IV. CAO TRÀO CHỐNG NHẬT CỨU NƯỚC VÀ KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN (12/3/1945 – 8/1945)

Xem toàn bộ các phần đã đăng

 

Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới lần thứ hai diễn biến có lợi cho phe Đồng Minh(*), Quân đội Liên Xô đã giành được những thắng lợi quyết định, báo hiệu giờ tận số của phát-xít Nhật ở phương Đông đang lung lay tận gốc. Để trừ mối hậu hoạ bị quân Pháp đánh vào sau lưng khi quân Đồng minh đến, Nhật đã làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp, độc chiếm Đông Dương vào ngày 09-3-1945.

 

Lúc này đời sống của nhân dân cả nước nói chung và ở Hiệp Hoà nói riêng vô cùng cực khổ, nạn đói rất trầm trọng. Hàng trăm người bị chết đói trong các làng xóm, phố, chợ. Lòng căm thù thực dân Pháp, phát-xít Nhật và tay sai của nhân dân trong huyện đã dâng lên tột đỉnh, nóng lòng nổi dậy khởi nghĩa cướp chính quyền, phá kho thóc của địch để giải quyết nạn đói.

Đêm ngày 09-3-1945, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng đã họp tại Từ Sơn (Bắc Ninh) (*) để đánh giá tình hình khi cuộc đảo chính nổ ra và nêu lên những chủ trương của cách mạng trong thời kỳ mới. Cụ thể hoá những nhận định và Nghị quyết của Hội nghị, chỉ thị lịch sử: “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ra ngày 12-3-1945 của Thường vụ Trung ương đã có tác dụng chỉ đạo rất kịp thời và phát huy tinh thần độc lập, sáng tạo của các đảng bộ địa phương.

Bản “Chỉ thị” vạch rõ kẻ thù chính lúc này của nhân dân ta là phát-xít Nhật. Khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân là “phá kho thóc, giải quyết nạn đói” nhằm tập hợp hết thảy mọi lực lượng quần chúng để “đánh đuổi phát-xít Nhật, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân”. “Nơi nào có điều kiện thì phát triển chiến tranh du kích, giành chính quyền ở địa phương”.

Sau khi dự Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng, đồng chí Lê Thanh Nghị, chính trị chỉ đạo viên phong trào chống Nhật ở các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên và đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh, Bí thư Ban cán sự Đảng Bắc Giang về ngay Hiệp Hoà để chỉ đạo phong trào. Về tới Xuân Biều, (thuộc tổng Cẩm Bào), thấy chính quyền địch ở đây hoang mang dao động đến cao độ, nhân dân sôi sục khí thế đấu tranh giành quyền sống, hai đồng chí quyết định phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền.

Được sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê Thanh Nghị và đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh, chiều 12-3, các cán bộ Việt Minh ở Xuân Biều họp bàn kế hoạch khởi nghĩa, dự kiến thành lập Uỷ ban dân tộc Giải phóng. Thực hiện kế hoạch trên, tự vệ gọi lý trưởng đến để tước bằng, triện, giấy tờ. Tối hôm đó, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại đình làng, có hơn 70 tự vệ và trên 300 quần chúng tham gia. Đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh tuyên bố thủ tiêu chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng và kêu gọi nhân dân đứng lên thực hiện khẩu hiệu “Phá kho thóc để cứu đói”…, đồng chí động viên nhân dân đoàn kết đấu tranh chống địch cướp thóc, thu thuế, giữ gìn trật tự, an ninh, bảo vệ chính quyền cách mạng… Danh sách 5 người được Mặt trận Việt Minh cử vào Uỷ ban dân tộc giải phóng do đồng chí Nguyễn Bá Minh (tức Kiểm Ê) làm chủ tịch được công bố. Quần chúng nhiệt liệt tán thành. Các tổ tự vệ, quần áo chỉnh tề, lần lượt biểu dương lực lượng, thể hiện sức mạnh và gây thanh thế cho chính quyền cách mạng. Trước đông đảo nhân dân và lực lượng tự vệ, đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh thay mặt chính quyền cách mạng long trọng đọc lời thề danh dự:

“1- Xin thề: Hết lòng trung thành với cách mạng, dù có hy sinh cũng không lùi bước !

2- Xin thề: Đoàn kết dưới ngọn cờ Việt Minh, chặt tan xiềng xích phát-xít, phá tan gông cùm nô lệ !

Tiến lên ! Tiến lên ! Việt Nam độc lập muôn năm !”

