Home Quảng cáo Những thông tin mới về Tiến sĩ – Tham tụng Trịnh Ngô Dụng

Những thông tin mới về Tiến sĩ – Tham tụng Trịnh Ngô Dụng

by HiephoaNet
Trịnh Ngô Dụng hiệu là Hiên Trai, sinh năm 1684, người xã Vân Trùy huyện Hiệp Hòa phủ Bắc Hà xứ Kinh Bắc xưa – nay là thôn Vân Xuyên xã Hoàng Vân huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang. Thuở nhỏ nổi tiếng thông minh hiếu học, khi trưởng thành thấy quê hương không có trường học ông đã tự bỏ của nhà mở trường mời thầy giỏi, rồi ông tham gia học cùng con em trong làng. Khi tham dự kỳ thi Hương đã đỗ Hương cống rồi được bổ làm quan Huấn đạo. Năm Tân Sửu, niên hiệu Bảo Thái thứ 2 (1721) đời vua Lê Dụ Tông, nhà nước mở khoa thi thường kỳ để kén trọn người hiền tài ra làm quan giúp nước, Trịnh Ngô Dụng đã tham gia ứng thí khi đã 38 tuổi. Ở kỳ thi Hội có hàng nghìn sĩ tử dự thi, nhà nước lấy đỗ 25 người, Trịnh Ngô Dụng đỗ hàng thứ 7. Khi vào dự kỳ thi Đình để phân hạng tiến sĩ ông được ban danh vị Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Trong bài ký đề danh Tiến sĩ trên tấm bia về khoa thi này dựng ở Văn miếu Hà Nội do Hàn lâm viện Thị độc, Tri Thị nội Thư tả Hộ phiên Đoàn Bá Dung vâng sắc soạn cho biết: “… Khi ấy chọn lọc rất kỹ, số người mặc ngân bào vào trường có đến gần ba nghìn người, số người được mực nhạt đề tên chỉ có 25 người. Sang tháng sau, tiến vào điện đình, nhà vua ra đầu đề, hỏi về đường lối trị nước. Ngày hôm sau, các quan giữ việc đọc quyển bưng quyển lên đọc để nhà vua soi xét, ấn định thứ bậc cao thấp… Xướng danh xong, các quan bộ Lễ mang bảng vàng đến cửa của nhà Thái học niêm yết. Khi ấy người xem rất đông: xe ngựa dập dìu, áo xiêm tấp nập, ai cũng nói: từ khi Trung hưng đến nay, khoa thi này lấy được nhiều người hơn cả. Mùa xuân năm sau, cử hành các điển lễ: cấp mũ áo cân đai cho có vẻ vinh hoa; đãi tiệc yến cành hoa cho có vẻ long trọng. Ban tiền bạc thêm để tỏ ơn riêng đằm thắm. Làm cửa nhà mới cho có chỗ ở đường hoàng. Lại ấn cho phẩm tước, có địa vị, ơn trên thực là dồi dào. Sau nữa, cho khắc tên vào bia đá dựng trong Quốc học…”.
 
 
Phần mộ của Tiến sỹ- Tham tụng Trịnh Ngô Dụng
 
Đỗ đại khoa được hưởng ân lệ vinh quy bái tổ ông tiếp tục ra làm quan trải rất nhiều chức: Binh khoa cấp sự trung, Giám sát ngự sử, Lại bộ Tả Thị lang, Tham tụng, tước Lại Đình hầu. Năm 1746 Trịnh Ngô Dụng được phụng mệnh đi sứ nhà Thanh. Trên đường đi sứ không may ông bị mắc bệnh hiểm nghèo rồi qua đời trên đất Bắc khi còn là sứ thần nước Đại Việt. Sau khi mất thi hài ông được đưa về an táng ở xứ đồng Vườn Thông (Viên Thông xứ) quê nhà, nay thuộc thôn Vạn Thạch, xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa và được phong tặng tước Lại Quận công. Tương truyền, nhân tang lễ cụ, vua Lê – chúa Trịnh đã cử cụ Nguyễn Trọng Đôn thay mặt triều đình về quê tế cụ. Hiện hậu duệ họ Ngô còn lưu giữ được lư hương gỗ sơn mài có vẽ hai bức tranh sơn thủy, di vật mà triều đình ban tặng từ năm 1746 tại từ đường họ Ngô.
 
Từ đường họ Ngô hiện nay vốn là ngôi trường học thủa xưa mà cụ Dụng đã xây dựng để dân làng đến học. Đã qua nhiều lần trùng tu nên công trình kiến trúc hiện nay cơ bản mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX). Đó là ngôi nhà 3 gian, cột gỗ lim, các cấu kiện khác phần nhiều bằng chất liệu gỗ xoan. Công trình này có kết cấu kiến trúc kiểu kẻ chuyền – lòng thuyền, một số cấu kiện như con chồng, kẻ bẩy… được chạm khắc đơn giản. Trải trên dưới một thế kỷ hệ thống cột, kèo và các cấu kiện vẫn còn khá chắc chắn, toàn vẹn. Ngôi từ đường do gia đình ông Ngô Quốc Việt, hậu duệ của cụ Trịnh Ngô Dụng ở và trông coi bảo quản. Tuy gia đình đang ở, nhưng phần nội tự vẫn được tôn trọng bài trí theo quy cách của nơi thờ tự tổ tiên thường gặp ở các dòng họ vùng Trung du Bắc bộ. Tại gian giữa, từ ngoài bước vào, gia đình kê đặt bộ kỷ để tiếp khác; tiếp đến là nhang án, nơi bài trí đồ thờ tôn vinh tiên tổ. Chính giữa nhang án là cỗ ngai ỷ – bài vị gỗ cổ sơn son, thếp vàng lộng lẫy. Hai bên đăng đối bày đủ cây đèn, cây nến, đài trầu, đại rượu… và đặc biệt nhất vẫn là chiếc lư hương sơn mài đã hơn hai trăm năm trầm mặc tỏa hương, tuy có chỗ bị bong tróc bởi thời gian nhưng họa tiết được họa sĩ xưa chấm phá với nét vẽ giản dị vẫn còn nguyên vẹn thể hiện sự tài hoa khéo léo mà thấm đậm tâm hồn Việt. Thêm nữa, ở di tích này còn bảo lưu một hiện vật cực kỳ quý hiếm mà thật khó có nơi nào còn lưu giữ được, đó là cỗ đòn khiêng kiệu triều đình ban phong cho Tiến sĩ Trịnh Ngô Dụng khi cụ đăng khoa, vinh quy bái tổ mùa xuân năm Tân Sửu – 1721.
 
Cùng tồn tại với các hiện vật cổ thời Lê (nửa sau thế kỷ XVIII) phần nội tự còn treo các bức hoành phi, câu đối và một số tư liệu Hán Nôm phản ánh về truyền thống hiếu học của gia tộc họ Ngô, hậu duệ Tiến sĩ Trịnh Ngô Dụng được tạo tác dưới thời Nguyễn. Dưới đây xin được giới thiệu nội dung những tư liệu Hán Nôm quý giá liên quan đến “ông Nghè Vân Trùy” để độc giả, các nhà nghiên cứu tham khảo.
 
1. Bức đại tự: Địch tiền quang (nghĩa là: Ân đức tổ tiên sáng mãi)
 
2. Câu đối:
 
“Từ nhược tôn thiên địa tài bồi tam cán(1) mậu
Nam nhi bắc vân nhưng(2) phồn thịnh vạn niên trường”
(Từ con đến cháu, trời đất vun trồng ba gốc tốt
Từ Nam đến Bắc cháu con phồn thịnh vạn năm bền).
“Khoa giáp cao tiêu tiền khởi hậu huy gia liệt tổ
Sĩ đồ tiễn lý nội tham ngoại tán quốc danh thần”
(Nêu cao đường khoa giáp, người trước mở đường người sau kế bước làm rạng rỡ tổ tông
Quyết chí làm quan giúp nước, trong giúp ngoài phò, nổi tiếng là bầy tôi hiền của nước).
“Giáp khoa phát nhẫn gia chi tổ
Tể tịch lưu phương thế sở sư”.
(Cụ tổ nhà ta mở đường khoa giáp
Xứng bậc thầy ở đời, lưu mãi tiếng thơm).
“Tam giáp sách danh khoa bảng bộ
Nhị triều hiển trật miếu đường nhan”.
(Đường khoa bảng tên đề Tam giáp
Chốn miếu đường dự trật hai triều).
 
3. Gia phả:
 
Đầu năm 2006, chúng tôi đã về Vân Xuyên để sưu tầm cuốn gia phả họ Ngô, nhưng rất tiếc cuốn gia phả đã bị thất lạc vì dòng họ đã gửi một người đem về Hà Nội phiên âm, dịch nghĩa, nhưng đã gần chục năm nay chưa có thông tin phản hồi. Rất may, khi đi sưu tầm tư liệu về Tiến sĩ Trịnh Ngô Dụng, chúng tôi được tiếp xúc nội dung cuốn gia phả từ kho gia thư nhà nghiên cứu Trần Văn Lạng (Giám đốc Bảo tàng tỉnh). Ông cho biết, khoảng năm 1987-1990, ông về Vân Xuyên khảo sát tư liệu điền dã để có cơ sở xây dựng hồ sơ khoa học và pháp lý đề nghị Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định công nhận, xếp hạng di tích đình Vân Xuyên, ông đã được tiếp xúc và sao chép trực tiếp cuốn gia phả này. Chúng tôi xin được sao chụp lại thì ông đã nhiệt tình sao chép tay lại toàn bộ nội dung cuốn phả để tiện cho việc phiên âm, dịch nghĩa, chú giải văn bản. Do không được tiếp xúc với văn bản gốc, nên chúng tôi không làm công việc khảo tả văn bản mà chỉ quan tâm giới thiệu đến độc giả phần nội dung mà chúng tôi sưu tầm được để mọi người cùng tham khảo.
 
Nội dung cuốn phả khoảng 1200 chữ, toàn bộ viết chữ Hán (đôi khi viết chữ Nôm khi cần ghi địa danh, tên người) gồm hai phần:
 
– Phần thứ nhất: Phả tự (lời tựa cuốn gia phả), theo lời tựa được biết cuốn phả được biên chép ngày tốt tháng Chạp, niên hiệu Khải Định thứ 3 (1918) và ghi về cụ tổ dòng họ Ngô làng Vân Xuyên như sau: “… Tiên tổ nhà ta vốn dòng dõi hào trưởng, người họ Bùi người ở lộ Sơn Nam, huyện Thiên Thi, nay là thôn Vân Mộ huyện Thiên Thi phủ Khoái Châu tỉnh Hưng Yên…”.
 
Phần thứ hai: “Đệ nhất đại (đời thứ nhất) ghi như sau: “Hiển tổ khảo được phong tặng Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Hàn lâm viện Thừa chỉ, tước Cơ Trạch bá, Trụ quốc Thượng liên, Ngô tướng công, tự Minh Khánh, hiệu Khánh, tên húy là Hữu. Tạo mệnh ngày 30 tháng 9 năm Giáp Tí, mộ hợp táng cùng hiển tỉ (vợ) ở xứ đồng Vườn Thông (Viên Thông) xã nhà…”. Sau đó là phần ghi lại sự kiện ông bị một thương nhân người Kinh Bắc bắt đem đi rồi ông lấy vợ, mở trường dạy học tại xã Vân Trùy (nay là thôn Vân Xuyên, xã Hoàng Vân). Và theo cuốn gia phả này thì chính cụ Ngô Hữu (Bùi Hữu) mới là người ở phủ Khoái Châu, xứ Sơn Nam, thuở nhỏ bị thương gia Kinh Bắc bắt về làm con nuôi, sau sinh ra hậu duệ họ Ngô làng Vân Xuyên. Lý do cụ Hữu từ họ Bùi đổi sang họ Ngô vì cụ lấy con gái họ Ngô, sau cụ lấy theo họ bố nhà vợ. Còn cụ Trịnh Ngô Dụng chính là cháu nội của cụ Ngô Hữu… chứ không phải cụ Trịnh Ngô Dụng là người từng bị thương nhân người Kinh Bắc bắt đem về làm con nuôi, lớn lên học giỏi, mở trường dạy học, khai sáng dòng họ Ngô làng Vân Xuyên… như một số sách xuất bản, ấn hành gần đây đã công bố. Và lý do tại sao cụ Dụng lại mang họ Trịnh (Trịnh Ngô Dụng) không thấy gia phả nhắc tới, cho nên vấn đề này vẫn còn là ẩn số.
 
Chúng tôi chưa có điều kiện xác định tính chân giả của văn bản, tuy nhiên nguồn tư liệu này là những thông tin đặc biệt quý giá giúp thế hệ hôm nay có thêm những thông tin mới về danh nhân khoa bảng Trịnh Ngô Dụng, một vị đại khoa tài năng đã có nhiều cống hiến cho đất nước ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XVIII.
Chú thích:
 
(1) Tam cán: ba cái gốc, ý chỉ 3 chi họ Ngô làng Vân Xuyên.
(2) Vân nhưng: con cháu huyền gọi là vân, con cháu vân gọi là nhưng, kể từ bản thân trở xuống đến năm đời gọi là vân nhưng./.
 
 
Đọc thêm bài viết về Tiến sỹ Trịnh Ngô Dụng của Thạc sỹ Ngô Thành Trung.  Tại Đây>>
 
Tham tụng là gì?
 
1- Chức quan to nhất trong triều đình phong kiến thời Lê – Trịnh.
 
Năm 1600, Trịnh Tùng được phong vương, chính thức trở thành chúa. Họ Trịnh được hưởng thế tập ngôi chúa. Từ đây họ Trịnh lập ra hệ thống tổ chức chính quyền ở phủ chúa tương ứng với chính quyền có sẵn bên cung vua.
 
Trước tiên, Trịnh Tùng bãi bỏ chức Tả, Hữu thừa tướng và Bình chương của thời trước, đặt ra chức Tham tụng làm việc Tể tướng. Quyền lực của Tham tụng rất lớn, đều do chúa Trịnh tiến cử từ các viên Thượng thư (tương đương với Bộ trưởng) hoặc Thị lang lên[2]. ( Nguồn Vi.wikipedia)

Related Articles

Leave a Comment