Home Tin TứcVăn hoá - Xã hội Người phụ nữ nào trên thế gian cũng đều thế cả

Người phụ nữ nào trên thế gian cũng đều thế cả

by HiephoaNet
Tôi xin được mượn nhan đề một bài thơ của tác giả có tên là Mai Trang để làm tiêu đề cho bài viết này. Xin được coi đó là món quà kính dâng lên các bà, các mẹ, các chị…nhân dịp chào mừng ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10) đầy ý nghĩa này.
 
Có lẽ không một thiên tài ngôn ngữ nào, không một mỹ từ nào có thể miêu tả được hết sự vĩ đại của người phụ nữ trên thế gian. Cũng bởi nhận thức được điều đó, nên qua việc cảm nhận bài thơ có nhan đề:” Người phụ nữ nào trên thế gian cũng đều thế cả” của tác giả Mai Trang, tôi muốn có đôi lời tản mạn đề cập đến thiên chức vĩ đại của người phụ nữ Việt Nam – thiên chức làm mẹ- đức hy sinh của người mẹ.
 
            Người phụ nữ nào trên thế gian cũng đều thế cả,
Lao động hàng ngày và nghĩa vụ sinh sôi,
          Mái ấm gia đình nhọc nhằn vất vả,
    Giây phút thảnh thơi, mới thật hiếm hoi.
*
               Người phụ nữ nào trên thế gian cũng đều thế cả,
                 Cuộc sống lứa đôi, chuyển biến chất trong người,
Thèm của chua và nhiều khi nôn oẹ,
  Lần đầu mang thai thân nặng nghĩa đời.
*
               Người phụ nữ nào trên thế gian cũng đều thế cả,
             Cũng mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày,
Cái thiên chức thiêng liêng tạo hoá,
  Hạnh phúc kết tinh mầm sống tương lai.
*
    Người phụ nữ nào trên thế gian cũng đều thế cả,
Cũng dốc bầu sửa mẹ để nuôi con,
Năm canh thao thức nghe nhịp thở,
Chỗ khô con lăn, chỗ ướt mẹ nằm.
*
Người phụ nữ nào trên thế gian cũng đều thế cả,
Đếm ngày tháng con biết lẫy, biết bò,
Mong chập chững bước đầu tiên con không ngã,
Và dạy con từ thủơ hãy còn thơ.
*
Người phụ nữ nào trên thế gian cũng đều thế cả,
Cũng ước mơ con khôn lớn nên người,
Ôi tình mẹ bao la như biển cả,
Hỡi những người con có hiểu hết lẽ đời.
 
Thiên tài văn học Nga Macxim Gorki đã từng khẳng định: ” Cao cả thay cái chức vị làm người trên trái đất”. Nhưng cũng theo nhà văn để có được con người trên trái đất người mẹ phải trải qua nỗi đau đớn vô cùng về thể xác trong quá trình sinh nở để khi đứa con ra đời, người mẹ trở thành TẠO HOÁ. Với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, hình ảnh người phụ nữ – người mẹ trong bài thơ này được nói tới bằng tất cả tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc nhất.
Bài thơ có kết cấu gồm 6 khổ thơ, mở đầu mỗi khổ là sự lặp lại điệp khúc: ” Người phụ nữ nào trên thế gian cũng đều thế cả” . Hình thức lặp lại đó như khẳng định một chân lý- ở bất cứ nơi nào trên thế gian này người phụ nữ cũng đều có những điểm giống nhau. Đó là: 
 
         “Lao động hàng ngày và nghĩa vụ sinh sôi
Mái ấm gia đình nhọc nhằn vất vả
          Giây phút thảnh thơi, mới thật hiếm hoi ”  
Có thể nhận thấy nhiều điểm giống nhau ở những người mẹ được nhà thơ kể ra trong toàn bộ bài thơ dài đến 6 khổ này, nhưng có lẽ điều tác giả muốn nhấn mạnh nhất đó chính là thiên chức làm mẹ: ” nghĩa vụ sinh sôi” . Cái thiên chức không hề ” thảnh thơi” ngay từ buổi ban đầu
 
” Thèm của chua và niều khi nôn oẹ
Lần đầu mang thai thân nặng nghĩa đời”
Quá trình mang thai của người mẹ chính là quá trình thực hiện” nghĩa đời” để rồi nó trở thành nỗi đau đớn vô cùng về thể xác ngày sinh nở, niềm hạnh phúc vô biên khi đứa trẻ ra đời:
                   ” Cũng mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày
  Cái thiên chức thiêng liêng tạo hoá
           Hạnh phúc kết tinh mầm sống tương lai”
Sinh con vất vả trăm bề, nhưng công lao to lớn của người mẹ không chỉ dừng ở đó. Người mẹ càng vĩ đại hơn khi ta cảm nhận được những hy sinh, vất vả, những chăm lo để nuôi con khôn lớn thành người:
 
“Năm canh thao thức nghe nhịp thở
Chỗ khô con lăn, chỗ ướt mẹ nằm”
 
Cũng bởi hết lòng chăm con nên tất cả những đổi thay khôn lớn của con, mẹ đều cảm nhận được:
 
“Đếm ngày tháng con biết lẫy, biết bò
Mong chập chững bước đầu tiên con không ngã”
 