Hàng trăm người đồng thanh “Xin thề”, “Tiến lên” vang dậy cả một vùng, khí thế thật hào hùng, sôi nổi. Sự phấn khởi, mừng vui lộ rõ trên nét mặt mọi người. “Không vui sướng làm sao được ! bao nhiêu năm hoạt động bí mật, phong trào ta đã đến lúc nhảy ra ánh sáng. Chính quyền cách mạng lần đầu tiên thành lập ở xã nhỏ bé này cho thấy tất cả sức mạnh của Đảng, của nhân dân. Điều mà Đảng vừa quyết định chiều hôm qua, nay đã thành sự thật”.(*)

Khởi nghĩa giành chính quyền ở Xuân Biều thắng lợi đã chứng minh chủ trương của Đảng nêu trong “Chỉ thị” về khởi nghĩa từng phần, tạo điều kiện tiến tới Tổng khởi nghĩa là hoàn toàn đúng đắn. Nó thể hiện sự vận dụng sáng tạo, kịp thời của các đồng chí cán bộ Trung ương và Ban cán sự tỉnh. Đây là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cấp xã đầu tiên ở tỉnh Bắc Giang, cũng là tiếng nổ đầu tiên báo hiệu sự sụp đổ của chính quyền địch ở địa phương. Ngay ngày hôm sau (13-3), được sự chỉ đạo của đồng chí Bí thư Ban cán sự tỉnh, uỷ ban dân tộc Giải phóng làng Trung Định được thành lập do đồng chí Đỗ Văn Kế làm chủ tịch, xoá sổ hoàn toàn chính quyền cũ của địch ở đây.

Giải quyết nạn đói là một yêu cầu cấp thiết nhất của nhân dân ta lúc này. Vì vậy, cùng một lúc với khởi nghĩa Xuân Biều, các đồng chí lãnh đạo của Trung ương, của Ban cán sự tỉnh đã chỉ đạo các Uỷ ban dân tộc Giải phóng, đoàn thể Việt Minh, các đội tự vệ kêu gọi nhân dân vùng lên phá đồn điền, phá kho thóc của địch để cứu đói.

“Ngày 13-3-1945, gần một nghìn quần chúng, được tự vệ hỗ trợ đã biểu tình kéo vào đồn điền Cọ, tịch thu thóc lúa và chiếm một số súng đạn của địch. Ở đồn Trị Cụ, hơn 200 người kéo vào đồn xúc thóc bị địch bắn chết bốn người. Mấy ngày sau, hơn 2000 nông dân lại kéo vào cướp đồn, tịch thu được hết thóc lúa, súng, đạn, thuốc men, tù nhân chính trị và thường phạm được giải phóng”. (*)

Từ đêm 12 và ngày 13-3, bọn địch ở đồn điền Vát vô cùng hoảng sợ trước phong trào cách mạng của quần chúng đã vội vã bỏ chạy. Uỷ ban dân tộc Giải phóng Xuân Biều, Trung Định đã huy động quần chúng và tự vệ, đông tới 3.000 người, rầm rộ tiến đến bao vây đồn. Tự vệ ta xông lên phá cổng, dỡ rào trước tiếng hò reo vang dậy của quần chúng. Chỉ sau mấy tiếng đồng hồ, toàn bộ số thóc và trâu bò trong đồn điền đã thuộc về tay nhân dân. Lực lượng tự vệ ta còn thu được 8 khẩu súng của địch.

Những thắng lợi liên tiếp, dồn dập của những cuộc phá kho thóc, giải quyết nạn đói đã nâng cao thêm uy tín của Việt Minh, của Uỷ ban dân tộc giải phóng. Nhân dân vô cùng phấn khởi và tin tưởng vào chính quyền cách mạng, họ thấy rõ Việt Minh đã cứu mình, tham gia Việt Minh là tự cứu mình. Khí thế cách mạng của quần chúng sục sôi trong toàn huyện.

Nắm chắc tinh thần “Chỉ thị” của Đảng và quan điểm về khởi nghĩa vũ trang: “Một khi đã bắt đầu thì … phải tiến hành cho đến cùng”, “lịch sử sẽ không tha thứ cho những người cách mạng có thể thắng lợi hôm nay (và chắc chắn sẽ thắng lợi hôm nay) mà lại để chậm trễ vì để đến ngày mai… họ sẽ mất tất cả”.(*) Ngày 15-3-1945 đồng chí Lê Thanh Nghị và đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh đã chỉ đạo chi bộ đảng và Mặt trận Việt Minh ở Hoàng Vân tổ chức một cuộc tuyên truyền xung phong tại đình Vân, đồng thời lập toà án nhân dân xét xử hai tên phản động là Lý Trúc ở Hoàng Vân và Chánh hội Bảng ở Ca Sơn Hạ (Phú Bình). Những tên cướp gây mất trật tự an ninh, có nợ máu với nhân dân cũng bị trừng trị nghiêm khắc. Chính quyền địch bị thủ tiêu, chính quyền cách mạng được thành lập và kêu gọi nhân dân rào làng, giữ gìn trị an, bảo vệ chính quyền… Đồng chí Bí thư Ban cán sự tỉnh giao cho chi bộ Hoàng Vân, các đội tự vệ, chính quyền và mặt trận có trách nhiệm cung cấp những người cốt cán để lập Uỷ ban dân tộc Giải phóng và huấn luyện quân sự cho tự vệ ở các thôn, xã trong huyện khởi nghĩa giành chính quyền. Để biểu dương lực lượng, phát huy khí thế của quần chúng hơn nữa, ngày 16-3, ta lại tổ chức một cuộc mít tinh lớn tại chợ Vân, đông khoảng 1000 người, có sự tham gia thị uy vũ trang của các đội tự vệ chiến đấu ở hai tổng Hoàng Vân, Ngọc Thành và khu vực ấp Ba huyện.

