịt” và “Tiết kiệm một hạt gạo là cung cấp một viên đạn cho bộ đội ta bắn vào đầu giặc Mỹ” được kẻ, dán ở khắp nơi – thể hiện  tinh thần trách nhiệm và tình cảm của nhân dân Hiệp Hoà với đồng bào cả nước. Hầu hết cán bộ về cơ sở, các ngành cũng vì thuế mà phục vụ. Việc thanh toán giao nhận giữa xã – HTX, hộ cá thể nhanh gọn. Năm 1967 các nghĩa vụ lương thực đều hoàn thành, có loại vượt đến 25%. Nghĩa vụ thực phẩm, Hiệp Hoà cũng làm tốt, năm 1965 được 7.374,8 tấn/6.177 tấn KH, 10 xã đạt cao như Hùng Sơn 122%, Bắc Lý 110%, Danh Thắng 108%KH… Tuy nhiên phong trào không đều, một số xã làm chưa tốt như Hương  Lâm 77%, Đoan Bái 79%… nếu tính bình quân theo hộ thì Hùng Sơn cao nhất 84 kg, Ngọc Sơn 58 kg, Danh Thắng 64 kg, thấp nhất là xã Hương Lâm, Mai Đình, Lương Phong, Thanh Vân, Đoan Bái… từ 25 – 31 kg/ hộ.

Công tác điều hoà lương thực trong nội bộ nhân dân là một mặt quan trọng của công tác lương thực: Đảm bảo kế hoạch Nhà nước và đảm bảo đời sống nông dân, trên cơ sở tiết kiệm, đẩy mạnh sản xuất, tự lực tự cường, động viên khí thế cách mạng của quần chúng, ra sức xây dựng CNXH ở miền Bắc, chi viện ngày càng nhiều cho cách mạng miền Nam. Thực hiện phân phối theo lao động, có ưu tiên diện chính sách và gia đình có hoàn cảnh  khó khăn. Những tháng giáp hạt, Nhà nước bán ra năm 1964 là 12 tấn thì năm 1965 chỉ có 1,7 tấn. Năm 1966 Nhà nước không phải bán ra mà tự cơ sở điều hoà được. Năm 1967 trong lúc giáp hạt toàn huyện quyên góp được hơn 50 tấn lương thực (trong đó mỗi cán bộ 2 kg)… Nhìn chung đời sống nhân dân vẫn ổn định và có nhích lên(*) (bình quân 16 kg thóc và 15 đồng/ người/tháng năm 1965 lên 17,5 kg, 15,1 đồng năm 1967).Sự nghiệp Giáo dục – Y tế – Văn hoá  xã hội có sự chuyển biến mạnh, phù hợp với hoàn cảnh mới, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị. Giáo dục phổ thông – Năm học 1964 – 1965 là năm học thứ 4 trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, tháng 9/1964, Bộ Giáo dục ra Chỉ thị nêu rõ:” Ra sức ổn định và củng cố phong trào, tích cực thực hiện thắng lợi mọi biện pháp để nâng cao thêm một bước về chất lượng giảng dạy và học tập, làm cho nhà trường gắn liền hơn nữa và phục vụ đắc lực hơn nữa công tác bảo vệ Tổ quốc”. Ngành giáo dục Hiệp Hoà tích cực nâng cấp và tăng số trường lớp, đảm bảo cho các em trong độ tuổi được đi học(*). Giặc Mỹ tăng cường đánh phá nhưng nhờ sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân nên sự nghiệp giáo dục vẫn phát triển. Theo chủ chương của Bộ, để đảm bảo chất lượng đào tạo, ngành giáo dục chỉ tuyển 65% học sinh học lớp 4 (cấp 1) lên lớp 5 (cấp II) và cấp III tuyển 30% lớp 7 vào lớp 8.

Kết quả thi đỗ qua các năm của khối học phổ thông:

