Tản văn
Một mùa hè nữa lại về rồi. Mấy hôm trước ngồi bên quán trà đầu xóm, mấy người làng tôi cứ lan man chuyện nọ chuyện kia rồi quay sang chuyện bây giờ sao ít người chơi diều sáo. Rồi mỗi người một khúc, tôi chắp nối được câu chuyện về cái ông cụ Thực, người nổi tiếng làm diều và thả diều thời chưa xa…
Làng tôi thời cuối bao cấp đầu đổi mới vẫn nghèo lắm, hạt thóc làm ra chả đủ ăn. Có năm vào kỳ giáp hạt tháng Ba tháng Tư, người làng phải lũ lượt mang lợn con, gà vịt lên tận miền Cao Bằng, Yên Bái… đổi lấy ngô, sắn, gạo về cứu đói. Tụi trẻ mới lớn chúng tôi đang còn học nên chả giúp gì được gia đình, hay bị u mắng vì “dài lưng tốn vải” lại hay mải mê theo ông Thực thả diều sáo cả ngày lẫn đêm. Tôi có lần bị u cho lằn lưng vì trưa nắng vẫn chạy theo đám người đi tìm con diều đứt dây của ông Thực, về đến làng mặt say nắng đo như gà bị cắt tiết.
Ông Thực ở làng tôi ai cũng vừa quý lại vừa như là ghét ghét thì phải. Quý vì ông ấy hiền lành, không to tiếng với ai bao giờ, nhà ông sống nền nếp, quan tâm đến xóm giềng. Nhưng có lẽ người ta ghét ông vì ông ra Hợp tác xã từ khá lâu rồi, ruộng nhà ông cứ tốt bời bời mà ruộng của Hợp tác xã thì èo uột, nên không ít người gọi ông là “bọn tư hữu”. Hơn nữa, khi tháng ba ngày tám, người ta đói thắt bụng phải bươn trải khắp nơi kiếm gạo, ngô, sắn về cứu đói thì bố con ông Thực lại ung dung thả diều. Nên có người lại bảo ông là “ăn chơi tiểu tư sản”. Trẻ con chúng tôi chả biết ai ghét ai quý ông nhưng cứ thấy ông ở đâu là quây tròn vào hò ông thả diều đi để chúng cháu kéo dây. Và dù no hay đói, đêm đêm, tiếng sáo diều của ông Thực vẫn ngân lên da diết, thân thương…
Diều của ông Thực làm bao giờ cũng to nhất vùng, chiều dài tính bằng độ dài của gian nhà, thường là hai gian hoặc hai gian rưỡi, tức là độ năm đến sáu mét. Dàn sáo đính vào khung cái có tới ba chiếc, một chiếc to nhất bằng cái đấu cân sáu, tiếng kêu “đì… đì…” của nó trầm mà vang xa, người ta lấy tiếng kêu đặt tên cho con diều là diều “đì đì ông Thực”. Đấy là con diều thả khi trời gió to, còn khi gió nhỏ, ông đã có hai con diều “đu đu” và “do do”. Khung diều và ống sáo làm bằng tre, bửng sáo khoét bằng gốc cây mỏ. Dây diều cũng bằng tre, nên mỗi khi chuẩn bị thả là phải ngâm vào nước cho mềm lại. Buổi chiều đến, khi mặt trời còn chiếu cái nắng gay gắt thì tụi nhóc chúng tôi đã lũ lượt kéo đến buộc trâu ở bụi tre cổng nhà ông Thực để hò ông thả diều “đì đì”. Có hôm thấy tụi tôi chờ lâu quá mà bị u giục đi chăn trâu vì buộc lâu trâu đói móp bụng, ông Thực bảo: “Hôm nay trở trời, gió không đều, không thả được diều “đì đì” đâu. Đợi tẹo nữa nhá, các cháu đi chăn trâu đi”. Tụi tôi tiu nghỉu tản đi. Lúc sau trời bỗng nổi gió mạnh. Tụi tôi lại nhao cả về giục ông Thực. Ông đành chiều chúng tôi mang con “đì đì” ra thả. Lũ chúng tôi háo hức hò nhau khiêng con diều ra cánh đồng, rồi rải dây. Lúa chiêm đang thì con gái, nên ông Thực nhắc rải dây khéo không để nát lúa. Tôi cùng bốn đứa khiêng diều lúc lúc lại bị gió suýt nhấc bổng lên, ngã dúi dụi. Khi dây đã trải được khoảng hơn trăm mét, ông Thực ra hiệu tạm dừng. Ba đứa khỏe nhất đảm nhiệm giữ gốc dây. Hai đứa khác cũng khỏe giữ hai bên thân diều giúp ông Thực. Tôi gày nhom chả làm được gì, đảm nhiệm truyền lệnh “hiệp đồng” giữa hai bộ phận, tức là khi ông Thực lệnh “đâm”, thì ông và hai người giữ diều cùng dướn người đẩy con diều lên; cùng lúc, ba người giữ gốc dây sẽ lấy đà vừa kéo vừa chạy. Khi con diều đã lên cao, nhìn độ cân hay lệch, ông Thực sẽ quyết định thả thêm dây hay phải giật xuống để chỉnh lại. Con diều to thế, nên để nó “đỗ đêm” được là cả một vấn đề, nếu thấy mây bay đều, nhanh, tức là gió trên nhiều, ông sẽ nối thêm dây để diều tha hồ tung hoành trên tầng cao. Nhưng nếu gió dưới to mà gió trên nhỏ, ông sẽ chỉ thả chừng mực để phòng diều không no gió, dễ ngật. Mùa hè thường mưa gió thất thường, có hôm đang đêm tiếng sáo diều đột ngột kêu khác thường, rồi tắt lịm. “Diều đứt dây rồi!” – Tiếng kêu thất thanh rồi tiếng chạy uỳnh uỵch rộn lên đầu ngõ. Cơn giông bất ngờ kéo đến đã khiến dây tre không giữ nổi con diều, nó bay chắc xa lắm. Tụi tôi mắt mũi nhầm nhèm vì ngái ngủ, chợt tỉnh như sáo, lao theo ông Thực và mấy người đang bấm đèn pin lấp loáng chạy đi tìm diều. Chợt tiếng u tôi gọi với khiến tôi khựng lại, đành lủi thủi về cổng nhà ngóng đợi tin…
Bây giờ cũng là mùa gió xuôi, ngày trước quê tôi hay gọi là “mùa thả diều”. Vẫn buổi chiều, buổi tôi ngồi đón gió nồm nam thổi, mà sao vắng tiếng sáo diều. Tôi nhìn ra đồng làng, lúa chiêm đang thì con gái mượt như nhung lao xao trong gió. Chợt nhớ tiếng sáo diều “đì đì”, “đu đu”, “do do” của ông Thực ngày xưa quá. Bây giờ ruộng đất được giao đến từng nhà, mọi người mới kháo rằng, giá cứ giao khoán sớm thì đâu đến nỗi phải đói kém như độ nào, ông Thực thế mà có đầu óc hơn người làng. Bây giờ ông lão Thực cũng già rồi, con cái ông cũng mải làm ăn bươn trải, người làng cũng thế, có của ăn của để nhưng đâu còn ai để tâm đến việc thả diều để ngân vang “khúc nhạc đồng quê” như ông, nhớ quá…
Nhà báo Nguyễn Hoàng Sáu





Bình luận về bài viết này