Trang chủ Quảng cáo Vườn ao chuồng như thể công viên

Vườn ao chuồng như thể công viên

Đăng bởi HiephoaNet

 

(Viết về gia trại của CCB Nguyễn Thế Cương ở thôn Cẩm Trang,

xã Mai Trung, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang)

********

Vườn, ao, chuồng như cảnh công viên. Có thể bạn đọc sẽ cho rằng tôi nói ngoa, nhưng thực sự là như thế. Chủ gia trại là một cựu chiến binh “có hạng”: Thượng tá Nguyễn Thế Cương, một sĩ quan của Cục Tuyên truyền đặc biệt, về hưu năm 1994. Tôi quen anh khi tham gia công tác cựu chiến binh. Tôi làm Chủ tịch Hội CCB xã Thường Thắng. Anh làm Chủ tịch Hội CCB huyện Hiệp Hòa. Trong mối quan hệ công tác, chúng tôi có những đồng cảm nên có nhiều dịp đến thăm nhau. Chúng tôi cùng nhập ngũ năm 1963 nhưng không cùng đơn vị. Anh là lính xe tăng, còn tôi là lính bộ binh. Cũng chỉ từ khi tham gia công tác CCB chúng tôi mới biết những thông tin này về nhau.

Về cơ ngơi gia trại của Nguyễn Thế Cương, anh kể rằng, trước kia, nơi đây là cánh đồng trũng bỏ hoang sau nhiều năm HTX lấy đất làm gạch. Năm 1995, hưởng ứng chủ trương phát triển kinh tế gia đình, anh đã đi tham quan nhiều trang trại. Về nhà, anh suy nghĩ, nghiên cứu điều kiện gia đình, điều kiện đồng đất quê hương. Trong đầu anh đặt ra câu hỏi: làm thế nào để xây dựng được trang trại? Anh bàn với vợ và các con, làm thủ tục chuyển đổi hết phần ruộng của gia đình về liền khu đất trũng bỏ hoang và xin mua khu đất này để xây dựng trang trại. Lúc đầu vợ anh không đồng ý. Bà con làng xóm nghe chuyện, nhiều người cho là anh “hâm”. Ruộng chân điền liền canh, cấy hái thuận lợi, nhiều vụ còn khó được ăn, huống chi là cái vùng đồng trũng, bỏ hoang đã từ lâu! Không hiểu anh định làm ăn kiểu gì? Công sức, tiền của đâu mà đổ vào đấy? Với anh thì đã hình thành ở trong đầu một dự án cải tạo khu đồng trũng này thành một cơ ngơi vừa có nhà ở, có vườn cây, có ao nuôi cá, có chuồng trại chăn nuôi khép kín. Cái đẹp là khu đất này ở biệt lập, xa làng, lại nằm kề bên bờ con mương tưới dẫn nước từ hệ thống thủy nông sông Cầu về đồng ruộng quê anh. Đây là một yếu tố rất quan trọng, bảo đảm cho hệ thống vườn, ao, chuồng khi đi vào khai thác sẽ không bao giờ thiếu nước. Anh suy nghĩ, tính toán rồi quyết định làm.