Năm học

Khối học

1964-1965

%

1965-1966

%

1966-1967

%

1967-1968

%

Cấp I

98

98,9

97,5

96

Cấp II

96,8

97,3

98,2

98,9

Cấp III

98

97

96,8

96

Hàng năm ngành giáo dục huyện đều có các đội  đi thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh và miền Bắc, đạt kết quả khá. Trường phổ thông cấp II Hiệp Hoà vẫn là con chim đầu đàn của ngành giáo dục huyện, có nhiều thầy giỏi, trò giỏi, tổ chức quản lý tốt. Từ năm 1965 đến 1968, Hiệp Hoà có 157 học sinh vào các trường đại học, 1.442 học sinh vào trung cấp và 258 học sinh vào sơ cấp.Về công tác phòng không học đường, với quyết tâm “An toàn là thắng Mỹ”, từ năm học 1965 – 1966 các trường sơ tán triệt để cách xa nơi địch đánh phá từ 2 km trở lên, đào hầm hào để tránh bom, nếu không đủ hầm hào, kiên quyết không cho học. Đảm bảo cho thầy, trò mũ rơm có đủ 100%. Các ban ngành, các cấp thực hiện tốt chế độ phục vụ học tập. Nhân dân và phụ huynh đóng góp 154.982 cây tre, 19.227 ngày công, đào được 3.608 m giao thông hào, 8.543 hố cá nhân, 662 hầm Quảng Bình, làm 286 cáng cứu thương, 480 dụng cụ cứu hoả, 419 bộ bàn ghế học sinh, 40 bảng đen, 32 bàn giáo viên…Chính nhờ phòng không sơ tán tốt nên suốt những năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, các trường không bị thiệt hại lớn. Trường phổ thông cấp II Hiệp Hoà được Bộ Giáo dục chọn làm địa điểm mở Hội nghị chuyên ngữ văn toàn miền Bắc.Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong nhà trường đã gây được lòng căm thù đế quốc Mỹ, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong việc dạy và học. Trong 4 năm học đã có hàng ngàn thư quyết tâm, đơn “3 sẵn sàng”, đơn xin nhập ngũ, 240 thầy giáo và học sinh đã lên đường đi chiến đấu. Riêng năm 1967, trường phổ thông cấp III có 68 học sinh nhập ngũ, 1 thầy giáo – Bí thư Đoàn trường tình nguyện vào Nam công tác, góp phần vào thành tích chung của ngành giáo dục.

Về bổ túc văn hoá – Chỉ thị của Bộ Giáo dục đã nêu: “Công tác bổ túc văn hoá vẫn  là hàng đầu của ngành giáo dục. Nhiệm vụ cụ thể của bổ túc văn hoá … là đảm bảo cho hầu hết cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ 40 tuổi trở xuống, những thanh niên,  thiếu  niên  ở  các HTX  nông  nghiệp… phải phổ cập  lớp  3, một bộ phận lớn có trình độ lớp 4 để tạo điều kiện cho những đối tượng nói trên học hết cấp I … Những người có trình độ lớp 4 tổ chức học lên cấp II. Đối với xã viên HTX nông nghiệp phải phổ cập lớp 1…”

Thực hiện Chỉ thị của Bộ, Phòng Giáo dục huyện đã tham mưu cho các cấp uỷ lãnh đạo chặt chẽ  nhằm điều chỉnh, tạo ra sự phát triển cân đối của các ngành học, trong đó xác định bổ túc văn hoá là nhiệm vụ hàng đầu, kiên quyết phổ cập cấp I và vỡ lòng, thực hiện tốt các phương châm giáo dục. Năm học 1965 – 1966 huyện huy động: Cấp I được 6.399 người,  Cấp II được 640 người. Năm học 1967- 1968 ở cấp I được 4.920 người, cấp II được 490 người, kết quả thi tốt nghiệp  cuối năm đều đạt 97% trở lên.Ngành học mẫu giáo, nhà trẻ: Năm 1965 có 36 lớp mẫu giáo với 1.044 cháu. Tháng 10/1967, Huyện uỷ ra Chỉ thị số 11 về việc: “Tăng cường lãnh đạo, khẩn trương làm tốt công tác xây dựng nhóm trẻ và nhà trẻ”. Sau 2 tháng, toàn huyện đã có mỗi đội sản xuất 1 nhà trẻ, mỗi HTX  có từ 1 lớp mẫu giáo trở lên, nâng tổng số lên 3.621 cháu học mẫu giáo… góp phần đưa sự nghiệp giáo dục Hiệp Hoà vươn lên toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc.Các hoạt động văn hoá – xã hội có nhiều tiến bộ: Trong lúc đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng hoạt động văn hoá lại sôi nổi, thiết thực nhằm phục vụ đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Phong trào văn hoá văn nghệ quần chúng “Tiếng hát át tiếng bom”  có tác dụng thiết thực, nhất là sau những trận địch đánh phá. Huyện có một đội văn nghệ, 18 đội thuộc xã, 2 đội chiếu phim, 1 thư viện, 11 cửa hàng sách báo (trên 866.500 đầu sách). Các hoạt động thông tin thời sự chính sách kịp thời, phản ánh trung thực gương người tốt, việc tốt, ngăn chặn các dư luận xấu và chiến tranh tâm lý của địch. Năm 1966, UBHC huyện mở hai Hội nghị chuyên bàn về việc cưới, tang, lễ  hội. Phòng văn hoá thông tin mở một hội nghị giáo dục những người làm  nghề bói, tướng số, địa lý, mê tín dị đoan. Các đám ma, đám cưới tổ chức theo nếp sống mới. Nhiều hủ tục lạc hậu bị phê phán, nghiêm cấm.Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho cán bộ và nhân dân, phục vụ chiến đấu và sản xuất có nhiều cố gắng. Ngày 10-12-1965, Ban Thường vụ Huyện uỷ ra Nghị quyết số 103-NQ/HU đánh giá tình hình y tế và kế hoạch phát triển trong 2 năm 1966 – 1967, đã khẳng định “Trước tình hình mới cần nhận rõ rằng: Trong lúc chiến tranh, y tế là một ngành trực tiếp chiến đấu, các ngành, các cấp cùng địa phương phải gấp rút tăng cường công tác lãnh đạo y tế, chuyển mạnh công tác y tế thời bình sang thời chiến … hạn chế thấp nhất những thiệt hại do địch có thể gây ra, đồng thời phục vụ tốt công nghiệp, nông nghiệp, ra sức bảo vệ, tăng cường sức khoẻ cho cán bộ, nhân dân, nhất là phụ nữ, trẻ em”.Sự nghiệp  y tế Hiệp Hoà đã phát triển nhanh hơn những năm trước ở cả 3 tuyến (HTX, xã, huyện) đều được củng cố xây dựng mới. 80% số trạm xá làm bằng gạch ngói  và có đủ điều kiện để cán bộ y tế trực cả ngày lẫn đêm. 75% trạm xá có vườn cây dược liệu, chế biến thuốc nam. 21 tổ đông y (126 người). Cán bộ y tế làm nòng cốt trong công tác cứu thương sơ cứu ở cơ sở. Năm 1966,  thành lập tiểu ban bảo vệ sức khoẻ cán bộ do 1 đồng chí Huyện uỷ viên phụ trách và lập kế hoạch phòng chống chiến tranh vi trùng hóa học. Duy trì phong trào vệ sinh “3 sạch, 4 diệt”(*). Thanh toán xong bệnh sốt rét  và về căn bản với bệnh giun sán, mắt hột, lao, hủi. Năm 1967 có 98,8% số hộ có hố xí 2 ngăn, giếng nước vệ sinh, nhà tắm và nhà ăn đơn giản. 20 xã đạt tiêu chuẩn vệ sinh tiên tiến, 100% số HTX có tổ y tế hộ sinh đảm đương được một số nhiệm vụ của bệnh viện. Ngành y tế huyện đã kết hợp với các đơn vị bộ đội, cơ quan sơ tán đào tạo nâng tay nghề. Tăng cường chăm sóc bà mẹ trẻ em, giáo dục phụ nữ về vệ sinh phòng bệnh, khám thai và quản lý đối tượng ở độ tuổi sinh đẻ, thanh toán xong 3 loại bệnh phụ nữ: Sản giật, uốn ván, vỡ tử cung. Về tổ chức cán bộ, đến năm 1967, huyện có 3 bác sỹ, 31 y sỹ, 347 y tá. Tuy nhiên, phong trào phát triển không đều (các xã ven sông Cầu, nhiều hộ vẫn dùng nước sông, ao, hồ). Việc đào tạo cán bộ y tế chậm, sự quan tâm còn yếu (50% cán bộ y tế xã, HTX, đội sản xuất thường xuyên nhận trợ cấp chậm 3 – 5 tháng).

