(BG)-Xuân Cẩm – một xã ven sông Cầu của huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang). Con người nơi đây mang trong mình sự hoà quyện giữa hai dòng máu Kinh Bắc hào hoa và sơn cước thượng võ, trọng nhân nghĩa, quý đạo học. Lịch sử thành văn của vùng đất này đã minh chứng nhận định ấy.
Dòng sông Cầu lơ thơ nước chảy làm duyên cho một xã năm làng: Cẩm Chung, Cẩm Bào, Xuân Biều, Cẩm Xuyên, Cẩm Hoàng, tất cả đều nằm trong địa lý hành chính của tổng Cẩm Bào xưa. Trong thời kỳ phong kiến, hiếm nơi nào trên vùng đất Bắc Giang được triều đại nhà Lê tôn vinh nhiều danh hiệu như Xuân Cẩm: “Mỹ tục khả phong”, trung – nghĩa dân. Còn các tên làng như: “Cẩm Bào” (làng có nhiều người làm quan mặc áo vua ban), “Cẩm Hoàng” (làng thuộc đất vua tặng), “Xuân Biều (làng có nhiều người văn hay chữ tốt). Viết nhiều biểu tấu dâng vua hiến kế trị nước an dân, được vua tặng bốn chữ “Mỹ tự Xuân Biều”. Tất cả các nét đẹp ấy làm nên tổng Cẩm Bào xưa và xã Xuân Cẩm hôm nay. Cái tên Xuân Cẩm mang ý nghĩa sắc xuân tươi đẹp cho một thời xa xưa và ước nguyện mai sau.

Đường vào làng Xuân Biều, xã Xuân Cẩm. Ảnh: VIỆT HƯNG
Năm tháng qua đi, biết bao dâu bể nhưng trở về Xuân Cẩm hôm nay, ta vẫn được chiêm ngưỡng nhiều di tích, cảnh sắc nhân chứng sống động của một quá khứ vẻ vang ở vùng đất này. Giữa một làng quê tươi rói ngói son với nhiều công trình đang dựng xây mang sức sống hiện đại thì cây đa – mái chợ – sân đình vẫn giữ một vị trí quan trọng, làm tôn vinh một cách thuyết phục cho vùng đất cổ. Không còn nhớ là mấy trăm năm, cây đa cổ thụ vẫn xòa bóng che mát mái chợ quê. Chợ Bầu gắn liền với chuyện xưa vua đặt tên. Chợ Bầu, nơi in dấu dáng hình của biết bao thế hệ người mẹ, người chị tảo tần mẹt khế, rổ khoai, thúng gạo, con gà, lá rau lấy tiền nuôi con ăn học, dạy con thành người công dân yêu nước, yêu làng, biết xả thân vì nghĩa lớn, nuôi giấu cán bộ cách mạng những năm tiền khởi nghĩa. Lịch sử của vùng quê này đã lưu danh nhiều người con trí đức song toàn qua những trang sử đá, những truyền tích dân gian, những gia phả dòng họ. Xã có 4 quận công đô đốc tiến sĩ, đó là: Ngô Đình Dũng tướng công (năm 1645), Phạm Đình Liêu thượng tướng công (năm 1730), Ngô Đình Chiến đô đốc quận công, Ngô Đình Hoành tướng công. Hiếm có trên đất Hiệp Hòa như Xuân Cẩm, có 5 khu lăng tẩm: Lăng họ Ngô, còn gọi là lăng đá đã được nhà nước xếp hạng di tích, hai lăng họ Hoàng, hai lăng họ Nguyễn. Trải qua bao năm tháng phong sương, vóc dáng, đường nét kiến trúc lăng mộ còn gần như vẹn nguyên, là minh chứng cho một vùng đất văn hiến và thượng võ.
Lăng họ Ngô được xây dựng ở thế kỷ XVIII, toạ lạc trên một khu đất cao, phóng khoáng giữa đồng. Người cho xây khu lăng này là tướng công Ngô Đình Hoành – một người văn võ song toàn. Người xưa truyền lại rằng: Xây dựng gần xong lăng thì tướng công mất nên bia tròn không được khắc chữ, còn thi hài tướng công thì được an táng lại lăng này. Đây là một khu lăng đẹp, tương đối hoàn chỉnh về kiến trúc, nghệ thuật, được xây dựng hầu hết bằng chất liệu đá ong, bởi vậy mà bao mùa xuân đi qua, tường vây, mộ tượng vẫn giữ vẻ cổ kính uy nghi, trầm mặc.