Sau cuộc mít tinh, đoàn người biểu tình đi ngang qua đồn Trị Cụ, đến thẳng đồn điền Cọ phá kho thóc. Bọn lính mới về đóng ở đồn Trị Cụ rất hoang mang sợ hãi. Trước tình hình ấy, tên chánh bảo an Bắc Giang điện cho tên đồn trưởng Trị Cụ: “Chống được với Việt Minh thì chống. Không chống được thì nhanh chóng rút về đồn Hà Châu Thái Nguyên”.(*) Biết được tin đó, đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh đã chỉ đạo tiến công địch. Sáng 17-3-1945, tự vệ chiến đấu phía bắc Hiệp Hoà vũ trang bằng số súng đạn mới thu được, dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Văn Ấp (tức Cường), Ngô Thị Liên và đồng chí Ư, một cán bộ quân sự của khởi nghĩa Bắc Sơn, phục kích đánh địch. Tự vệ ta vận động qua bờ mương, bờ ruộng đón đánh địch ở cánh đồng Hoàng Lại. Địch bắn trả quyết liệt. Nhân dân ở các làng ấp xung quanh cũng trang bị giáo mác, gậy gộc… hỗ trợ. Tự vệ Ca Sơn Hạ đang luyện tập cũng được lệnh vượt hàng cây số đến phối hợp chiến đấu. Do địa hình trống trải, lại đánh ban ngày nên yếu tố bất ngờ bị hạn chế, vũ khí kém hơn địch và kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều nên ta hy sinh 13 đồng chí. Song, trận đánh đã thể hiện ý chí tiến công địch, tinh thần chiến đấu dũng cảm, không sợ hy sinh của các chiến sỹ tự vệ và nhân dân ta.

Chỉ sau 5 ngày thực hiện “Chỉ thị” của Đảng, lực lượng vũ trang và nhân dân dưới sự lãnh đạo của cán bộ Trung ương và Ban cán sự tỉnh đã lật đổ chính quyền địch ở nhiều làng xã, phá các kho thóc của địch để cứu đói cho dân. Mặt trận Việt Minh và chính quyền cách mạng được thành lập ở nhiều địa phương suốt một dải từ Hoàng Vân đến Xuân Cẩm, Mai Đình… Chính quyền địch từ huyện đến các xã, thôn còn lại đang lung lay tan rã tận gốc.

Ở huyện lỵ, bọn Nhật và tay sai tuy rất hoảng sợ, nhưng chúng vẫn ra sức chống phá cách mạng, tăng cường đốc thúc bọn hào lý thu thóc tạ, thu thuế, thu sưu, tăng cường bắn giết, khủng bố nhân dân ở xung quanh huyện lỵ, ngày đêm tuần tra, canh gác (*)… Ban cán sự tỉnh chủ trương đánh úp huyện lỵ vào ngày 20-3-1945. Do sự chuẩn bị và thời cơ chưa thực sự chín muồi nên trận đánh hoãn lại để rút kinh nghiệm, chuẩn bị thêm (23), đặc biệt là về tổ chức và huấn luyện chiến đấu cho các đội tự vệ. Ban cán sự tỉnh thấy cần thiết phải tổ chức một đơn vị vũ trang tập trung làm nòng cốt cho các cuộc đấu tranh và tiến công địch. Chấp hành chủ trương trên, một số tự vệ trung kiên của Hiệp Hoà, Phú Bình và một số thanh niên mới thoát khỏi nhà tù Trị Cụ được tuyển chọn vào đội. Đêm 25-3-1945, lễ thành lập tiểu đội vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh Bắc Giang được thành lập tại làng Soi (Phú Bình) gồm 13 người với 12 súng do một đồng chí trong Ban cán sự tỉnh trực tiếp phụ trách. Đồng thời ta ra bản “Nhật lệnh” ký tên “Việt Nam giải phóng quân tỉnh Bắc Giang” trong đó nhấn mạnh “Nếu ai trái lệnh sẽ bị giải phóng quân trừng trị…”.

Bản “Nhật lệnh” được thông báo về các địa phương, làm cho địch càng run sợ. Cùng với lệnh giới nghiêm, hiệu lệnh báo động chiến đấu cũng được thống nhất từ trên xuống dưới, làng nọ sang làng kia. (24) Đồng thời để tạo điều kiện cho chỉ huy được kịp thời, chính xác, đồng loạt, ta đã giác ngộ những người làm cai kè, thuỷ vận để lợi dụng đường dây điện thoại, nắm bắt tin tức.

Cuối tháng 3-1945, tiểu đội tự vệ làng Vân Xuyên đang đi làm nhiệm vụ ở làng Sơn Giao thì gặp bọn lính ở đồn Trị Cụ đang quấy nhiễu nhân dân. Mặc dù chỉ có một khẩu súng trường và một quả lựu đạn, nhưng đồng chí Lê Văn Đoan và đồng chí Nguyễn Văn Quang vẫn tổ chức triển khai đội hình chiến đấu, kiên quyết tấn công địch, rượt đuổi chúng giữa ban ngày. Tên chỉ huy địch bị tự vệ ta bắn bị thương, cả toán lính hết sức sợ hãi rút chạy về đồn. Trận đánh táo bạo này đã cổ vũ khí thế tiến công địch của các đội tự vệ trong vùng, nhân dân rất tin tưởng và phấn khởi.