Những năm chiến tranh, hoạt động của các ngành Kinh tế – Giáo dục – Văn hoá – Xã hội – An ninh quốc phòng đã phản ánh năng lực lãnh đạo và sự phấn đấu vươn lên của Đảng bộ Hiệp Hoà.

III. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, MẶT TRẬN VÀ ĐOÀN THỂ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII khẳng định: “Phải nâng cao ý chí cách mạng tiến công, chí căm thù địch sâu sắc và tự lực cánh sinh  lấy mục tiêu cải tạo đất bạc mầu để phấn đấu đạt 5 tấn thóc / ha mà rèn luyện đảng viên, xây dựng đảng viên 4 tốt, đi đầu trong công tác lao động sản xuất, xây dựng HTX, khắc phục tư tưởng tư lợi, ỷ lại, cục bộ địa phương, chùn bước trước những khó khăn, tích cực chống tư tưởng hữu khuynh, bảo thủ, giữ vững Đảng nhật hàng tháng, phê bình và tự phê bình hàng quý, hàng vụ sản xuất, công tác, xây dựng đoàn kết nhất trí thật sự trong Đảng”.

Những năm tháng “Thiên tai địch hoạ” khắc nghiệt, công tác xây dựng Đảng càng quan trọng, vai trò vị trí cán bộ đảng viên càng có ý nghĩa quyết định. Huyện uỷ  xác  định tăng cường công tác tổ chức,  quản lý theo dõi sự rèn luyện phấn đấu của từng đảng viên, từng chi bộ, Đảng bộ để phân loại 4 tốt, gắn công tác xây dựng 4 tốt trong Đảng với các cuộc vận động, nhất là cải tiến quản lý HTX, giải quyết những đảng viên yếu kém, phát triển đảng viên trẻ khoẻ, cải tiến lề lối làm việc của các ban đảng uỷ xã và Huyện uỷ. Thi hành chủ trương của Trung ương, năm 1965, Huyện uỷ tổ chức viết lại sổ Đảng tịch, mỗi đảng viên có 1 bản lý lịch theo  mẫu chung. Mỗi ban Đảng uỷ có một sổ đảng viên theo dõi sự chấp hành chính sách của Đảng, Nhà nước và có một đồng chí chuyên trách công tác cán bộ. Ngày 24-10-1965, Ban Thường vụ Huyện uỷ ra Nghị quyết  nhắc nhở “Các cấp uỷ Đảng tăng cường công tác kiểm tra đôn đốc, tránh qua loa đại khái, phát mà không động, thiếu lãnh đạo, động viên quần chúng rồi mà không có biện pháp cụ thể cho quần chúng hoạt  động”. Kết hợp củng cố cơ sở Đảng với phát triển đảng viên mới. Năm 1965 có 55 HTX chưa có chi bộ, 190 đội sản xuất chưa có tổ Đảng. Trong đợt kiểm tra đảng viên cuối năm, Huyện uỷ chỉ đạo làm điểm ở 2 xã Danh Thắng và Thường Thắng. Sau đó, Huyện uỷ đồng loạt tiến hành phân loại trong toàn huyện: Kết quả có 1.036 đảng viên loại khá, 690 đảng viên loại trung bình, 63 đảng viên loại yếu kém. Riêng công tác thu nộp đảng phí theo Chỉ thị 61/BBT (cơ quan nộp 4/5, ở nông thôn nộp 1/3 về huyện) chỉ đạt 74%. Và từ năm 1965, Huyện uỷ có thủ quỹ, kế toán riêng để kiểm tra đôn đốc các cơ sở giao nộp đảng phí.