Có lẽ cũng không cần phân tích thêm về ý nghĩa câu, từ của bài thơ, chúng ta cũng có thể cảm nhận được sự vĩ đại của người mẹ được nói tới trong bài thơ này. Bài thơ được khép lại bằng một lời kêu gọi – kêu gọi nhưng không hề có tính chất giáo huấn, không hề khô khan bởi nó là tiếng nói chân thành của tình cảm: 
 
“Ôi tình mẹ bao la như bển cả
Hỡi những người con có hiểu hết lẽ đời”
 
Những vần thơ mộc mạc đó làm xuất hiện trong tôi những suy nghĩ về người phụ nữ Việt Nam. Về đức hy sinh- phẩm chất vĩ đại của người phụ nữ Việt Nam. 
Nhìn lại lịch sử, trong thời kỳ phong kiến, sự ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Nho giáo đã đem đến muôn vàn nỗi bất hạnh cho người phụ nữ Việt Nam. Quan niệm: nam tôn, nữ ty ( Trọng nam, khinh nữ), với một loạt những yêu cầu hà khắc đối với người phụ nữ: “Tam tòng, tứ đức”. “Tam tòng” là : ” Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” ( Ở nhà theo cha, đi lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con); ” Tứ đức” là: công , dung, ngôn, hạnh. Cũng bởi những quan niệm hà khắc của Nho gia mà trong xã hội phong kiến có lẽ một trong những tội lớn nhất của người phụ nữ là tội không chồng mà chửa. Người phụ nữ chửa hoang sẽ phải chịu hình phạt cạo trọc đầu, bôi vôi, đóng bè chuối thả trôi sông trong sự nguyền rủa của người đời. Thế nhưng đã mấy ai hiểu được rằng người đàn bà tội lỗi đáng nguyền rủa đó lại đang âm thầm hy sinh để làm công việc của tạo hoá- sản sinh ra con người. Có lẽ trong bối cảnh đó, chỉ có những tiếng nói tiến bộ như nữ sỹ Hồ Xuân Hương mới có thể cảm nhận được và dám ca ngợi thành lời:
 
Cả nể cho nên sự dở dang,
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng.
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,
Phận liễu sao đà nảy nét ngang.
Cái nghĩa trăm năm chàng nhở chửa,
Mảnh tình một khối thiếp xin mang.
Quản bao miệng thế lời chênh lệch,
Không có nhưng mà có mới ngoan.
 
Đức hy sinh của người phụ nữ Việt Nam là như vậy. Sau hàng thế kỷ dưới chế độ phong kiến, là hàng thấp kỷ đất nước phải trải qua các cuộc chiến tranh tranh chống ngoại xâm. Trong những năm tháng gian khổ nhưng đầy hào hùng đó thì đức hy sinh của người phụ nữ Việt Nam lại hiện lên rõ nét hơn bao giờ hết. Có học giả nước ngoài đã từng bình luận về cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam như sau:  Điều quan trọng làm nên chiến thắng của Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ chính là đức hy sinh của người phụ nữ Việt Nam. Là người Việt Nam chúng ta càng cảm nhận rõ điều đó. Ở đâu trên thế gian này còn có hình ảnh người vợ:
 
” Hai mươi năm mình chị một mâm cơm
Ngồi bên nào cũng lệch
Hai mươi năm
Chị chôn tuổi xuân trong má núm đồng tiền”
 
Đối với những người vợ có chồng ra chiến trận, những năm tháng đợi chờ- sự chờ đợi của tình yêu, của khát vọng hạnh phúc lứa đôi có lẽ là khoảng thời gian đáng sợ nhất. Nếu như xưa kia, người chinh phụ không chịu nổi nỗi nhớ chồng đã phải thốt lên rằng ” Nhất nhật bất kiến như tam thu hề”( Một ngày không thấy dài như ba năm), thì giờ đây ta cũng thấy cái cảm giác đó hiện ra qua hành động của người phụ nữ:
 
” Ít nhiều người vợ trẻ
Mòn chân bên cối gạo canh khuya”
 
Điều dễ nhận thấy, dù ở thời đại nào thì những khát vọng chân chính của người phụ nữ cũng đều giống nhau. Và ở thời đại nào, người phụ nữ Việt Nam cũng không đánh mất mình bởi ở họ có đức hy sinh.
 
Chúng ta( ở đây tôi muốn nói nhiều tới các đấng mày dâu) đang sống trên thế gian này, với muôn vàn những bươn trải của cuộc sống, những lo toan của cuộc đời, đã mấy ai cảm nhận, thấu hiểu, biết ơn mà đền đáp xứng đáng công lao người mẹ đã sinh ra ta, nuôi ta khôn lớn thành người. Bởi mấy ai cảm nhận được: 
“Bà sinh ra cha bà đau như thế nào,
 
Cha ! gã đàn ông vô tình làm sao biết được.
Mẹ sinh ra con mẹ đau như thế nào,
Con ! đứa con trai vô tình làm sao biết được.”
 
Như đã nói, xin được coi đây là món quà mà tôi kính dâng lên các bà, các mẹ ,các chị…Nó chỉ là những dòng tản mạn. Đã là tản mạn thì nghĩ gì viết thế. Xin được cảm nhận bài viết này không phải ở góc độ hành văn mà hãy cảm nhận ở sự chân thành của cảm xúc.!
 
Hiệp Hoà,  tháng10 năm 2013- Nguyễn Văn Thiện- Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Hiệp Hoà

Related Articles

Leave a Comment