Để biểu dương lực lượng, thắt chặt tình đoàn kết chiến đấu quân dân và phát động lòng căm thù hơn nữa, ngày 01-4-1945, Ban cán sự tỉnh và chi bộ đảng Hoàng Vân quyết định tổ chức cuộc mít tinh do đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh chỉ đạo để truy điệu 13 chiến sỹ hy sinh trong trận chiến đấu ở Hoàng Lại. Tuy chỉ cách đồn Hà Châu 2km, nhưng hàng nghìn quần chúng thuộc các huyện Hiệp Hoà, Phú Bình, Phổ Yên đã nô nức tham gia cuộc mít tinh. Cũng tại đây, đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh đã ra mắt, càng làm cho quần chúng thêm tin tưởng.

Trong lúc những hoạt động quân sự và cao trào chống Nhật cứu nước đang sôi nổi thì một vinh dự lớn đến với Hiệp Hoà: Trung ương Đảng chọn quê hương cách mạng kiên trung này làm địa điểm họp Hội nghị quân sự cách mạng Bắc – Kỳ lần thứ nhất. Dự hội nghị có nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Trung ương như đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị… do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng chủ trì. Hội nghị họp từ ngày 15-4 đến ngày 20-4-1945 tại nhà ông lý Đông (Ngô Văn Đông) ở làng Liễu Ngạn, tổng Hoàng Vân. Trong hội nghị này, Trung ương đặt nhiệm vụ quân sự vào vị trí đặc biệt quan trọng, cấp thiết để chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Hội nghị đã quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, phát triển các đội tự vệ vũ trang và tự vệ chiến đấu, mở trường đào tạo cấp tốc cán bộ quân sự, chính trị và xây dựng 7 chiến khu lớn trong cả nước. (Hiệp Hoà nằm trong chiến khu II). Nhiều cán bộ đảng viên, gia đình cơ sở đã cùng với tự vệ và nhân dân địa phương ngày đêm tuần tra canh gác, bảo vệ an toàn, phục vụ chu đáo cho Hội nghị.

Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ mở tại Hiệp Hoà là một sự kiện lịch sử, chứng tỏ sự tin cậy của Trung ương đối với phong trào cách mạng Hiệp Hoà và điều đó có ý nghĩa lớn không chỉ mang tính chất chỉ đạo quân sự trong toàn quốc mà một số chủ trương của Hội nghị đã được triển khai ngay vào tình hình thực tiễn ở Hiệp Hoà. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban Quân chính Bắc Kỳ, cao trào chống Nhật cứu nước tiến lên bước phát triển mới. Các đoàn thể Việt Minh như Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc… phát triển nhanh tới Ngọc Thành, Đức Thắng, Mai Đình, Đông Lỗ…và nhiều xã khác.

Công việc chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa rất khẩn trương, đòi hỏi phải được tăng cường cán bộ, đảng viên. Các đồng chí Ngô Tuấn Tùng (tức Hiệp), Ngô Duy Phương (tức Thạnh), Phạm Yên, Thành Quán… sau khi thoát khỏi nhà tù đế quốc được phân công về Hiệp Hoà hoạt động.

Song song với nhiệm vụ phản đế, thi hành chỉ thị của Tổng bộ Việt Minh: “Nơi nào có điều kiện thì uỷ ban dân tộc giải phóng tiến hành ngay việc chia ruộng đất cho nông dân”, được sự giúp đỡ của Trung ương, trực tiếp là đồng chí Trường Chinh, Lê Thanh Nghị, Hiệp Hoà đã tiến hành nhiệm vụ phản phong. Ngày 08-5-1945, một hội nghị đại biểu nông dân và Uỷ ban dân tộc Giải phóng các xã trong huyện được triệu tập tại nhà ông Uẩn làng Quế Sơn (tổng Quế Trạo). Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về việc tạm chia ruộng đất của hai đồn điền Cọ và Vát cho tá điền và nông dân nghèo (25).

Với chính sách “Đại đoàn kết”, “nhằm tập hợp hết thảy mọi lực lượng…”, Hội nghị đã bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng huyện gồm có một chủ tịch, một phó chủ tịch và 5 uỷ viên (đồng chí Ngô Tuấn Tùng được cử làm chủ tịch).Sự kiện thành lập Uỷ ban dân tộc Giải phóng huyện sớm nhất trong tỉnh cùng với bản nghị quyết đầu tiên về việc tạm chia ruộng đất cho nông dân đã thể hiện quan điểm cách mạng, lập trường giai cấp của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải quyết nguyện vọng và ước mơ từ ngàn đời của giai cấp nông dân là người cày có ruộng, họ được làm chủ ruộng đất và không còn bị bóc lột nữa. Đó còn là một đòn trực tiếp giáng vào cơ sở chính trị, kinh tế, xã hội của bọn thực dân, phát-xít xâm lược cấu kết với bọn phong kiến tay sai đè nặng lên nỗi thống khổ của nông dân Hiệp Hoà nhiều thập kỷ.