Năm 1966, toàn Đảng bộ có 2.015 đảng viên trong tổng số 94.738 nhân khẩu, có 20 xã có ban Đảng uỷ xã (còn 5 xã và thị trấn chưa có). Ngày 20-4-1966, Huyện uỷ tổ chức hội nghị mở rộng chuyên bàn về công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới và trong thời gian này, Huyện uỷ đã chỉ đạo nhiều đợt học tập và thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch (17-7-1966), tài liệu “Kiên định lập trường, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” (tháng 9-1966)… Đồng thời, Huyện uỷ đã kiên quyết, lần lượt cử các đồng chí đảng uỷ viên của các đảng uỷ xã đi học lý luận ở tỉnh, chi uỷ viên đi học ở huyện. Bám sát thực tiễn, Huyện uỷ đã có những nghị quyết, chủ trương đúng đắn kịp thời, chỉ đạo các ngành, các cấp như nghị quyết “Đánh giá tình hình tư tưởng đảng viên” (8-1966), nghị quyết về phát động cuộc thi đua “Quyết tâm giành vụ mùa thâm canh thắng Mỹ cứu nước thắng lợi”, nghị quyết về “Tiết kiệm cứu đói”… với phương châm “Đưa cán bộ đảng viên đi sâu vào phát động tư tưởng quần chúng, bàn bạc dân chủ với quần chúng và tin tưởng vào quần chúng… cho quần chúng được học tập, tự giác tham gia xây dựng tập thể của mình”.

Thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện uỷ, các cấp uỷ và cán bộ đảng viên đã gương mẫu, xung phong, đưa các phong trào lên mạnh. Trong đợt chống hạn cuối năm 1966 trung bình mỗi ngày có 1250 đảng viên  tham gia ở ngoài đồng. Đảng viên gương mẫu chấp hành và vận động quần chúng noi theo, đã thu mua được hơn  23.500 kg lợn hơi, 10 tấn đỗ tương trong vòng 10 ngày đầu tháng 10-1966… Về dân công, trước học tập  chỉ đạt 30%, sau lên 90% mức huy động. Có 3 xã đạt  mức cao nhất tại công trường Trịnh Xá – được Ban chỉ huy công trường khen thưởng…

Nghị quyết Huyện uỷ ngày 13-10-1966 kết luận: “Điều quan trọng nhất là sau học tập, mọi người nhận thức rõ tình hình nhiệm vụ mới, thắng lợi của cách mạng 2 miền, khơi sâu lòng căm thù, thực hiện khẩu hiệu do Huyện uỷ đề ra: “Biến quyết tâm thành hành động, biến căm thù thành sức mạnh”, “Tư tưởng ngại khó, thiếu quyết tâm được khắc phục 1 bước, tư tưởng chủ quan dao động bước đầu được giải quyết, tư tưởng bảo thủ rụt rè trong lãnh đạo được hạn chế, tác phong đi sâu đi sát được phát huy mạnh, ý thức tổ chức kỷ luật được nâng lên … Tiếp tục chủ động và tích cực khắc phục khó khăn về thiên tai, phòng chống địch hoạ, bất kể tình hình thế nào cũng phải đảm bảo vụ mùa chống Mỹ thắng lợi”.

Tuy nhiên “Sự chuyển biến không đều, có nơi qua loa, không phát động  căm thù, áp dụng khoa  học kỹ thuật và chống hạn kém (Ngọc Sơn, Đoan Bái), vi phạm chính sách kinh tế và điều lệnh phòng không nhân dân”.Năm 1966, Huyện uỷ kỷ luật cách chức bí thư, phó bí thư Đảng uỷ xã Thường Thắng do vi phạm quản lý đất đai, buôn bán, lạm sát gia súc và phê bình nhắc nhở toàn ban Đảng uỷ. Khối cơ quan có 3/19 chi bộ đạt 4 tốt (*). Khối nông thôn có 30% chi bộ (dưới Đảng bộ) và tổ đảng đạt 4 tốt. Tỷ lệ đảng viên vi phạm kỷ luật là 2,95% so với tổng số (năm 1965 là 1,6%) trong đó khai trừ lưu Đảng là 49% (năm 1965 là 68%)- so với tổng số bị kỷ luật. Cụ thể, việc phân loại đảng viên và cơ sở Đảng qua các năm như sau:

 

Phân loại

Đảng viên

Đảng bộ xã (chi bộ xã)

 

Năm

T/số

4 tốt

Khá

TB

kém

4 tốt

Khá

TB

kém

1965

1.833

672

125

718

9

1

11

14

2

1966

2.150

928

52

465

63

1

8

14

3

1967

2.363

919

78

630

106

2

10

12

2

Về kỷ luật Đảng, trong 3 năm đã khai trừ: 44 đ/c; cho ra 4 đ/c; xoá tên 24 đ/c…

Tại Hội nghị “Bồi dưỡng lãnh đạo cấp  huyện” ngày 18-1-1967, Hồ Chủ tịch đã “Nhắc nhở các cô, các chú đi sâu, đi sát cơ sở, nằm ở cơ sở để chỉ đạo phong trào, không nên xuống cơ sở theo lối chuồn chuồn đập nước… Hiện nay có một số đồng chí  Huyện uỷ chưa thực sự lăn lộn ở cơ sở, còn ngại khó, ngại khổ   cho nên chưa nắm được tình hình cụ thể của địa phương mình phục trách… nếu không đi sâu, đi sát cơ sở, nắm vững tình hình sản xuất đời sống của nhân dân thì các đồng chí làm thế nào có thể vận dụng đúng đắn đường lối, chính sách của Đảng chủ trương của tỉnh vào huyện mình”. Với những yếu kém  của cán bộ xã,  HTX,  Bác nêu: “Dân ta làm cả ngày, cả đêm mà một số ít người thì đụng tới cái gì cũng chén, mà lại chén nhiều chứ  không phải là chén ít…”. Những lời dạy của Bác thật thấm thía được Đảng bộ và nhân dân trong huyện học tập, liên hệ, vận dụng một cách kiên quyết triệt để, xử lý nghiêm những vụ việc yếu kém. Ngày 31-1-1967 Huyện uỷ ra Nghị quyết 04 thi hành kỷ luật cảnh cáo toàn Ban Đảng uỷ xã Toàn Thắng (Hoàng Lương hiện nay): “Chưa chú trọng đúng mức đến công tác giáo dục phòng tránh cho nhân dân một cách rộng rãi và sâu sắc thường xuyên… trận oanh tạc ngày 22-1-1967 đã gây nên thiệt hại người và của, sau khi địch oanh tạc lãnh đạo giải quyết  chậm, có đồng chí lãnh đạo trên 30 phút mới có mặt, tư tưởng quần chúng một số vẫn hoang mang kêu ca oán trách Đảng và Chính phủ, ảnh hưởng đến sản xuất …” và Nghị quyết 05  thi hành kỷ luật cách chức bí thư Đảng uỷ xã. Thông báo 2 nghị quyết trong toàn Đảng bộ  huyện, Huyện uỷ phân công 100% huyện uỷ viên đi cơ sở – mỗi đồng chí đều có một chương trình công tác, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản, thời gian thực hiện cụ thể, tăng cường kiểm tra đôn đốc hơn nữa. Do đó đã: “Làm cho từ Bí thư đến huyện uỷ viên thấm thía sâu sắc công tác xây dựng Đảng”; “Muốn có nhiều chi, đảng bộ cơ sở  4 tốt mà Huyện uỷ không 4 tốt thì nhất định  không thể có được. Phong trào muốn chuyển biến toàn diện và chuyển biến mạnh, chuyển đều, chuyển vững chắc mà không xây dựng Đảng, không làm chuyển và có chuyển cũng không đảm bảo được bền vững là không có ý nghĩa”.

