Xuân Cẩm là một xã trung du của huyện Hiệp Hoà. Từ lâu hai làng Cẩm Hoàng và Xuân Biều thuộc xã Xuân Cẩm, huyện Hiệp Hoà đã có tục lệ đón dân anh, dân em. Không ai còn nhớ tục lệ này đã có từ bao giờ nữa. Nói là dân anh, dân em nhưng giữa hai làng không phân biệt đâu là dân anh và đâu là dân em, mà đều gọi nhau là anh và xưng em. Đại lệ là ngày quan trọng của hai làng diễn ra vào hai ngày khác nhau. Hội lệ làng Cẩm Hoàng hằng năm mở vào ngày 10 tháng 4 và ngày 6 tháng 9. Hội lệ của làng Xuân Biều hằng năm tổ chức vào ngày 3 tháng 9. Từ xưa, cứ 5 năm 1 lần hai làng lại tổ chức đại lệ của làng, tức là năm nay làng này đón dân anh, thì 5 năm nữa làng kia mới lại được mời lại.
Đại lệ của làng là ngày lễ quan trọng nhất của cả làng. Trong ngày đại lệ ai là người được phân công nhiệm vụ thì không thể nào từ chối được và phải nhất nhất theo sự phân công của trưởng ban khánh tiết. Năm đó, nếu không hoàn thành nhiệm vụ, hay làm hỏng ngày lễ của làng thì sẽ bị cả làng khiển trách.
Vào những năm không tổ chức đón dân anh, dân em thì hai làng tổ chức lễ tại đình làng mình theo nghi thức cổ truyền. Nghi thức đón dân anh dân em được chuẩn bị rất công phu và trang trọng. Không phải ai cũng được tham gia vào đội rước, tế của đại lệ. Thời gian rước của buổi lễ cũng không bắt buộc phải theo giờ cố định, mà do ban khánh tiết mỗi năm của hai làng giao ước với nhau.
Phong tục đón dân anh, dân em bây giờ đã có phần khác trước. Ngày xưa, khi phương tiện giao thông đường thủy và đường bộ chưa phát triển, khi đại lệ đón dân anh, dân em đoàn rước phải đi bộ khoảng 4km. Đoạn đường không xa, nhưng phải đi qua hai làng là Cẩm Xuyên và Cẩm Bào. Làng Cẩm Xuyên không phải là dân bản địa lâu đời ở đây, nên khi đoàn rước qua hay bị gây khó rễ, do vậy phải có lễ vào đình Cẩm Xuyên và Cẩm Bào.
Ngày nay, khi phương tiện giao thông đường thủy phát triển thì hai làng đón dân anh, dân em đi bằng i thuyền dọc theo sông cầu. Đoàn rước tập trung tại tại đình với số lượng người đi rước và giờ đã quy định của trưởng ban khánh tiết đã thống nhất trong cuộc họp ban khánh tiết của làng. Đoàn rước đi từ đình làng ra bến Chùa, nơi có thuyền đợi sẵn. Khi đoàn rước đi có rất nhiều người dân trong làng ra đưa đoàn rước. Dẫn đầu đoàn rước là đội cờ tổ quốc đến cờ hội và cờ thần, tiếp là đội chấp kích bát bửu sau tới kiệu song hành là kiệu do 4 người khiêng. Trên có hoa quả và lễ đen. Sau nữa là kiệu bát cống, do 8 người khiêng, trên có bát hương thờ thánh Tam Giang được rước đi từ hậu cung của đình. Sau kiệu bát cống là đội tế của làng và sau cùng là đội khánh tiết của làng. Sau khi đoàn rước đã lên thuyền dân làng đứng trên bờ hô hào, chúc cho đoàn rước đi may mắn và an toàn, đi tới Kè Bầu khi thấy thuyền hoa tiêu của làng mời ra đón thì cả đoàn rước hô hào vui mừng như hai anh em sau 5 năm mới gặp lại nhau. Thuyền hoa tiêu của làng mời đi trước, dẫn đường cho đoàn rước. Khi tới bến cát thì đoàn rước của làng mời ra tận bờ sông đón. Khi hai làng gặp nhau và chỉnh đốn lại đội hình rước, thì hai làng vái kiệu. Theo tôi đây có thể là màn chào hỏi và cũng là phong tục độc đáo, làng được mời cúi kiệu bát cống có bát hương của thánh Tam Giang ngự xuống và làng mời cũng làm tương tụ như đáp lễ lại vậy. Cứ như vậy hai kiệu vái nhau ba lần, sau đó kiệu của làng mời đi trước dẫn đường và kiệu của làng được mời đi theo sau. Khi tới sân đình làng mời, hai làng để kiệu tại những vị trí đã quy định từ trước. Kiệu của làng mời tức chủ nhà bên trái cửa đình và kiệu của làng được mời tức là khách để bên phải trước cửa đình. Sau đó chủ tế của hai làng cùng dâng bát hướng của hai thánh vào ban tiền tế và cùng tế, gọi đó là song tế. Trong bài tế chủ yếu là cầu cho quốc thái dân an mùa màng tươi tốt con cháu ấm no hạnh phúc. Khi hai ban chủ tế đã làm lễ đình xong, thì nhân dân trong làng và ngoài làng mới vào làm lễ. Sau khi nghi lễ xong thì hai làng cùng vào dự bữa cơm thân mật tại sân đình và trò truyện vui vẻ. Khi câu chuyện kết thúc và buổi gặp gỡ đã xế chiều, chủ tế của hai làng lại vào đình làm lễ và rước bát hương của ngài về cung, đúng theo như nghi thức lúc vào đình. Quay về thì kiệu bát cống của làng được mời đi trước và kiệu bát cống của làng mời đi sau. Khi đi tới bến sông, hai kiệu lại vái chào nhau ba lần như lúc gặp nhau. Dẫu biết 5 năm nữa sẽ gặp nhau khoảng cách hai làng cũng không xa, nhau nhưng khi chia tay vẫn có những giọt lệ nhau rơi xuống và họ chúc nhau những lời tốt đẹp nhất, hẹn ngày gặp lại.
Tục lệ đón dân anh, dân em bị gián đoạn trong thời kỳ chiến tranh. Năm 1996 khi làng Cẩm Hoàng làm lại đình thì phong tục này mới được khôi phục.
Nét độc đáo của đại lệ đón dân anh, dân em mang một ý nghĩa vô cùng nhân văn cao cả. Hai làng luốn có ý thức bảo vệ nâng đỡ cho nhau khi xẩy ra biến cố, ví như trong quan hệ xã hội nếu xảy ra xô sát giữa người của hai làng với nhau. nhưng khi đã biết là người của dân anh, dân em thì ngay lập tức họ “ dĩ hòa vi quý” và coi như không có chuyện gì xảy ra. Đặc biệt từ bao đời nay, con em của hai làng không được kết hôn với nhau. Theo tôi đây là một nét văn hóa vô cùng độc đáo và của phong tục này cần được bảo tồn.!.
Nguyễn Văn Nghiên
Nguồn http://www.vanhoabacgiang.vn/index.php?option=com_content&view=category&layout=blog&id=31&Itemid=28





Bình luận về bài viết này