Từ sau Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ đến sự kiện thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng của huyện và ở nhiều xã đến việc chia ruộng đất cho nông dân đã tạo ra hình thái hai chính quyền song song tồn tại: chính quyền cách mạng đang lớn mạnh, chính quyền địch đang tan rã. Ở một số xã, tuy chính quyền do địch lập ra vẫn còn nhưng đang bị vô hiệu hoá. Mọi việc nhân dân đều tìm đến cán bộ Việt Minh để xin giải quyết. Nhiều lý trưởng tự tìm đến nộp bằng, triện cho cách mạng. Bọn Nhật đóng ở huyện lỵ càng hoang mang, chính quyền tay sai mất dần chỗ dựa ở bên dưới.

Phong trào kháng Nhật đã phát triển thành cao trào, ảnh hưởng mạnh sang các huyện xung quanh như Đa Phúc, Phổ Yên, Phú Bình… Các huyện cử cán bộ đến Hiệp Hoà học hỏi kinh nghiệm, xin chi viện cốt cán và tự vệ để gây dựng phong trào, huấn luyện tự vệ cho huyện bạn. Đồng thời, các huyện cũng giúp Hiệp Hoà về lương thực, thực phẩm, vũ khí, nông cụ để tăng gia sản xuất…

Tình hình khu vực hạ huyện cũng phát triển thuận lợi. Chi bộ đảng ở Trung Định được thành lập gồm 3 đồng chí: Phạm Yên, Lê Thị Thuận, Đỗ Văn Kế, do đồng chí Phạm Yên làm bí thư. Chi bộ cùng với Uỷ ban dân tộc giải phóng lãnh đạo nhân dân các xã xây dựng tổ chức quần chúng Việt Minh, giữ gìn trị an, ổn định đời sống. Tại Mai Đình, từ trước và sau năm 1940 đồng chí Ngô Tuấn Tùng, Ngô Duy Phương đã tuyên truyền, giác ngộ được một số thanh niên yêu nước gây dựng thành cơ sở cách mạng. Từ năm 1942, đồng chí Phạm Quốc Lương (tức Thanh Sơn) được cấp trên điều về hoạt động, gây dựng cơ sở cách mạng ở Mai Đình phát triển các tổ chức quần chúng của Mặt trận Việt Minh: Nông dân cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, phong trào thanh niên Lê Lai… Đồng chí Phạm Quốc Lương, sau đó là đồng chí Phạm Yên, Khuất Thị Vỹ… đã xây dựng tuyến giao thông liên lạc – từ ATK I qua Mai Đình lên ATK II.

Để tăng thêm lực lượng chiến đấu, ta chủ trương phát triển các đội tự vệ, đặc biệt là ở những nơi xung yếu, tăng cường trang bị và huấn luyện ở ngay sát huyện lỵ. Tại thôn Hoè Liễu (Đức Thắng) một tiểu đội tự vệ được thành lập (26) do đồng chí Nguyễn Văn Quang (tức Quất) phụ trách huấn luyện. Lớp quân sự được mở tại Cẩm Bào do đồng chí Giang phụ trách và một lớp quân chính cũng được mở tại Mai Đình do đồng chí Chân (tức Để) và đồng chí Khâm phụ trách và giảng dạy (*). Mặt trận Việt Minh các xã cũng khuyến khích ai có vũ khí thì mang nộp cho cách mạng sẽ được thưởng, hoặc quyên góp sắt thép để rèn đúc vũ khí v.v… kết quả ta có khá nhiều vũ khí tốt như súng, lựu đạn, mìn (do quần chúng lấy được của địch) để trang bị cho tự vệ ta.

Việc thực hiện Nghị quyết tạm chia ruộng đất của Uỷ ban dân tộc Giải phóng huyện bước đầu có gặp khó khăn do đây là nhiệm vụ phức tạp. Mặt khác, đây là nhiệm vụ hết sức mới mẻ nên một số uỷ viên là người của Đảng, do thiếu kinh nghiệm, không cương quyết trong lãnh đạo, cá biệt, có một số ít cán bộ cơ sở tỏ ra thiếu gương mẫu, trách nhiệm kém, có biểu hiện tính toán cá nhân, gây cản trở công việc, ảnh hưởng không tốt đối với quần chúng, dẫn đến tranh chấp ruộng đất diễn ra khá gay go, phức tạp. Ta cử cán bộ đến kiên trì giải thích cho nhân dân hiểu về chính sách ruộng đất của Mặt trận Việt Minh, vừa đưa lực lượng tự vệ ở Hoàng Vân đến để giữ vững trật tự, nghiêm trị những tên cầm đầu nên các vụ tranh chấp đã được giải quyết.

Được sự chỉ đạo kịp thời của Ban cán sự tỉnh, ngày 27-5-1945, Uỷ ban dân tộc Giải phóng huyện đã kiểm điểm công tác và tổ chức lại. (*) Từ đó hoạt động của Uỷ ban huyện và việc thực hiện nghị quyết tạm chia ruộng đất có tiến bộ hơn.

Trước áp lực của cách mạng, tri huyện Thái Vĩnh Thịnh hết sức hoảng sợ, đã nhắn tin xin được gặp cán bộ Việt Minh. Ta cử người đến bắt liên lạc với hắn và bố trí cho y gặp đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh. Tri huyện xin quy thuận Việt Minh và nhận làm nội ứng khi quân cách mạng tấn công huyện lỵ.

Tối ngày 01-6-1945, lực lượng tự vệ Hoàng Vân do đồng chí Lương Văn Đài (tức Cửu) và đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh chỉ huy và bố trí lực lượng triển khai kế hoạch chiến đấu. Bốn trung đội do đồng chí Đài trực tiếp chỉ huy tiến thẳng vào cổng huyện mở sẵn. Ta tập trung tri huyện, nha lại, binh lính nghe đồng chí chỉ huy giải thích chính sách của Việt Minh, sau đó ta đốt toàn bộ sổ sách, tài liệu, thu 30 súng… Riêng tên lục sự Liễn bị ta xử tử hình tại chỗ vì tội phản động, làm tay sai đắc lực cho Nhật, ngoan cố chống phá cách mạng, gây nhiều tội ác đối với nhân dân, (**) đồng thời đốt phá huyện đường, chấm dứt vĩnh viễn chính quyền thối nát của chế độ phong kiến, thực dân và phát-xít ở Hiệp Hoà.

Sau khi giải phóng huyện lỵ, quân ta thừa thắng tiến sang đánh đồn Trị Cụ, dọc đường lại được bổ sung thêm 10 tự vệ của ấp Ba huyện. Đêm 01-6, ta tổ chức triển khai lực lượng đánh địch. Nhưng do lực lượng ta chưa có kinh nghiệm đánh đồn, địch lại được tăng cường và bố phòng kiên cố nên trận chiến đấu diễn ra gay go, quyết liệt. Ta đã chiếm được khu nhà văn phòng và nhiều chiến lợi phẩm, dồn địch vào một khu vực. Địch lợi dụng công sự kiên cố chống trả rất điên cuồng. Đồng chí Thắng (ấp Đại Lâm xã Hoàng Lương) một tự vệ rất dũng cảm xông lên đặt mìn vào chân lô cốt bị hy sinh, chị Cớt làm nhiệm vụ cứu thương không sợ hiểm nguy, dũng cảm cõng đồng chí Thắng ra ngoài. Trời sắp sáng, nếu kéo dài trận đánh sẽ không có lợi nên ta chủ động rút quân khỏi đồn Trị Cụ. Trận này, tuy ta chưa làm chủ trận địa, nhưng đã thể hiện tinh thần chiến đấu rất cao, gây cho bọn địch ở đây hoang mang, khiếp sợ (27).

Rút kinh nghiệm trong trận đánh đồn Trị Cụ, nguyên nhân chính là do ta làm công tác địch vận còn yếu. Uỷ ban dân tộc Giải phóng huyện thành lập ban tuyên truyền gồm 3 đồng chí do đồng chí Ngô Tuấn Tùng trực tiếp lãnh đạo. Lực lượng tự vệ được tổ chức chặt chẽ hơn. Ở 3 khu vực: thượng huyện, trung huyện, hạ huyện, mỗi nơi thành lập một tiểu đội tự vệ vũ trang 12 người, thường xuyên luyện tập chiến đấu và tuần tra canh phòng cả ngày lẫn đêm.

Đêm 03-6, ta tiến đánh đồn Chã (thuộc Phổ Yên). Trong đồn có 40 tên lính bảo an do tên đội Bẹ khét tiếng gian ác chỉ huy. Tự vệ Hoàng Vân, phối hợp với đơn vị vũ trang của tỉnh và tự vệ của Tiên Thù (Phổ Yên), biên chế thành 5 trung đội, chia làm hai mũi tiến công. Khoảng 2 giờ sáng ngày 04-6-1945, các mũi bí mật tiếp cận trận địa và bắt liên lạc với cơ sở nội ứng trong đồn. Mũi chính diện bí mật xông vào, đồng thời nổi hiệu xung phong. Bọn địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp chống cự, đã hạ vũ khí đầu hàng quân cách mạng. Trận đánh thắng lợi ròn rã. Ta tiêu diệt tên đội Bẹ, thu 40 khẩu súng, nhiều đạn dược và quân dụng, hàng trăm tấn thóc và trâu bò được chia cho nông dân. Hôm sau, Cung Đình Vận – tổng đốc Thái Nguyên đem lính về đàn áp phong trào cách mạng ở đây và giải vây cho đồn Chã, nhưng trước sức mạnh của tự vệ và quần chúng, hắn đã phải kéo quân rút về Thái Nguyên.

Cuối tháng 6-1945, Ban cán sự Đảng Bắc Giang đã thành lập hai trung đội tự vệ chiến đấu tập trung, được trang bị vũ khí tốt. Một trung đội ở Hiệp Hoà và một trung đội ở Phú Bình. Cả hai trung đội có nhiệm vụ tác chiến đánh địch và huấn luyện cho các đội tự vệ ở địa phương, giữ gìn an ninh, bảo vệ chính quyền cách mạng. Trung đội tự vệ ở Hiệp Hoà đã phối hợp với tự vệ Yên Thế đánh chiếm phủ lỵ Yên Thế, đánh đồn Bố Hạ, phục kích đánh địch ở bến đò Phượng Đô (Phú Bình) v.v… Phối hợp với tự vệ Ca Sơn đánh phá huyện lỵ Phú Bình và tiêu diệt tên Tri phủ (phủ Tám).

Để tiếp tục biểu dương lực lượng cách mạng, ban cán sự Đảng tỉnh tổ chức một cuộc mít tinh, tuần hành lớn tại chân núi Ia (thuộc xã Hoà Sơn) vào ngày 12-7-1945. Các chi bộ Đảng, các đoàn thể Mặt trận Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân của 3 huyện Hiệp Hoà, Phổ Yên, Phú Bình, mang theo vũ khí, cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu, biểu ngữ, hàng ngũ chỉnh tề tạo thành dòng người dài tới 4-5 cây số, rầm rập tiến về địa điểm mít tinh. Cuộc diễu hành với hàng vạn người tham gia, hàng trăm lá cờ đỏ búa liềm, cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu, biểu ngữ lớn nhỏ, đủ màu sắc, nổi bật lên là những khẩu hiệu: “Không nộp một xu thuế, một hạt thóc cho Nhật”, “không đi phu, đi lính cho Nhật”, “Đả đảo phát-xít Nhật”, “Việt Nam hoàn toàn độc lập”… Khí thế cách mạng cuồn cuộn dâng lên. Không một thế lực nào ngăn cản được sức mạnh của nhân dân trong lúc này bởi hàng vạn trái tim đã cùng một nhịp đập, hàng vạn bước chân đã cùng một hướng đi. Cả một vùng trời, vùng đất như đang chuyển động. Một cuộc mít tinh lớn chưa từng thấy trên đất Hiệp Hoà từ trước tới nay ! Tất cả đều phấn khởi, trang nghiêm, tự tin trong khí thế hào hùng của người chiến thắng. Các đồng chí cán bộ chỉ huy quân sự đều đeo súng ngắn. Chiến sĩ mang súng, dây lưng có hai bao đạn, hai quả lựu đạn, quân phục mầu nâu đồng loạt. Tự vệ các xã phần lớn mang kiếm, mã tấu, giáo mác. Cả biển người chăm chú nghe đồng chí Lê Quang Đạo phát biểu: “Thưa toàn thể đồng bào, đồng chí ! Vận nước đã đến, chúng ta phải làm cách mạng để cho dân tộc được giải phóng, đồng bào được tự do…” (*) Sau đó, đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh lên phát động quần chúng hăng hái tham gia phong trào kháng Nhật cứu nước, chuẩn bị lực lượng cùng cả nước đánh đuổi Nhật – Tây… Các đơn vị vũ trang tập trung của tỉnh, của huyện và tự vệ các xã biểu dương lực lượng thao diễn động tác quân sự cho nhân dân xem trong tiếng hò reo, cổ vũ vang cả một vùng. Quần chúng ai cũng sung sướng tin rằng “Việt Minh cướp chính quyền đến nơi rồi, nhất định không phải nộp thuế cho địch nữa…”.(**)

Trước khí thế cách mạng đang dâng cao, bọn địch ở đồn Hà Châu bị cô lập, hoảng sợ rút cả về huyện lỵ Phú Bình. Ở đồn Trị Cụ bọn lính mới điều về thấy tình thế không thể giữ nổi đã bỏ đồn, tháo chạy về tỉnh.

Hiệp Hoà đã hoàn toàn giải phóng ! Và cũng là huyện được giải phóng sớm nhất tỉnh Bắc Giang. Từ đây, phong trào cách mạng ở tỉnh đã có một hậu phương và khu căn cứ vững chắc, tạo thuận lợi cho cao trào kháng Nhật cứu nước của tỉnh giành thắng lợi to lớn hơn.

Để hỗ trợ hơn nữa cho phong trào của các huyện bạn, được sự chỉ đạo của Ban cán sự Đảng tỉnh, hai đội tự vệ vũ trang xuất phát từ xã Mai Đình vượt sông cầu sang huyện Yên Phong (Bắc Ninh) và huyện Đa Phúc (Tỉnh Phúc Yên) tham gia khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi (28). Một vinh dự lớn đến với nhân dân Hiệp Hoà lúc này là được cử 6 đại biểu đi dự Đại hội Quốc dân ở Tân Trào (Tuyên Quang) ngày 16-8-1945. (29).

Ngày 18-8-1945, thị xã Phủ Lạng – Thương và toàn tỉnh Bắc Giang được giải phóng.

Ngày 19-8-1945, đại diện cho nhân dân các xã tập trung tại huyện lỵ để dự mít tinh chứng kiến sự ra mắt của Uỷ ban dân tộc Giải phóng huyện do đồng chí Ngô Tuấn Tùng làm chủ tịch. Một lá cờ đỏ sao vàng to lớn, rực rỡ, tươi rói phần phật tung bay trên đỉnh ngọn cây đa cổ thụ tại trung tâm huyện lỵ, biểu thị niềm vui và sức mạnh của nhân dân từ nay được làm chủ cuộc đời mình. Sau đó, đoàn người diễu hành theo đường 19 (Quốc lộ 37 ngày nay), hướng về thị xã Phủ Lạng – Thương, dự mít tinh mừng ngày giải phóng toàn tỉnh Bắc Giang do mặt trận Việt Minh và Ban cán sự đảng tỉnh tổ chức (30).