Theo kế hoạch, Huyện uỷ chỉ  đạo các chi Đảng bộ cơ sở  tiến hành đại hội nhiệm kỳ 1967-1968. Về nhân sự  so với khoá trước: số lượng cấp uỷ tăng 10%, thành phần bần nông từ 52 lên 58%, nữ từ 9 lên 25%, dưới 30 tuổi từ 15 lên 26%, tuổi 40 trở lên giảm 40%, Đảng uỷ viên mới chiếm 47% (105 đ/c), 20% chuyển đi công tác khác, 10% già yếu tự rút, 23% sai phạm phẩm chất cho rút. Tất cả các cấp uỷ viên đều đảm nhiệm từ 1 đến nhiều chức danh, nhất là các đồng chí mới. Như vậy so với khoá  trước, về tổ chức và chất lượng có thay đổi đáng kể để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Hiệp Hoà  lần thứ VIII tổ chức từ ngày 24 đến 26-4-1967 tại nơi sơ tán(*) (HTX Cẩm Trang, Mai Trung). Về dự có 121 đại biểu thay mặt cho 2.368 đảng viên trong huyện. Đại hội đánh giá, kết luận những mặt mạnh, yếu và nguyên nhân trong nhiệm kỳ VII, thảo luận và xác định phương hướng nhiệm vụ của khoá VIII (1967-1968). Ban chấp hành mới được bầu gồm 21 đồng chí (Ban Thường vụ 9 đồng chí). Đồng chí Đặng Văn Thọ được bầu lại làm Bí thư Huyện uỷ.Sau Đại hội, Huyện uỷ tổ chức học Chỉ thị 139 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác xây dựng Đảng, học tập 7 kinh nghiệm xây dựng Đảng của Trung ương. Huyện uỷ chỉ đạo toàn Đảng bộ học Nghị quyết 136/TW của Ban Bí thư Trung ương về vị trí vai trò cấp huyện. Hoạt động ở các chi, đảng bộ cơ sở có nhiều chuyển biến tốt. Kết hợp với cuộc vận  động thi đua và phong trào quần chúng, lấy ý kiến quần chúng đóng góp cho  Đảng  để xây dựng  Đảng.  Năm 1967 có 2 cuộc bình công, báo  công, 3 đợt đảng viên tự phê bình trước quần chúng. Riêng đợt cuối năm có 1.390 đảng viên (63%) được quần chúng đóng góp 52.396 ý kiến (*), giúp cho các cơ sở Đảng nhận rõ những yếu kém của đảng viên và tổ chức Đảng. Trên cơ sở  hoàn cảnh sức khoẻ, năng lực của cán bộ đảng viên, với những ý kiến của quần chúng, Huyện uỷ đã thay 14 đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã, cho rút 70 đảng viên ra khỏi cương vị công tác  và không chuyển chính thức cho 3 đảng viên dự bị.Về công tác phát triển đảng viên, năm 1965 kết nạp được 231 đồng chí (nữ 45, đoàn viên 121). Năm 1966: 362 đồng chí (nữ 193). Năm 1967 thực hiện  Nghị quyết Đại hội VIII: “Ra  sức phát triển đảng viên mới thông qua sản xuất, chiến đấu và tổ chức đời sống quần chúng và các đợt thi đua để đào tạo bồi dưỡng tuyên truyền phát triển Đảng. Mỗi đảng viên cũ đều có nhiệm vụ phát triển đảng viên mới để cuối năm có 3% so với dân số”. Từ ngày 1 tháng 1 đến 15-11-1967 đã kết nạp được 575 đồng chí và đến cuối năm lên 721 đồng chí (nữ 392, đoàn viên 315) – Là năm kết nạp nhiều đảng viên nhất của Đảng bộ Hiệp Hoà.

Một trong những nguyên nhân kết nạp được nhiều đảng viên mới là  do các cấp uỷ sâu sát, cụ thể, dân chủ công khai, nhất là sau Đại hội VIII, Huyện uỷ phân công 1 đồng chí trong ban thường vụ chuyên về công tác phát triển Đảng, chỉ đạo cơ sở phát hiện và bồi dưỡng nhân tố, thực hiện phương châm: “Kết hợp phân công đảng viên, phân loại quần chúng, bồi dưỡng kết nạp kế tục sự nghiệp cách mạng” (Nghị quyết Đại hội VIII). Huyện uỷ trực tiếp kiểm tra đối tượng xét duyệt tại chỗ bảo đảm chất lượng nhanh và chính xác. Chính vì vậy các Đảng bộ xã đều phát triển được đảng viên mới… Đặc biệt “19 xóm trắng”(*) cũng kết nạp được 37 đồng chí. Hầu hết các đội sản xuất đã có đảng viên và tổ Đảng. Khối chi bộ cơ quan kết nạp được 64 đồng chí – góp phần phấn đấu cho chỉ tiêu “3% dân số và 10% xã viên là đảng viên”. Thông báo số 04 ngày 20-11-1967 của Ban thường vụ Huyện uỷ đã “Biểu dương hoan hô các ban Đảng uỷ Mai Trung, Hoàng An, Đồng Tân, Thanh Vân… đã có nhiều cố gắng”. Tại Hội nghị tổng kết ngày 25-12-1967, Huyện uỷ khẳng định những kết quả và thành tích đã đạt được là do “Một khi cán bộ đảng viên ra tay là gốc của mọi thắng lợi” và “Muốn có phong trào chuyển biến sâu rộng  trong quần chúng thì điều kiện bắt buộc cán bộ đảng viên phải gương mẫu trước… chính sự gương mẫu của cán bộ đảng viên  đã lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia bàn định phương hướng và kế hoạch, tạo sự chuyển biến mới trong nông nghiệp, một khí thế mới ở nông thôn”.

Ngày 01-12-1967, Ban chấp hành Đảng bộ Hiệp Hoà ra Nghị quyết số 17-NQ/HU thành lập ban Đảng uỷ xã Đại Thành. Đảng bộ Đại Thành có 51 đảng viên, 4 chi bộ (Hà Nội, Đại Mão, Đại Tân và Bảo Mản).

Các cấp uỷ, chính quyền luôn được kiện toàn, bổ sung những nhân tố tích cực, những người trẻ, khoẻ, có kiến thức, nhiệt tình đảm đương được những nhiệm vụ nặng nề trong thời chiến.