Còn bao nhiêu đình, đền, lăng miếu khác tồn tại trên vùng đất quê này, nói tiếng nói không lời mà vàng đá, minh chứng cho một vùng đất giàu văn hoá và truyền thống. Từ thuở Hùng Vương dựng nước, đất và người Xuân Cẩm đã có tên trong địa chí Văn Lang. Xuân Cẩm vì thế gắn liền với tiến trình phát triển của dân tộc, trên vùng quê được mệnh danh là sắc áo mùa xuân này đã ghi dấu nhiều sự kiện trọng đại, hào hùng, âm vang sông núi. Trong cuộc kháng chiến chống Tống (1067-1077), Xuân Cẩm thuộc phòng tuyến Như Nguyệt, cả vùng đất quê này hằng âm vang bài thơ thần của Lý Thường Kiệt, khẳng định chủ quyền bờ cõi nước Nam, nhân dân nơi đây đã góp sức cùng Lý Thường Kiệt thắng 30 vạn quân Tống cho lời tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt thành hiện thực.
Tính cách thượng võ của người Xuân Cẩm được toả rạng trong các thời kỳ lịch sử của dân tộc, mà đặc biệt là đầu thời kỳ cách mạng, thời tiền khởi nghĩa và thời kỳ chống phong kiến và thực dân xâm lược. Tại ngôi đình cổ Xuân Biều, chúng tôi đã từng được nghe lão du kích Ngô Đình Kế kể chuyện du kích Xuân Biều phối hợp với quân chủ lực bắn cháy ca-nô Pháp trên dòng sông Cầu. Cụ Nguyễn Văn Hiền kể lại không khí ngày khởi nghĩa giành chính quyền 13-2-1945 với một niềm tin, niềm tự hào. Còn trong cuốn “Hiệp Hoà một vùng quê cách mạng”, đồng chí Nguyễn Thanh Quất – lão thành cách mạng – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng – Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Hà Bắc viết: “Đây là khởi nghĩa giành chính quyền cấp xã đầu tiên của tỉnh ta và là thắng lợi đầu tiên của sự vận dụng sáng tạo chỉ thị: “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Ban Thường vụ Trung ương Đảng về khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa”. Còn trong cuốn hồi ký “Trọn một cuộc đời” của đồng chí Lê Thanh Nghị đã ghi rõ: “Khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng ở Xuân Biều là đốm lửa để bùng lên cả một trời lửa Cách mạng tháng Tám năm 1945”. Cùng với cả dân tộc, chia sẻ niềm tự hào với nỗi đau thương, mất mát gần 300 người con Xuân Cẩm đã hy sinh anh dũng, 45 thương bệnh binh, chi viện 41 nghìn tấn lương thực, thực phẩm cho tiền tuyến trong suốt hai cuộc kháng chiến, được Đảng, Nhà nước phong tặng: 4 bằng di tích lịch sử cách mạng an toàn khu 2, 4 bằng có công với nước, gần 3.000 huân huy chương các loại, một Mẹ Việt Nam Anh hùng… Một vinh dự đặc biệt cho Xuân Cẩm là năm 1954 được đón Bác Hồ về thăm. Lối nhỏ xuống bến Xuân Cẩm còn đó, in dấu bước chân vị lãnh tụ kính yêu và giữ mãi trong lòng người Xuân Cẩm những chỉ thị và huấn dụ của Người. Tháng 12-2003 là mốc son ghi nhớ trong lịch sử truyền thống cách mạng của người Xuân Cẩm, đó là Xuân Cẩm được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Bao thế hệ “tre già măng mọc”, Xuân Cẩm cứ trẻ mãi cùng tháng năm trong sự nghiệp bảo vệ xây dựng và phát triển, truyền thống yêu nước xưa tiếp sức cho dũng khí con cháu hôm nay. Sự phát triển kinh tế được song hành cùng nâng cao dân trí. Bao cử nhân, tiến sĩ, thạc sĩ được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất này. Những tiến sĩ như: Ngô Thế Chi, Ngô Kim Phượng, Ngô Thu Hồng, Ngô Thu Hương; những học sinh giỏi quốc gia như: La Văn Thịnh và bao người có học vị, địa vị cao khác trong xã hội hẳn là niềm tự hào của mảnh đất truyền thống khoa cử, nhiều nghề cao quý này.





Bình luận về bài viết này