Để tiếp tục lãnh đạo nhân dân trong huyện giành được những thắng lợi to lớn hơn trong giai đoạn cách mạng mới, theo quyết định của cấp trên, ngày 20-8-1945 Ban Huyện uỷ Hiệp Hoà được thành lập gồm các đồng chí Phạm Yên, Ngô Tuấn Tùng, Nguyễn Văn Cường (tức Ấp), Ngô Thị Liên (tức Diệp)… do đồng chí Phạm Yên làm Bí thư. Đó là bước trưởng thành rất đỗi tự hào của thế hệ cán bộ, đảng viên đầu tiên, xứng đáng là đội tiên phong đầy tin cậy của nhân dân trong huyện.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban huyện uỷ cùng với 22 đồng chí đảng viên đầy nhiệt tình cách mạng, hăng hái đảm đương những nhiệm vụ quan trọng ở các cơ sở, nhân dân Hiệp Hoà sẽ viết tiếp những trang sử mới cho “vùng quê cách mạng” trong giai đoạn lịch sử tiếp theo.

*

*        *

Những thắng lợi to lớn mà nhân dân Hiệp Hoà giành được trong Cách mạng tháng 8-1945 trước hết là do có sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện và sâu sắc của Trung ương Đảng, của Xứ uỷ Bắc kỳ và Ban cán sự Đảng tỉnh Bắc Giang. Từ những năm 1937 – 1938, ánh sáng của Đảng đã chiếu rọi về đây tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi. Đầu năm 1940, chi bộ Đảng Hoàng Vân ra đời đã trở thành nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của phong trào cách mạng. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng thực sự được nhân dân hưởng ứng và thực hiện, biến thành sức mạnh tổng hợp của địa phương. Thắng lợi đó còn là kết quả của một quá trình nuôi dưỡng và chuẩn bị lực lượng cách mạng từ thấp đến cao, là quá trình giành thắng lợi từng bước, khởi nghĩa từng phần, tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn huyện. Nhiều cán bộ của Trung ương, của Xứ uỷ Bắc Kỳ và Ban cán sự Đảng Bắc Giang đã trực tiếp, thường xuyên hoạt động ở đây, giúp cho cơ sở và phong trào có khẩu hiệu và mục tiêu đấu tranh, hình thức và phương pháp cách mạng đúng đắn, phù hợp, vận dụng được những kinh nghiệm tốt ở các địa phương khác; khắc phục kịp thời những thiếu sót trong chỉ đạo phong trào, đặc biệt trong quá trình xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng kết hợp với xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt trong các cuộc đấu tranh, (31) đúng vào lúc kẻ thù suy yếu, hoang mang cao độ, đã vận dụng sáng tạo “Chỉ thị” của Trung ương, phát động quần chúng vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền. (32) Thắng lợi đó còn thể hiện truyền thống yêu nước và đấu tranh kiên cường bất khuất chống áp bức, bóc lột và ách thống trị tàn bạo của bọn phong kiến và đế quốc. Từ khi theo Đảng làm cách mạng, sức mạnh tổng hợp của nhân dân Hiệp Hoà được nâng lên, không một khó khăn nào có thể cản trở, không một thế lực nào không thể vượt qua. Nhiều quần chúng, gia đình, làng xóm trở thành cơ sở tin cậy của Đảng, bất chấp sự đàn áp của kẻ thù, vẫn một lòng trung thành với cách mạng, nuôi giấu, chăm sóc, bảo vệ an toàn cho cán bộ và các lớp học, hội nghị… của Đảng. Ngay cả những lúc địch khủng bố ác liệt nhất, khó khăn nhất, nhưng phong trào vẫn được giữ vững, thông qua những quần chúng được rèn luyện thử thách và tin cậy. “Có những đợt khủng bố ác liệt… chưa có trường hợp nào do dân làm lộ bí mật, trái lại dân ở đây (Hiệp Hoà) rất tốt. Có thể nói họ hy sinh tất cả để bảo vệ cách mạng.” (*)

Truyền thống cách mạng và phẩm chất tốt đẹp của nhân dân Hiệp Hoà được Đảng đánh giá đúng để xây dựng ATK, mở Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, thực hiện chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, “phá kho thóc” cứu đói, chia ruộng đất cho nông dân và khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi… Đó là những kết quả của cả quá trình phấn đấu nỗ lực của nhân dân, có ý nghĩa lịch sử và tác dụng to lớn.

Cuộc vận động cách mạng tháng Tám của nhân dân Hiệp Hoà dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thu được thắng lợi nhanh, gọn, chắc chắn và trọn vẹn. Thắng lợi đó là sự kế thừa truyền thống của cha ông, là khởi điểm, là cội nguồn cho những thắng lợi rực rỡ hơn trong chặng đường lịch sử tiếp theo. Nó đem lại những bài học kinh nghiệm quý báu, sâu sắc và tiếp tục vận dụng sáng tạo hơn trong thời kỳ củng cố, bảo vệ chính quyền mới và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Kỳ sau đăng tiếp…

Bình luận về bài viết này

Thịnh hành