Đoàn thanh niên lao động huyện Hiệp Hoà trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, được Đảng quan tâm giáo dục, rèn luyện xây dựng vững mạnh cả về tổ chức và chính trị tư tưởng. Hàng năm theo quy định của Điều lệ, các chi đoàn, xã đoàn đều tổ chức Đại hội, Huyện đoàn đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII (1965)  và lần thứ VIII (1967). Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Bí thư Huyện Đoàn  do 1 đồng chí Huyện uỷ viên đảm nhiệm. Bằng những cuộc vận động, các đợt phát huy hiệu Đoàn, bình bầu 4 tốt mà các tổ chức Đoàn có chất lượng hơn. Các phong trào của Đoàn thanh niên sôi nổi, rộng rãi. Năm 1965 có 85,7% và 2 năm 1966-1967 có 100% đoàn viên đăng ký “3 sẵn sàng”(*). Ngoài ra các đợt học tập gương Anh hùng Nguyễn Văn  Trỗi, thi đua “Tay cày, tay súng”, “Tay bút, tay súng”… đã lôi cuốn đông đảo đoàn viên thanh niên tham gia. Năm 1966, sau khi học tập “Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước” của Hồ Chủ tịch, trong một ngày có 7.472 đồng chí đăng ký tham gia phục vụ chiến đấu bất cứ đâu, lúc nào, 5.780 đồng chí nhận chăm sóc các ruộng lúa xấu. Trên mặt trận nào, đoàn viên thanh niên cũng có những cá nhân và tập thể tiên tiến, xuất sắc. Nhiều chi đoàn và đoàn viên được tuyên dương: “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ 5 tấn”…

Với công tác an ninh quốc phòng khám tuyển nghĩa vụ quân sự, năm 1965 có 27.812 lượt đơn tình nguyện. Năm 1966, hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, chỉ trong 1 ngày có tới 8.932 đoàn viên thanh niên đăng ký tòng quân, năm 1967 có 42.800 lượt đoàn viên thanh niên viết đơn tình nguyện đi bộ đội và thanh niên xung phong, đặc  biệt có 47 đơn viết bằng máu của mình. Nhiều gia đình đoàn viên thanh niên trở thành tấm gương cổ vũ phong trào tòng quân giết giặc. ý thức giác ngộ chính trị và lòng hăng hái cách mạng của đoàn viên  thanh niên trong huyện vượt qua mọi khó khăn gian khổ, đáp ứng đầy đủ, kịp thời mọi yêu cầu của đất nước. Với chí tiến thủ, ham hiểu biết, ham học hỏi, có nguyện vọng cống hiến và say sưa với lý tưởng cách mạng của Đảng,  mỗi năm có hàng nghìn thanh niên tham dự các lớp cảm tình Đoàn, nhiều đoàn viên ưu tú là cảm tình Đảng và được đứng trong hàng ngũ của Đảng quang vinh.Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà ghi nhận: “Chưa có bao giờ đoàn viên thanh niên hăng hái tham gia và được cống hiến cao nhất sức mình vào sự nghiệp phát triển cách mạng trong những năm tháng chói ngời chiến công chống Mỹ cứu nước” và “Phát huy truyền thống của quê hương cách mạng, đoàn viên thanh niên nêu cao tính tiền phong gương mẫu, sẵn sàng đi đầu trong mọi công tác, đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ mà đảng bộ và nhân dân giao phó”.Hội liên hiệp phụ nữ và công tác phụ vận được Đảng và nhân dân đánh giá cao, tin tưởng,  tạo mọi điều kiện cho chị em phát huy khả năng, đảm đang việc nhà, việc nước, lập thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Trận đánh ngày 7-8-1966,  phụ nữ xã Ngọc Sơn hăng hái tham gia cùng bộ đội đánh trả máy bay Mỹ.  Chị Xuân nhà bị cháy vẫn phục vụ bộ đội chiến đấu, chị Thi và đặc biệt là chị Lan bị thương vào tay vẫn tiếp đạn  đến hết trận đánh…  Đó là những hình ảnh đẹp  trong truyền thống “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Sau khi học tập  Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, hàng vạn chị em đăng ký “3 sẵn sàng, 3 đảm đang”, “Tay cày, tay súng”. Năm 1966, có 3.376 chị được công nhận “Phụ nữ 5 tốt”, 14.580 chị là “Phụ nữ 3 đảm đang”. Phong trào phụ nữ ở Hiệp Hoà, nhất là trong lao động sản xuất càng phát triển mạnh. Nhiều công việc nặng nhọc và phức tạp do chị em đảm nhận. Trong công tác chính trị xã hội, Huyện uỷ có nhiều chủ trương, biện pháp đúng đắn nhằm động viên chị em tham gia. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII “Làm tốt công tác phụ vận là động viên được khả năng to lớn của phụ nữ vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, tạo mọi điều kiện để phụ nữ tham gia công tác xã hội ” nhiều chị em tham gia và có nhiều gương điển hình tốt, trong đó chị Nguyễn Thị Song (xã Mai Trung) được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lao động. Phụ nữ Hiệp Hoà chẳng những lao động giỏi, công tác tốt ở địa phương  mà còn trực tiếp lên đường cầm súng chiến đấu và phục vụ chiến đấu. 97 chị vào bộ đội, 189 chị vào thanh niên xung phong.”…Toàn huyện có 6.970 chị em đạt danh hiệu lao động giỏi, những đội sản xuất do nữ lãnh đạo thường ít mắc khuyết điểm, ít tiêu cực, phụ nữ làm kế toán HTX sổ sách rành mạch, báo cáo kịp thời chứng tỏ chị em có khả năng lãnh đạo sản xuất giỏi, có những mặt tốt hơn nam giới (tiếp thu phê bình, áp dụng KHKT, dân chủ, ít tham ô lãng phí, thực hiện chính sách tốt…)”.