Anh làm thủ tục mua khu đất khá thuận lợi. Khi có chủ trương dồn điền đổi thửa, anh đổi luôn 8 sào ruộng của gia đình anh lấy những ruộng liền bờ với khu đất trũng rồi xin chuyển đổi mục đích xử dung. Cấp ủy, chính quyền, làng xóm đều ủng hộ anh. Nhiều người còn ái ngại cho anh. Làm xong thủ tục mua khu đất, anh vay tiền mua một cái xe máy ĐĐ màu đỏ để đi lại, làm thủ tục vay vốn ngân hàng với “phong thái một ông chủ trang trại đầy tiềm năng”. Thời kỳ đó, ai có được cái xe máy ĐĐ là “sang trọng lắm”, biểu hiện “có tiềm năng”, “có năng lực làm ăn” khi mọi người nhìn vào. Việc vay vốn của anh cũng thuận lợi. Anh vay được 55 triệu đồng từ hai nguồn vốn. Ngân hàng NN&PTNT cho anh vay 35 triệu. Dự án đầu tư phát triển việc làm của huyện cho anh vay 20 triệu đồng. Anh đầu tư thuê nhân công đào ao lấy đất làm gạch và đắp nền. Nền đất anh phải tân cao đến 1,5 mét, cao bằng mặt bờ mương. Lòng ao anh đào sâu hơn 1 mét so với mặt ruộng, tức là sâu hơn 2,5 mét so với mặt nền đất vườn. Một công đôi việc, vừa được ao, vừa có đất đắp nền, vừa có gạch xây nhà, xây tường bao, xây bờ ao và một phần gạch bán đi để lấy tiền trả nợ ngân hàng. Anh cấu trúc hệ thống ao gồm một ao chính để nuôi cá thịt rộng 5 sào, 3 ao nhỏ, mỗi ao rộng trên dưới 1 sào, để ươm cá bột và nuôi cá giống, thứ tự to dần theo từng tuổi cá. Tổng diện tích ao rộng 8 sào. Bờ ao rộng, vừa để trồng cây ăn quả, vửa đủ để làm chuồng trại chăn nuôi. Tổng diện tích khu đất rộng 2 mẫu Bắc Bộ. Anh đắp một vùng đất liền với bở mương, rộng khoảng 4 sào để làm đất ở và vườn cây quanh nhà liên hoàn với các bờ ao. Còn lại 8 sào bờ quanh các ao tân lên anh đều trồng cây. Trong đó có một khu đất rộng ở giữa các ao nhỏ, anh dự định để làm một ngôi nhà cổ khi có điều kiện. Anh triển khai từng phần để làm đến đâu đưa vào xử dụng đến đó. Tân xong nền đất ở, anh xây một ngôi nhà 3 gian, lợp ngói mũi cùng công trình phụ cần thiết để gia đình ăn ở triển khai công việc. Năm 1998, anh mới xây ngôi nhà tầng ở trung tâm khu đất, căn nhà ngói 3 gian anh để làm công trình phụ.

Cùng với nhân công anh thuê, một số bạn bè trong “hội cựu lính xe tăng” ở Sóc Sơn có kinh nghiệm làm kinh tế trang trại đã đem máy đến giúp anh đóng gạch. Anh đã sản xuất được 45 vạn viên gạch, đủ gạch xây toàn bộ công trình. Số gạch bán đi đủ tiền trả nợ ngân hàng và tiền vay vốn dự án. Xây xong ao lớn nuôi cá thịt, anh xây ngay hệ thống chuồng trại chăn nuôi để đưa vào xử dụng. Hệ thống chuồng trại anh xây một nửa hẹp hơn nằm trên bờ ao, một nừa rộng hơn nhô ra mặt ao theo kiểu nhà sàn, có sàn thoáng để nuôi vịt, nuôi gà, nuôi lợn theo một quy trình khép kín. Phân lợn, phân gà, phân vịt đều tự thải xuống ao cho cá ăn, đủ nguồn phân nuôi cá. Hai năm vét ao một lần lấy bùn bón cho cây ăn quả. Quy trình khép kín này vừa tiện lợi, vừa tạo ra một môi trường sinh thái xanh, sạch, đẹp. Nhiều người cho là anh làm cầu kỳ, tốn kém. Gia đình anh ở biệt lập ngoài khu đồng xa làng, ảnh hưởng đến ai đâu mà phải làm cẩn thận cho tốn tiền tốn của, tốn công sức. Riêng anh thì anh nghĩ khác. Anh là một sĩ quan đã được Quân đội đào tạo đầy đủ, bài bản, cả ở trong nước và nước ngoài. Thời gian được đi học ở Liên Xô (cũ), rồi những lần đi thăm quan, anh đã học tập cách làm ăn của nhiều trang trại trong sản xuất lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, trồng trọt. Đặc biệt là khâu vệ sinh phòng dịch bệnh trong chăn nuôi. Có thể nói đây là khâu có tính chất quyết định thành công trong chăn nuôi, nhất là chăn nuôi tập trung dễ sinh dịch bệnh cho gia súc, gia cầm. Không làm tốt khâu vệ sinh phòng bệnh, có khi chăn nuôi sắp đến ngày thu hoạch lại bị mất trắng vì dịch bệnh. Chưa nói đến khâu vệ sinh phòng bệnh cho người, mà người đầu tiên bị ảnh hưởng chính là gia đình mình, chứ đâu phải là làng xóm. Tất nhiên khi đã giữ vệ sinh phòng bệnh cho mình thì cũng chính là giữ vệ sinh phòng bệnh cho mọi người, cho cảnh quan môi trường nói chung. Do đó ngay từ khi “thiết kế” anh đã đặt khâu bảo vệ môi trường là một công đoạn quan trọng trong quy trình xây dựng cũng như khi đi vào sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh của gia đình anh.

Với phương châm “làm cuốn chiếu” hoàn chỉnh từng phần, làm đến đâu đưa vào xử dụng đến đó nên ngay trong những ngày xây dựng anh đã có sản phẩm từ chăn nuôi. Anh mua máy ấp trứng gà lấy gà giống để nuôi và bán gà giống ra thị trường; ấp trứng chim cút bán chim giống. Anh đã tạo ra một quy trình lao động sản xuất liên hoàn, lấy ngắn nuôi dài. Chỉ hơn nửa năm trời đầu tư, anh hoàn thành toàn bộ công trình, hình thành nên một “trang trại” vườn, ao, chuồng khép kín trong quy trình sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh với một không gian môi trường xanh, sạch, đẹp. Đến nay, gia trại của anh đã cho thu hoạch ở năm thứ 17, chưa năm nào sảy ra dịch bệnh lớn. Những năm đầu anh chăn nuôi cả lợn nái, lợn thịt, gà, vịt và cá. Năm 1998, anh được chi bộ Đảng tín nhiệm bầu làm Bí thư chi bộ. Năm 2000, bà con trong thôn lại bầu anh đảm nhiệm luôn chức trưởng thôn. Cuối năm 2001, anh đươc bầu làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Mai Trung. Năm 2002, anh được bầu làm phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Hiệp Hòa. Trong khi vợ anh bị bệnh nặng cũng từ năm 1998, công việc sản xuất chăn nuôi của gia đình anh phải giảm bớt. Anh bỏ việc nuôi lợn, chỉ còn nuôi vịt, gà và nuôi cá. Tháng nào trong chuồng trại của gia đình anh cũng có trên dưới một nghìn con gà thịt, hai trăm con vịt đẻ hoặc vịt thịt, lứa nọ gối lứa kia, không khi nào đứt đoạn. Mười năm công tác ở Hội Cựu Chiến binh huyện Hiệp Hòa, sáng nào anh cũng dậy từ sớm chăn gà, chăn vịt xong, ăn sáng rồi đến cơ quan, nhưng không ngày nào anh đến trễ giờ. Bao giờ anh cũng đến cơ quan trước giờ từ 10 đến 15 phút theo đúng tác phong Quân đội. Giờ nghỉ, ngày nghỉ, anh vừa lo chăm sóc thuốc thang cho vợ, vừa lo việc chăn nuôi, trồng trọt. Bình quân mỗi năm gia trại của anh đều cho thu hoạch trên 30 triệu đồng. Những năm gần đây năng suất cao hơn, cho thu trên 40 triệu đồng.

Tháng 6/2012, anh hoàn thành nhiệm vụ Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh huyện Hiệp Hòa nhiệm kỳ IV (2007 – 2012) với thành tích hàng năm Hội CCB huyện Hiệp Hòa đều đạt là đơn vị thuộc tốp đầu của Hội Cựu Chiến binh tỉnh Bắc Giang, nhiều năm được Trung ương Hội Cựu Chiến binh Việt Nam khen thưởng. Từ nay anh lại có điều kiện tập trung cho công việc chăn nuôi, trồng trọt ở cái gia trại xanh, sạch, đẹp tâm huyết của mình. Anh dự định từ năm nay, mỗi tháng gia đình anh sẽ có thu 5 triệu đồng từ các sản phẩm. Nghĩa là gia trại của anh sẽ cho thu 60 triệu đồng một năm. Anh cho biết, 8 tháng qua gia đình anh đã đạt được chỉ tiêu này.

Vẫn với tác phong quân nhân của một sĩ quan Quân đội gắn với bản tính của một “lão nông chi điền”, ngày nào anh cũng dậy từ sớm, tập thể dục rồi cuốc đất làm vườn, chăn vịt, chăn gà, tắm giặt, ăn sáng rồi nghỉ ngơi vui chơi cùng đàn cháu hoặc đánh cờ tướng, đàm đạo cùng bạn bè, đồng đội đến thăm. Hôm nào được mời dự họp ở huyện, ở xã thì anh nghỉ sớm hơn để đi họp đúng giờ. Hoạt động theo chương trình, theo giờ giấc hàng ngày cũng đã thành nếp sống, thành thói quen trong sinh hoạt của anh.

Cựu chiến binh Nguyễn Thế Cương, không chỉ là người ham mê lao động sản xuất, chăm lo công tác, nghĩa tình với đồng đội, với làng xóm chu toàn. Anh còn là người hết lòng vì vợ vì con. Vợ anh bị bệnh ung thư đại tràng từ năm 1998. Nhiều lần bệnh phát tưởng chị đã ra đi. Nhưng với phương châm “còn nước còn tát”, ngoài việc chăm sóc chị ở bệnh viện, khi bệnh viện trả về vì bệnh khó qua, anh vẫn đi khắp nơi tìm thày, tìm thuốc chạy chữa cho chị. Từ Lào Cai, Yên Bái, Vĩnh Phúc, Lạng Sơn, Hải Phòng, Quảng Ninh, cứ ai giới thiệu địa chỉ của người có thể chữa được bệnh cho chị là anh tìm đến. Hơn mười năm trời sống chung với căn bệnh hiểm nghèo, đã nhiều lần “thập tử nhất sinh”, có lẽ vì tình yêu thương vô hạn, vì sự chăm sóc tận tình của anh mà chị đã vượt qua những lúc hiểm nghèo. Nhiều người bảo rằng “nhờ hồng phúc nhà anh” đã chở che cho chị để chị được cùng anh sống đến “đầu bạc răng long”, cùng anh chăm lo cho đàn con, đàn cháu.

Từ sau Đại hội nhiệm kỳ V (2012-2017) Hội Cựu Chiến binh huyện Hiệp Hòa (tháng 6/2012), đầu tháng 9 này là lần thứ hai tôi có dịp đến thăm gia đình anh. Anh đang tập trung cải tạo vườn nhãn. Anh chặt hết cành các cây nhãn quả nhỏ để ghép nhãn quả to cho năng suất cao. Buổi chiều tôi đến, anh đang chơi với đàn cháu. Vợ anh thì đang dẹp dọn các cành nhãn mới chặt xuống ở bờ ao. Nếu là người mới đến thì không thể biết chị là người có bệnh, đang đeo cái túi hậu môn giả ở bên sườn. Anh gọi chị nghỉ tay, lấy bưởi, lấy ổi tại cây ở vườn mời tôi. Đàn cháu chiều nay được nghỉ học, quây quần bên ông bà ăn bưởi ngay trên bộ bàn ghế làm bằng đá ganitô kê cạnh bến ao, gần ngay ngôi chuồng đang nuôi 800 con gà thịt sắp đến ngày thu hoạch, mà không hề có mùi hôi. Tôi đã chụp kiểu ảnh hai ông bà cùng đàn cháu ăn bưởi bên bờ ao dưới tán cây bưởi đầy quả đã vào mùa thu hoạch, thật chẳng khác nào cảnh một công viên.

Cựu chiến binh Nguyễn Thề Cương thực sự là một tấm gương tiêu biểu về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh” trên mọi phương diện của Đạo đức cách mạng theo lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “cần, kiệm, niêm, chính, chí công vô tư”; đặc biệt là trên lĩnh vực bảo vệ môi trường. Từ hai bàn tay với ý chí quyết tâm của một sĩ quan Quân đội đã được rèn luyện, trường thành trong chiến đấu ở các chiến trường, được Đào tạo qua trường sĩ quan cao cấp ở Liên xô; khi về hưu đã kết hợp hài hòa bản chất “Bộ đội Cụ Hồ” với đức tính cần cù, chịu thương, chịu khó, hay lam hay làm của người nông dân, vừa biết tổ chức sản xuất, kinh doanh, vừa trực tiếp lao động sản xuất chăn nuôi, trồng trọt, đã biến vùng đất trũng bỏ hoang thành một gia trại xanh, sạch, đẹp, cho thu nhập mỗi năm trên dưới 50 triệu đồng. Gia trại của anh tuy nhỏ nhưng là hình mẫu về kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường vừa tiết kiệm, vừa hiệu quả. Anh cũng là người đầu tiên xây dựng thành công “trang trại” vườn, ao, chuồng – mở đầu cho phong trào phát triển kinh tế gia đình, đổi mới trong tổ chức, phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa phương. Anh còn là một cán bộ Hội Cựu chiến binh gương mẫu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cả ở cấp xã và cấp huyện – Một tấm gương cựu chiến binh tiêu biểu thật đáng để mọi hội viên CCB chúng tôi học tập, noi theo.

Nguyễn Thế Tính


 

Bài liên quan

Gửi bình luận