Mặt trận tổ quốc, Hội mẹ chiến sỹ – Hội phụ lão – Đội thiếu niên Tiền phong, nhi đồng Tháng 8 có vai trò quan trọng trên các lĩnh vực, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Công tác thiếu niên nhi đồng do Huyện Đoàn trực tiếp phụ trách, có nhiều phong trào như “Nghìn việc tốt”, “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ”, “Theo bước chân Kim Đồng”, “Hợp tác xã măng non”… kết hợp với các trường học, thực hiện công tác  ở cơ sở và  phục vụ bộ đội chiến đấu. Em Nguyễn Thị Dung (thôn Lỗ Hạnh – xã Đông Lỗ, học sinh lớp 4 khoá 1964-1965), nhà nghèo, học giỏi, một đội viên thiếu niên tiền phong ngoan và dũng cảm, được Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng Tỉnh tặng Bằng khen.

Hội phụ lão có tổ chức từ huyện đến cơ sở. Tinh thần yêu nước của các cụ là tấm gương sáng, có ý nghĩa to lớn và tác dụng thiết thực. Toàn huyện có 875 cụ đăng ký và thường xuyên làm những công việc nặng nhọc trên đồng ruộng như cày bừa, cấy, gặt… Hàng trăm tổ “Hoà giải, chăm sóc trâu bò béo khoẻ, trồng cây và bảo vệ cây”. HTX Trung Hoà, ngày chuyển 40 tấn thóc vào kho, được UBHC huyện biểu dương-nhờ có Hội phụ lão hỗ trợ. Sau các trận đánh, sự có mặt của các cụ rất kịp thời và tham gia tích cực khắc phục hậu quả. Hội mẹ chiến sỹ thôn Trại Dạ sau một trận đánh của bộ đội đã đi quyên góp được hơn 120 kg giẻ lau súng cùng nhiều quà bánh khác; nhiều mẹ, nhiều chị nén chịu đau thương, hy sinh mất mát, vất vả lam lũ, thầm lặng chia tay và chờ đợi chồng, con đi đánh Mỹ. Cụ Túc ở Lý Viên (xã Bắc Lý) vui vẻ tiễn đưa lần lượt 6 người con ra trận… Đại hội đảng bộ Hiệp Hoà lần thứ VIII đã nghi nhận: “Trong lúc “cả nước lên đường, toàn quân đánh giặc”  ở huyện ta có 6.381 em là “Cháu ngoan Bác Hồ”, 586 cụ đạt danh hiệu “3 giỏi”, “5 giỏi”, gần 70% số cây trồng là do các cụ, hơn 90% số cây được chăm sóc xanh tốt là do các chi hội phụ lão đảm nhận… Trong công tác xã hội, các hội mẹ chiến sỹ làm tốt nhất, phù hợp nhất, động viên con em đi chiến đấu và thực hiện chính sách hậu phương quân đội…”

Hàng năm, Mặt trận Tổ quốc các xã tổ chức thực hiện bình công, báo công, phối hợp với chính quyền và các đoàn thể động viên sức người, sức của, phát động các phong trào thi đua. Ngày 15-3-1966, gần 500 cán bộ đảng viên, dân quân tự vệ và quần chúng xã Đông Lỗ do Mặt trận Tổ quốc tổ chức – đã mít tinh biểu thị sức mạnh, có quyết tâm thư hoàn thành các nhiệm vụ trong sản xuất, phục vụ chiến đấu với khẩu hiệu “Không khó khăn nào không vượt qua, không chỉ tiêu nào không hoàn thành” gửi lên huyện, tỉnh. Ngày 31-3-1966, toàn thể chánh trương, trùm trưởng và đại biểu các họ của đồng bào Thiên chúa giáo Hiệp Hoà đã họp và gửi quyết tâm thư lên Chính phủ. Ngày 27-7-1966, gần 1000 người ở xã Bắc Lý mít tinh tuần hành dưới sự điều hành của Mặt trận Tổ quốc xã…

Ngày 30-4-1967, bầu cử HĐND xã, huyện. Mặt trận Tổ quốc đã hiệp thương, lựa chọn những hội viên tiêu biểu, được cử tri tín nhiệm bầu vào HĐND 2 cấp (141 đại biểu là nữ, 32 đại biểu là đoàn viên…) đúng với chủ trương của Đảng và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.

Kỳ sau đăng tiếp phần: IV: TÍCH CỰC XÂY DỰNG, CỦNG CỐ HẬU PHƯƠNG VỮNG MẠNH, GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ 2 CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (3/1968-1972)

BBT.

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành