Trang chủ Quảng cáo Lịch sử Đảng bộ Hiệp Hòa (phần cuối)

Lịch sử Đảng bộ Hiệp Hòa (phần cuối)

Đăng bởi HiephoaNet

PHỤ LỤC

1. Hiệp Hoà có núi Ia gồm hai ngọn, cao khoảng 100m so với mặt nước biển, nằm ở phía tây – tây bắc, giáp với sông Cầu (Núi Ia – mái nhà của Hiệp Hoà).

Về tài nguyên, ngoài đất sét, cát, sỏi son còn có đá ong làm vật liệu xây dựng. Qua khảo sát địa chất, có than, sắt nhưng chưa đến tuổi khai thác.

2. Trong sự biến thiên của cấu trúc hành chính, còn có một sự thay đổi nữa cũng cần chú ý:

Thời Bắc thuộc, đơn vị hành chính cơ sở là Hương. Từ đầu thế kỷ thứ X đơn vị Giáp thay thế dần các Hương. Thời Lê, đơn vị hành chính đi vào hoàn chỉnh. Năm 1428 cấp xã được xác định là cấp cơ sở. Cuối thời Lê và trong cả thời Nguyễn, xuất hiện thêm hai cấp trung gian là Tổng và Phủ. Tổng gồm nhiều xã, là cấp trung gian giữa xã và huyện. Phủ là cấp trung gian giữa huyện và trấn hoặc tỉnh.

Trấn Kinh Bắc thời Lê gồm 4 phủ: Thuận An, Từ Sơn, Bắc Hà, Lạng Giang. Mỗi phủ gồm một số huyện. Huyện Hiệp Hoà khi đó cùng với 3 huyện Yên Việt (sau là Việt Yên), Kim Hoa (sau là Kim Anh), Tiên Phúc (sau là Đa Phúc) nằm trong phủ Bắc Hà với 180 xã. Năm 1821 hai huyện Việt Yên, Hiệp Hoà lập thành phân phủ Tiên Phúc. Năm 1852 phân phủ này không còn.

Thời Nguyễn, Hiệp Hoà có 9 tổng là:

1. ĐỨC THẮNG: – Đức Thắng (Dinh Hương, Hoè Thị, Liễu Ngoại, Trung Sơn).

– Danh Thắng (Trại May, Hạ Chùa, Ngoại).

– Thường Thắng (Khúc Bảnh, Trong, Thượng).

– Hùng Thắng (An Thông, Đông Ngoại, Sa Long, Trung Chính).

– Toàn Thắng hoặc Phúc Thắng (Hạ, Thượng).

2. HÀ NHUYỄN (Hà Châu):

– Hà Nhuyễn (Hà Châu, Niết Cú, Hiên Ngoã – Ngoi).

– Yên Nhuyễn (Yên Châu, Cầu Cát).

– Nga My (Nga My, Kén, Rổ)

– Hoa Chúc (còn gọi là Hương Chúc).

– Đông Dương hoặc Diễm Dương (Sơn, Đông, Trần).

– Hố Trạch (Đắc, Trà Hương)

– Bến Chung (còn gọi là Bến Chuông, năm 1924:

Tân Trung).

– Hà Trạch:

3. CẨM BÀO:

– Cẩm Bào (Chùa, Đống Nam, Ngọc Hiên).

– Cẩm Hoàng.

– Trung Trật (Đồng Tiên, Đồng Mía, Làng Trong, Ngõ Vôi).

– Cẩm Xuyên (Dưới, Giữa, Trên).

– Xuân Biều (Nội, Soi).

– Trung Định (Định Viễn, Trung Hoà).

– Mai Phong (Ngõ Chùa, Ngõ Đình).

4. MAI ĐÌNH:

– Mai Đình (Giáp Ba, Giáp Sở, Giáp Nhất, Giáp Nguyễn).

– Đông Lâm (Chỗ, Chùa, Giốc, Khoái).

– Tiểu Mai hoặc Mai Thượng (Lợ, Trước).

– Tiểu Mai hoặc Mai Hạ.

– Châu Lỗ (tên cũ là Ba Lỗ, tên mới là Sổ).

– Tiên Sơn.

– Hương Câu hoặc làng Cấu (Cả, Niên, Ngõ, Bắc).

– Phúc Lãnh hoặc Phúc Linh (Đoài Nội).

Lưu ý:

+ Xã Phúc Lãnh năm 1807 phiêu bạt, năm sau phục hồi

+ Năm 1892 lập xã Nga Trại tách từ Mai Đình.

+ Năm 1902 lập xã Giáp Ngũ tách từ Mai Đình.

+ Năm 1915 thôn Vọng Giang xã Vọng Nguyệt tổng.

Nội Trà (Yên Phong) thành xã Vọng Giang tổng Mai Đình.

5. HOÀNG VÂN – Hoàng Vân (còn gọi là Hoàng Liên).

– Thanh Vân (Điền, Phúc, Vòng)

– Vạn Thạch (Đông, Giữa).

– Vân Truỳ hoặc Vân Truyền, Vân Xuyên (Đá, Đông, Lác Trung).

– Hoàng Lại.

Lưu ý:

+ Năm 1892 thêm xã Đồng Áng của tổng Hà Châu và xã Liễu Ngạn tách từ tổng Hoàng Vân (An Đông, Đông Đầu).

+ Năm 1902 lập xã An Cập tách từ tổng Hoàng Vân và lập xã Lạc Yên cũng từ tổng Hoàng Vân, xã Tân Trung của Hà Châu nhập vào Hoàng Vân.

6. GIA ĐỊNH: (sau gọi là GIA CÁT)

– Gia Định (Gia Cát, Hương Thịnh).

– Ninh Định hoặc đa Hội (Hạ, Ninh Định, Thượng).

– Ninh Tào (còn có tên là Bình Tào).

– Yên Định hoặc Hữu Định (Phương Nghi, Tiến Định).

– Tảo Định (còn gọi là Tảo Dịch).

– Hương Ninh.

Lưu ý:

+ Năm 1896 thêm hai xã Đồng Cốc, Tân Mãn (Bảo Mãn và Đại Tân).

+ Năm 1899 thêm xã Hà Nội

+ Năm 1900 thêm xã Đại Mão.

7. QUẾ TRẠO (Quế Sơn):

– Quế Trạo (Quế Sơn).

– Phẩm Trật (Ngọc, Trong).

– Mai Sơn.

– Thù Sơn (An Khánh, Cảnh, Trại, Giếng).

– Thù Cốc (Trại Giữa, Trại Ngoài).

Lưu ý:

+ Năm 1918 thêm xã Đồng Tập (Đại Đồng, Giang Tân) và xã Thái Thọ (Cửu Như, Thọ Trai) tách từ xã Quế Trạo.

8. TIÊN THÙ:

– Tiên Thù (Cổ Pháp, Hoả Sơn, Nguyễn Hậu, Yên Trung).

– Xuân Thù

– Dã Thù.

– Thù Lâm.

9. SƠN GIAO:

– Sơn Giao (Quyền, Sơn Giao).

– Quảng Lãm.

– Hoà Lâm (còn có tên là Hoài Giao).

Như vậy, cho đến cuối thế kỷ XIX, phạm vi của Hiệp Hoà tiến sang cả bên kia sông Cầu. Đầu thế kỷ XX, tổng Hà Nhuyễn (Hà Châu) được chuyển về huyện Tư Nông của Thái Nguyên (nay gọi là huyện Phú Bình – Bắc Thái) và tổng Tiên Thù cắt về huyện Phổ Yên. Năm 1902 tổng Sơn Giao giải tán đưa vào tổng Đức Thắng và nhập 2 xã Quảng Lâm, Hoà Lâm thành xã Ngọc Thành.

Liền sau đó, Hiệp Hoà nhận về hai tổng của Việt Yên:

– ĐÔNG LỖ:

– Đông Lỗ (Ngọc Chiểu)

– Lỗ Hạnh (Chằm, Chùa, Chúng, Hạnh, Hoạ, Khoát).

– Vân Cẩm (Chùa, Đình).

– Đoan Bái (Chùa, Dọc, Rác, Đông).

– Lương Phong (phiêu bạt vào các năm 1807, 1809).

– Đặng Ngoại.

– NGỌ XÁ: – Ngọ Xá (Trước, Chùa Tầu).

– Bắc Lý (Tiên Sa, Đoài, Đông, Trạch Trung, Thạch Trà, Trung).

– Lý Viên.

– Ngũ Phúc (Khách Vai, Lạc Trai, Phú Tày, Xuân Trù).

– Lạch Khổng (Hồng, Trung, Quế).

– Ngọc Liễn.

– Vụ Nông (Chùa, Đình).

– Lạc Xuân.

Năm 1920, Hiệp Hoà lập thêm tổng Ngọc Thành gồm:

– Lương Phong (tổng Đông Lỗ).

– Sơn Giao, Ngọc Thành (tổng Sơn Giao cũ).

– Sơn Quả (Đồng Bai, Giữa, Hậu, Thương) và Ngọc Cụ (sau đổi là Trị Cụ có 5 xóm Trại Phú, Trại Tụ, Đồng Hoè, Ngoi). Hai xã Sơn Quả – Trị Cụ đều thuộc tổng Vân Cầu huyện Yên Thế.

So sánh với ghi chép trong Bắc Ninh tỉnh chí: “Hiệp Hoà có 9 tổng 50 xã thôn, 232 lính, 2 lính mộ, 2.046 nhân đinh, 19.160 mẫu ruộng, thuế là 7000 quan tiền một năm cộng 9.900 hộc lúa” thì dưới thời Pháp thuộc, số tổng vẫn như vậy nhưng bớt đi một số đất đai – làng xã ở phía bắc nhưng lại lấy thêm đất đai – làng xóm ở phía đông thuộc Yên Thế và phía nam thuộc Việt Yên.

Hiện tại Hiệp Hoà có 25 xã và một thị trấn:

1. Thị trấn Thắng:

2. Bắc Lý (Quốc Tuấn cũ, đất tổng Ngọ Xá) gồm Bắc Lý, Lý Viên, Vụ Nông chia thành Cầu Trang, Đoài, Đồng Truy, Đồng Trình, Đầm Nội.

3. Châu Minh (đất tổng Ngọ Xá) gồm Lạc Xuân, Ngọ Khổng, Ngọ Xá, Ngọ Phúc, Ngọc Liễn.

4. Danh Thắng (Thắng Lợi cũ, đất tổng Đức Thắng) gồm Trại May, Hang Chùa, Hương Thôn, Ninh Hương, Ngoại, Danh Thắng, Phúc Thắng.

5. Đại Thành (tách từ Hợp Thịnh, đất tổng Gia Cát) gồm Bản Bài, Đại Mãn, Đại Tân, Hà Nội.

6. Đoan Bái (Trần Phú cũ, đất tổng Đông Lỗ) gồm Bái Thượng (Vai), Đoan Bái (Nứa), Đặng Ngoại, Tân Hoà (Tân Sơn, An Hoà, Khách Vân).

7. Đông Lỗ (Hoà Bình cũ, đất tổng Đông Lỗ) gồm Đông Lỗ (Lữ Trung), Ngọc Liễn (Lữ Hạ – còn gọi là Hưng Đạo), Nghĩa Trạch (Chằm), Lỗ Hạnh (Khoát Bắc, Khoát Chùa, Khoát Đông), Yên Ninh.

8. Đồng Tân (Đồng Tiến cũ, đất tổng Hoàng Vân – Hà Châu) gồm Đồng Áng, Tân Trung chia ra Đông Viên, Giang Đông, Hoà Bình, Quyết Thắng, Thắng Lợi, Tiến Lập, Sơn Đông.

9. Đức Thắng (Hưng Đạo cũ, đất tổng Đức Thắng) gồm Trung Chính (Giữa, Đông Ngoại, Dinh Hương, Dinh Lai, Hoè Liễu (Chợ), Liễu Ngoại (Hồ), Phúc Lai, Trung Đồng.

10. Hoà Sơn (Hoà Phong cũ, đất tổng Quế Trạo) gồm Thù Cốc, Thù Sơn,

11. Hoàng An (Tiền Tiến cũ, đất tổng Hoàng Vân) gồm An Cập, Ba Trại, Hoàng Liên.

12. Hoàng Lương (Toàn Thắng cũ, đất tổng Hoàng Vân, Vân Cầu)  gồm Đại Thắng, Thanh Vân, Đồng Ngang, Xé, Non Bồng, Núi Phá.

13. Hoàng Thanh (Quyết Thắng cũ, đất tổng Vân Cầu) gồm Ngọc Cốc, Chản, Núi Giữa, Đồng Sắt.

14. Hoàng Vân (Quyết Tiến cũ, đất tổng Hoàng Vân) gồm Lạc Yên (Khốn), Liễu Ngạn, Vạn Thạch, Vân Xuyên.

15. Hợp Thịnh (đất tổng Gia Cát) gồm Đa Hội, Đồng Đạo, Hương Ninh, Trung Truật, Gò Pháo.

16. Hùng Sơn (đất tổng Quế Trạo) gồm Hoà Tiến (Gia Sơn), Trung Thành (Phẩm Trật), Tân Sơn.

17. Hương Lâm (đất tổng Mai Đình) gồm Đông Lâm, Hạc Lâm, Hương Câu (Cấu), Đồng Công, Nội Hương, Nga Trại, Phúc Linh (Chiêng), Tiên Sơn.

18. Lương Phong (Tiên Phong cũ, đất tổng Đông Lỗ, Vân Cầu, Đức Thắng) gồm Lương Phong (Gió Đông, Sơn Quả, Chớp, Cấm, Chùa, Khánh).

19. Mai Đình (đất tổng Mai Đình) gồm Châu Lỗ, Giáp Ngũ (Vệ Tân), Nguyễn, San, Giáp Ba, Mai Thượng, Vọng Giang, Mai Trung, Thắng Lợi, Mai Hạ.

20. Mai Trung (đất tổng Cẩm Bào) gồm Mai Phong, Trung Định (Trung Hoà, Trung Hưng, Cẩm Trang, Nội Xuân).

21. Ngọc Sơn (hợp nhất với Tân Đức, đất tổng Ngọc Thành) gồm Sơn Giao, Bình Dương, Đức Nghiêm, Ngọc Tân, Ngọc Thành.

22. Quang Minh (đất tổng Gia Cát) gồm Hương Thịnh, Phú Cốc, Tiến Độ, Hữu Định.

23. Thái Sơn (đất tổng Quế Trạo) gồm Thái Thọ (Chùa, Chèo, Trại Giữa, Trại Ngoài), Quế Sơn, Đồng Tân, Giang Tân, Trung Sơn.

24. Thanh Vân (đất tổng Hoàng Vân, trước là xã Đồng Tiến) gồm Hoàng Lại, Thanh Vân, Tam Hợp.

25. Thường Thắng (Chiến Thắng cũ, đất tổng Đức Thắng) gồm Thường Hạ, Thường Thượng.

26. Xuân Cẩm (đất tổng Cẩm Bào, từ xã Trung Nghĩa đổi thành) gồm Cẩm Bào, Cẩm Trung, Cẩm Xuyên, Cẩm Hoàng, Xuân Biều.

3. Ngành khảo cổ học và một số ngành có liên quan đã tiến hành khai quật mới độ 80m2 ở Đông Lâm (Hương Lâm) đã thấy lẫn trong đất và tro đen 16.643 mảnh gốm; 59 hiện vật bằng đá gồm công cụ sản xuất 13 chiếc rìu, 26 bàn mài, vòng trang sức 8, hạt chuỗi 2, khuôn đúc 3…; đồ dùng gồm 56 hiện vật: Dao 2, lưỡi câu 2, dùi đồng 5, đục đồng 1, tên đồng 5, lục lạc 2; đồ xương có 2 chiếc bằng răng lợn mài sắc dùng để trang sức – có ý nghĩa tôn giáo.

4. Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Xã Vân Thắng huyện Hiệp Hoà có nghề đúc đồ sắt…”, trong Phong thổ Kinh bắc thời Lê cũng chép: “Đức Thắng (Hiệp Hoà) làm ra dao, kéo, búa, rìu và các đồ sắt khắp thị thành…” chứng tỏ nghề này đã có một thời khá phát đạt.

5. Trước đây hệ thống chợ ở Hiệp Hoà họp theo định kỳ 5-6 phiên hoặc 10-12 phiên trong một tháng, xen kẽ nhau thành vòng tuần hoàn khép kín. Các chợ lớn như: Đài, Dật, Thắng, Lữ, Đành, Gió, Bầu, Vân, Nứa; Chợ nhỏ như: Chèo, Hương Câu, Bến Đò… Người Hiệp Hoà còn đi các chợ xung quanh như các chợ Đông Xuyên, Chờ, Choá (Yên Phong), Chằng (Việt Yên), chợ Dĩnh, Rừng Quanh (Yên Thế), chợ Đồn (Phú Bình), chợ Chã (Phổ Yên), chợ Trung Dã, Phủ Lỗ (Đa Phúc)… hoặc có thêm một số chợ mới lập do nhu cầu giao lưu hàng hoá địa phương…

Lớn nhất vẫn là chợ Thắng, trung tâm thương mại của cả một vùng và có lịch sử lâu đời nhất.

6. 1/ Người đỗ đạt đầu tiên của huyện là Đoàn Xuân Lôi, người xã Ba Lỗ, thời Trần thuộc huyện Thiên Phúc, thời Lê chuyển về huyện Thanh Thuỷ, sau đó đổi là Châu Lỗ thuộc huyện Hiệp Hoà. Khoa thi năm Giáp Tý (1384) tổ chức tại Phật Tích (Tiên Du), ông đồ Thái học sinh (tiến sĩ). “Ông là người minh mẫn, hiểu suốt, làm trợ giáo Quốc Tử Giám thời Trần Thuận Tông, cực lực vạch tội Hồ Quý Ly, khinh thường bàn bạc sách thánh hiền, vì thế phải đầy đi cận châu, sau được phục chức làm đến Hoàng môn thị lang kiêm Thông Phái Ái Châu rồi mất tại quan” (Sách Đại Nam nhất thống chí).

2/ Khoa thi năm Mậu Dần (1518), Ngọ Doãn Thọ, người Ngọ Xá (có sách chép là người Bắc Lý) đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

3/ Khoa thi năm Bính Tuất (1526), Khổng Tư Trực, người Đoan Bái đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

4/ Khoa thi năm Kỷ Sửu (1529), đời Mạc Mậu Hợp có 02 vị đỗ tiến sĩ:

– Nguyễn Hoảng, sinh năm 1490, (trong Văn Miếu ở Hà Nội ghi là Nguyễn Mao) người xã Đức Thắng đỗ đệ Nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

– Nguyễn Doãn Địch, sinh năm 1490 người Hoàng Vân đỗ Nhị đệ giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

5/ Khoa thi năm Mậu Tuất (1538) có 02 vị đỗ tiến sĩ:

– Hoàng Sầm, sinh năm 1512 tại Thù Sơn sau chuyển sang Quế Trạo, đỗ Thám Hoa làm đến Thượng Thư, tước Hoàng Phúc Bá là con rể Nguyễn Doãn Địch.

– Ngô Trang, người Ninh Định, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

6/ Khoa thi năm Đinh Mùi (1547), Nguyễn Thời Lượng người Gia Định đỗ Đệ Nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

7/ Khoa thi năm Kỷ Mão (1559), Nguyễn Kính, người Quế Trạo sinh 1522, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, làm đến Hộ bộ thượng thư, tước Hương sơn hầu, đã từng đi sứ. (Chủ yếu đi sứ sang Trung Quốc, để giữ tình bang giao hữu nghị hoặc đấu tranh bằng con đường chính trị, ngoại giao, bảo vệ quyền lợi, danh dự cho dân tộc. Đi sứ là việc hết sức quan trọng, người đi sứ phải là những đại thần lỗi lạc, toàn diện, nhất là văn học, chính trị. Từ năm 1428 – 1788 (thời Lê và Mạc), Hà Bắc có 107 vị đi sứ, trong đó tỉnh Bắc Giang (cũ) có 5 thì huyện Hiệp Hoà có 2. Thời gian đi sứ khoảng 1 năm. Đường đi dài trên 2.400km, vượt sông, núi, băng rừng, chịu đựng nắng mưa gió rét, thời tiết khắc nghiệt lam sơn chướng khí, thuỷ thổ không hợp, thú dữ, trộm cướp, phương tiện thô sơ, tai nạn nguy hiểm luôn xảy ra (7 vị mất ở dọc đường, 1 vị mất ở Yên Kinh (Bắc Kinh – Trung Quốc), 1 mất ở nhà). Song, gay go nhất vẫn là khi làm việc, tiếp xúc với vua quan phong kiến Trung Quốc, làm sao sứ ta phải giành phần thắng lợi về mình (có sách chép Hiệp Hoà có 1 vị đi sứ). Đường đi sứ qua trấn Kinh Bắc là 100km, có 6 trạm, mỗi trạm có 1 công quán, Hiệp Hoà cùng Yên Dũng đảm nhận công quán Cần Doanh.

8/ Khoa thi năm Giáp Tuất (1574), Nguyễn Như Tiếp người Phúc Mỹ, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

9/ Khoa thi năm Nhâm Thìn (1592), Nguyễn Hữu Đức người Vân Cẩm, sinh năm 1566 đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

10/ Khoa thi năm Tân Sửu (1721) Ngô Dụng, người Vân Truỳ sinh năm 1684 đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, làm đến Bộ tả thị lang.

11/ Khoa thi năm Tân Sửu (1901), Nguyễn Đình Tuân người Châu Lỗ sinh năm 1867 đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, làm đến đốc học Hà Đông…

12/ Khoa thi năm Bính Thìn (1556): Nguyễn Phượng Sổ người làng Sa Liễn (nay là Ngọc Liễn – xã Châu Minh) đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

13/ Nguyễn Nhân Trừng người làng Sa Liễn (Châu Minh) đỗ khoa thi năm 1623 đời Lê Thánh Tông. Đồng tiến sĩ xuất thân.

14/ Tạ Thuần người Hoàng Vân – đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu (1589) đời Mạc Mậu Hợp.

15/ Nguyễn Xuân Chính: Quê Trung Định – tổng Cẩm Bào đỗ Tiến sĩ 1637, sau đỗ Trạng nguyên, đương phong Tam Nguyên Đặc Tiến Kim tử vinh lộc đại phu, khai quốc trạng nguyên làm quan được phong hàn lâm thi thư năm 1638, lễ bộ hữu thị lang, thọ ngạn hầu, Binh bộ tả thị lang năm 1645. Khi mất, được phong “Sơn hà hiệu khí” (nêu gương sáng cho đất nước).

16/ Nguyễn Xuân Đỉnh (cháu nội Nguyễn Xuân Chính) đỗ tiến sĩ 1676.

Rõ ràng Hiệp Hoà đã góp phần làm cho xứ Kinh Bắc từ xa xưa trở thành nơi sản sinh ra “Một giỏ ông đồ, một bồ ông cống, một đống ông nghè, một bè tiến sĩ, một bị trạng nguyên, một thuyền bảng nhỡn”.

(Về thể thức thi, tuy có sự thay đổi nhưng nhìn chung là: Thi Hương ở các trấn để tuyển chọn cống sinh (Hương Cống). Đỗ thi Hương được lên Kinh đô thi Hội và thi Đình. Thi Hội lấy tiến sĩ (dân gian gọi là ông Nghè), thi Đình để xếp bậc tiến sĩ – đỗ đầu (thủ khoa) là Trạng nguyên, rồi đến bảng nhỡn, thám hoa, phó bảng… Đỗ tiến sĩ được vua ban mũ áo, cân đai… và được khắc tên vào bia đá ở Văn Miếu – Hà Nội).

7. Cùng với truyền thống văn hoá, tinh thần – văn hoá vật chất cũng là niềm đáng tự hào của chúng ta.

1/ Núi Thù Sơn (núi Ia) là một danh lam có tiếng vào thời Lê. Sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi “Núi Thù Sơn ở xã Thù Sơn cách huyện lỵ Hiệp Hoà 7km về phía Bắc, tre và thông xanh tốt. Nhà Lê từng dựng hoàng cung ở đây. Trên núi có đền thờ sơn thần”, hoặc sách “Bắc Ninh tỉnh chí” cũng ghi: “Núi Hoà Sơn trong vùng Hiệp Hoà mặt nhìn xuống sông Cầu, có thể lên cao nhìn xa được là hơn cả…”.

2/ Di tích huyện thành Hiệp Hoà cũ (huyện lỵ ngày xưa) đắp bằng đất từ thời Lê, chu vi 69 trượng ở xã Mai Đình.

3/ Di tích văn hoá thời Lý – Trần như chùa Chèo (xã Thái Sơn) còn lại trên các chân cột chạm cánh sen, bộ tượng phật chồng lên nhau thu dần vào, đế hình bát giác với các hình sóng nước.

4/ Đình Lỗ Hạnh (xã Đông Lỗ) xây dựng 1576, cùng với đình Tây Đằng (Hà Nội) là hai ngôi đình có niên đại sớm nhất ở Việt Nam. Đình Lỗ Hạnh – “Đệ nhất Kinh Bắc” – dòng chữ ghi ở trong đình từ khi xây dựng nhắc nhở chúng ta niềm tự hào và trách nhiệm giữ gìn. Bộ tranh “Bát tiên” – (8 cô tiên) – thuộc loại hình nghệ thuật sơn mài – sớm nhất nước ta. Ngoài ra có các bức chạm cưỡi ngựa, đấu võ, hoa sen, rồng, chim, tiên cưỡi rồng… là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc có tiếng.

5/ Đình Thắng Núi (xã Đức Thắng)  xây dựng năm 1686 cùng với ngôi chùa tạo thành quần thể kiến trúc, văn hoá khá quy mô, nằm trên một dải đồi cao thoáng, hình “Rồng lượn”. Đặc biệt, trên tấm y môn bằng gỗ ở lối vào hậu cung có một hình vẽ: nhiều chấm tròn xếp thành từng dải, bố cục trong một hình vuông. Khi thay các chấm tròn bằng các số từ 1 đến 9, cộng hàng ngang, hàng dọc đều cho số 15. Đó là phương trình toán học 9 ẩn số cho nhiều bộ nghiệm. Hoặc đây là một trận đồ, sự sắp xếp cơ ngũ trong đánh trận ngày xưa (Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam mới có hai hiện vật tuy khác nhau nhưng trang trí giống nhau như vậy).

6/ Lăng Bầu (xã Xuân Cẩm) xây dựng năm 1597 còn khá nguyên vẹn, được chia làm hai lớp với hệ thống tường đá ong, cổng đá ong, tượng ngựa và quân hầu bằng đá, tượng voi, võ sĩ bằng đá, bàn đá…

7/ Lăng Nội Dinh (xã Mai Trung) có quy mô khá lớn và được bảo quan. Hầu hết là tượng người và thú bố trí đối xứng hai bên đường thần đạo. Nhà bia được khắc vào triều Lê Ỷ Tông, Vĩnh Hựu 1741. Lăng Nội Tròn (xã Mai Trung) có quy mô nhỏ hơn, ngoài tường và cổng có chó đá, võ sĩ đá chạm khắc công phu…

8/ Lăng Dinh Hương (xã Đức Thắng) xây dựng năm 1727 triều Lê Vĩnh Khánh, trên một ngọn đồi đã san phẳng, có phần “Sinh từ” – thờ sống – và khu vực để mộ, trong phạm vi chừng 3600m2, không có ranh giới bao quanh bằng tường đá ong. Các di vật không xếp theo kiểu đăng đối ta thường gặp. Cổng lăng bằng hai trụ đá hình lục lăng mài nhẵn, có hai võ sĩ đá đứng canh. Vào trong là hai voi đá nằm phục trên bệ, trong có hai bàn thờ làm từ hai khối đá đặc, có hai nghê đá ngồi chầu, vào nữa là ngai Thí, người chầu và nghê. Khu mộ quy mô lớn hơn, có nhiều tượng người và ngựa. Cuối cùng là nhà bia mái cong.

9/ Lăng họ Ngọ (xã Thái Sơn) xây dựng năm Chính Hoà thứ 18 (1697) trùng tu năm 1714. Lăng hình chữ nhật, diện tích 400m2, các mặt là tường đá ong cao 2m15. Hai bên nền khung cửa có chạm nổi hai võ sĩ, rìa cổng có hai con chó đá. Hai bên đường thần đạo là dãy tượng xếp đối xứng gồm voi, võ sĩ dắt ngựa và nghê. Phần mộ ở sau hương án, tường đá bao quanh, khá rộng, có cửa vào và cửa ra. Trước vòm cửa có khắc chữ “LINH QUANG Từ”, hai bên chạm nổi hai võ sĩ, vào trong là phần mộ tướng công họ Ngọ, trong phần mộ là nhà bia (Có nhiều truyền thuyết nói về công lao của Ngọ tướng công với địa phương).

10/ Lăng Cẩm Bào (xã Xuân Cẩm) chỉ còn lại một số võ sĩ đá, cho đá, cấu trúc đơn giản hơn…

11/ Lăng Gió Đông (xã Lương Phong), xây dựng thời Lê, có nét độc đáo riêng song đã bị phá dỡ gần hết… Ngoài ra còn nhiều đình chùa khác cũng có giá trị. Mỗi di tích đều gắn với những truyện cổ tích, truyền thuyết, sự tích, huyền thoại… cùng những câu ca dao tục ngữ, phong tục tập quán… làm phong phú, sâu sắc cuộc sống tinh thần của nhân dân.

Về di tích lịch sử cách mạng:

1. Làng Vân Xuyên (Hoàng Vân) được mệnh danh là “XÓM ĐỎ” hồi tiền khởi nghĩa. Hầu hết các gia đình đều là cơ sở Cách mạng.

2. Nhà cụ Đồ Ba (Ngô Văn Thấu) ở Vân Xuyên là gia đình đầu tiên được đón đồng chí Hoàng Quốc Việt về địa phương tuyên truyền giác ngộ Cách mạng.

3. Đình Vân Xuyên, nơi diễn ra nhiều cuộc mít tinh và nơi xuất phát của lực lượng võ trang đi đánh huyện lỵ tháng 6-1945.

4. Đình Chợ Vân, nơi nhân dân mít tinh, khởi nghĩa giành chính quyền ngày 15/3/1945.

5. Nhà ông Nguyễn Văn Chế (tức Hựu) xóm Đá – xóm Đỏ, Vân Xuyên, nơi có lớp huấn luyện của Trung ương do đồng chí Trường Chinh chủ trì 19/11/1942.

6. Nhà cụ Lý Đông, thôn Liễu Ngạn (Hoàng Vân) nơi Trung ương mở Hội nghị Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ 15-4-1945 để chuẩn bị khởi nghĩa toàn quốc.

7. Làng Quế Sơn, nơi thành lập UBDTGP huyện và ra Nghị quyết về chia ruộng đất ở đồn điền Cọ và Vát.

8. Đình Xuân Biều (Xuân Cẩm), nơi khởi nghĩa giành chính quyền đầu tiên ở tỉnh.

9. Đồn Trị Cụ, nơi kẻ thù giam giữ các chiến sĩ cách mạng.

10. Soi ông Cả Thát (Hoàng Vân) và soi ông Quốc (Thanh Vân) nơi huấn luyện quân sự của Trung ương cho cán bộ các tỉnh về khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng 8-1945.

11. Cánh đồng Hoàng Lại, nơi xảy ra trận đánh lớn giữa ta và địch (ở đồn Trị Cụ).

12. Nghè soi Vân Xuyên, nơi đồng chí Trường Chinh được ông Hương Lịnh chở đò qua sông, thoát khỏi tay giặc 11-1942.

(Ở Bắc Giang có 20 di tích được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng thì Hiệp Hoà có 3: Lăng Dinh Hương, lăng Họ Ngọ và lăng Bầu, xếp thứ 3. Có 11 di tích được uỷ ban nhân dân tỉnh xếp hạng thì Hiệp Hoà có 2: đình Chợ Vân, đình Lỗ Hạnh, xếp thứ nhất. Nếu tính cả di tích kiến trúc và di tích lịch sử Cách mạng thì Hiệp Hoà có 17, có những di tích có ý nghĩa rất lớn về các mặt).

Điều đáng lưu ý là các di tích quý giá trên do thời gian và con người đã và đang huỷ hoại dần, các di tích xuống cấp nghiêm trọng hoặc có di tích không còn tồn tại trong thực tế (như Đình Thắng núi phá 1979…)

8. Ca dao, dân ca, tục ngữ, các thể loại văn hoá dân gian, hình thức lễ hội… rất nhiều, không thể kể ra đây được. Sẽ được sưu tầm, biên soạn riêng.

9. Trận thắng ở Mai Thượng, địch bị thiệt hại 5-6 phần, xác chết ngổn ngang trên đồng – từ đấy gọi là cánh đồng Xác (bãi Xác). Khu gò đặt nhiều pháo – gọi là gò Pháo. Giữa đồng dựng chùa (An lạc tự) – chùa Xác – để cúng tế cầu vong cho linh hồn lũ giặc bị chết khỏi bơ vơ.

Quận Tường, người Ngô Xá (Cao Xá – Tân Yên) khởi nghĩa năm 1866, có hoạt động mạnh ở Hiệp Hoà. Năm 1877 thì bị dập tắt. Nhân dân rất ca ngợi, khâm phục:

…”Quận Tường lâm cảnh thế cùng

Rút gươm tự vẫn quyết không đầu hàng”.

                       (Trích bài vè về Quận Tường).

Năm 1873 một trận đánh lớn ở xã Đoan Bái, vây và tiêu diệt một lực lượng lớn 300 quân của triều đình. Nhà Nguyễn phải “Treo thưởng cho kẻ nào bắt được Tường… bắt sống được thì cho Chánh thất phẩm và 200 lạng bạc. Chém được đầu thì cho Cánh thất phẩm và 100 lượng bạc. Người có chức làm rồi thì cứ theo lệ ấy mà thưởng…” (Đại Nam thực lục chính biến).

Đại Trận (Ngọc Lý, Tân Yên) khởi nghĩa 1870.

Đại Trận kéo quân đến xã Đông Lỗ (3-1875), Tôn Thất Thuyết chỉ huy lực lượng của triều đình gồm cả pháo, voi chiến dùng kế “Hoả công” vừa tiến vừa đốt phá…

“Quan quân tiến đánh ào ào

Đàn voi hung dữ sức nào dám đương

Quẳng cây quật đổ đầy đường

Có nhà nhà đổ có tường tường long

Dồn quân Đại Trận vào trong

Rào tre cánh xé xét vòng vây thêm…”

Nghĩa quân đã: “Bảo nhau cố phá vòng vây

Cho dù sinh tử biết tay anh hùng

Lội ao tìm lối đi vòng

Gặp đàn trâu lửa vẫy vùng ghê thay”…

                         (Trích bài vè về trận Đông Lỗ)

11/ Với cuộc khởi nghĩa Yên Thế, thì Hiệp Hoà đã đóng góp nhiều của cải và xương máu, trở thành địa bàn hoạt động quan trọng của nghĩa quân…

12/ Thuế ruộng và thuế đất từ 1940 tính như sau:

a) Thuế ruộng:

– Thượng hạng: Chính thu 4đ, phụ thu 0

– Hạng một: Chính thu 3đ, phụ thu 1,9d

– Hạng hai; Chính thu 2,5đ, phụ thu 1,5đ

– Hạng ba: Chính thu 2đ, phụ thu 1,0đ.

b) Thuế đất:

– Hạng nhất: Chính thu 5đ, phụ thu 2,3đ

– Hạng hai: Chính thu 3đ, phụ thu 1,0đ

– Hạng ba: Chính thu 1,4đ, phụ thu 0,5đ…

Năm 1942, khoản thu Quốc phòng tăng 8%, năm 1943 tăng 58%, năm 1944 tăng tới 150%. Ngoài ra còn nhiều thứ thuế khác, đều tăng rất nhanh.

13/ Nạn đói ở Hiệp Hoà từ năm 1944 đến cuối 1945 diễn ra rất thảm hại: Xã Đông Lỗ có 75 người chết đói, 125 người chết vì bệnh tật; xã Hoà Sơn có 26 người chết đói…

“Vào các làng, thấy dân cư cực kỳ khổ sở, rất nhiều người chỉ trùm manh chiếu rách để che thân. Họ đi lang thang ngoài đường như những bộ xương bọc da, không sức lực, không nghỉ ngơi, hoàn toàn hiến thân cho ma đói, ma bệnh. Gạo khoai bắp không có. Họ buộc phải ăn đủ thứ không kể độc, lành. Rau má, rau rịa, lộc ớt họ đều nghiến ngấu trọc trụi cây cỏ cả một vùng…” (Báo Việt Nam tân báo – số ra ngày 28-4-1945).

14/ Tháng 7-1938, trong cuộc tranh cử vào Viện dân biểu Bắc Kỳ – khi đó không có chế độ phổ thông đầu phiếu, người dân không trực tiếp đi bầu cử mà bầu ra “đại cử tri” thay mình đi bầu: Đồng chí Ngô Tuấn Tùng dựa vào các Phường hội, lôi cuốn một số chánh tổng, lý tưởng như: Chánh Thiều ở tổng Đức Thắng, Chánh Tới ở tổng Hoàng Vân, Xứ Đôn ở tổng Cẩm Bào… bỏ phiếu cho Nguyễn Trung Tẩy và thắng phiếu ở Hiệp Hoà. Những nơi khác do địch dùng lính, mật thám, tiền, chức tước… khống chế cử tri nên cuối cùng Ngô Tiến Cảnh vẫn thắng phiếu.

15/ Cụ Đồ Ba (tức cụ Ngô Văn Thấu) vừa dạy học vừa bốc thuốc, có quan hệ thông gia và là bạn thân thiết với cụ Đồ Quán (sinh ra đồng chí Nguyễn Văn Cừ – Tổng bí thư Đảng ta 1938-1941, ở Từ Sơn, Bắc Ninh). Cụ học rộng, biết nhiều, có uy tín. Cụ có 3 người con đều hoạt động cách mạng sớm. Gia đình cụ là cơ sở cách mạng đầu tiên ở Hiệp Hoà.

16/ Do chính sách khai thác thuộc địa, lập đồn điền của Pháp nên dân cư ở Hiệp Hoà có khá nhiều nông dân tá điền từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên… đến sinh cơ lập nghiệp. Một số do chạy loạn tản cư và tránh truy lùng của giặc cũng đến đây. Họ có bản chất tốt, mau hoà nhập với cuộc sống, cùng làm nên truyền thống cách mạng ở địa phương.

17/ Riêng các thôn Lạc Yên, Hoàng Liên… (thuộc tổng Hoàng Vân) đã góp 104 đồng, 9 bộ quần áo, hàng trăm cân gạo… Chị: Nguyễn Thị Nhỡ, Ngô Thị Đảng, chị La… đã gánh gạo lên tận Bắc Sơn, vượt qua bao gian khổ, khó khăn.

18/ Khi dự xong lớp huấn luyện, đồng chí Hoàng Văn Thái được phân ở lại hoạt động ở tổng Hoàng Vân và tổng Quế Trạo. Lúc chuyển vùng, đồng chí sáng tác bài thơ “Khuyên con” đến nay còn lưu truyền:

“Con ơi ! con ở lại nhà

Ngoan vui cùng mẹ cha ra chiến trường

Nước nhà đang buổi nhiễu nhương

Mẹ con cô quạnh cha thương vô cùng

Nhưng cha còn nợ non sông

Còn thù đế quốc, không chung đội trời”…

19/ Cuối năm 1941 có nhiều cuộc đấu tranh nhỏ nổ ra. Bài thơ “Lá cờ” được sáng tác:

“Trên vuông cờ đỏ vẽ hình chi

Huy hiệu Việt Minh đó chứ gì

Quyết tiến phá tan bầy phát xít

Sao vàng hướng đạo chẳng còn nghi”.

20/ Đồn điền Vát (Belas) rộng1800 ha canh tác do tên Hàn Huyên chủ thầu từ 1-1942. Hắn tự ý tăng tô. Tá điền và các trưởng ấp đấu tranh, làm đơn kiện chủ điền tác-ta-ranh ở Hưng Yên. Kết quả bọn chúng phải giữ nguyên mức tô cũ và có phần giảm trong ba năm.

21/ Nhà tù Trị Cụ trước là nhà Trừng Giới – giam giữ, cải huấn trẻ em hư hỏng, phạm tội. Sau Pháp làm thành nhà tù, giam giữ chính trị phạm. Đồn có 30 lính khố xanh do một tên quan Pháp chỉ huy. Ngày 20-5-1942 chi bộ nhà tù được thành lập có ba đảng viên, cùng với tổ chức “Thanh niên Cứu quốc” 20 người, “Hội binh lính Cứu quốc” 10 người đã vận động tù nhân đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù, chống đánh đập; tổ chức cho tù nhân vượt trại…, mang ra ngoài được một khẩu súng ngắn, 45 viên đạn, một máy chữ, một la bàn…

22/ Lớp học mở ngày 19-11-1942 tại nhà ông Chế (tức Hựu) có 8 học viên do đồng chí Trường Chinh chủ trì. Bị lộ, đồng chí Trường Chinh chạy ra phía sông Cầu, được ông Hương Lịnh và cô con gái – cô Vịnh – làm nghề chài lưới chở sang bên kia sông an toàn. Lớp học bị lộ do có chỉ điểm dẫn mật thám về khủng bố cơ sở giữa lúc có lớp học.

23/ Trận đánh úp huyện lỵ 20-3-1945: Ta xuất kích từ Hoàng Liên, 3 đội: Đội 1, có 10 tự vệ giả làm dân đi làm ấp về; đội 2 có 4 tự vệ do đồng chí Lương Văn Đài (tức Cửu) chỉ huy; đội 3 có 10 tự vệ làm nhiệm vụ đánh chiếm lô cốt, khống chế huyện lỵ. Song, do trinh sát không nắm chắc tình hình nên bị lộ, địch ra sức canh phòng, ta phải hoãn trận đánh.

24/ Hiệu lệnh báo động chiến đấu: Hai hồi trống nổi lên thì tự vệ ra các vị trí chiến đấu. Trống đánh liên hồi – cuộc chiến đấu đang quyết liệt, mọi người mọi làng ở xung quanh phải ra tiếp ứng. Trống đánh một hồi ba tiếng một – báo yên. Hiệu lệnh giao cho các đội tự vệ các làng đảm nhiệm.

25/ Nội dung cụ thể của Nghị quyết về chia ruộng đất:

I/ Quyền sở hữu và sử dụng

1- Tất cả ruộng đất của Đồng Cờ (tức đồn Cọ), Vát… đều đem làm của công của dân chúng. Dân chúng toàn huyện làm chủ, không một xã nào hoặc người nào được nhận làm của riêng.

2- Chỉ có đại biểu hội nghị hay uỷ ban dân tộc giải phóng huyện mới có quyền sử dụng và quân phân, không một xã nào được tự ý hoặc một người nào được tự ý sử dụng mà chưa có lệnh của Uỷ ban dân tộc giải phóng.

II/ Cách sử dụng và quân phân:

1- Tá điền nghèo không có ruộng không đủ ruộng cày cấy mới được lĩnh ruộng. Chú ý – Những người tá điền này hiện tại phải có chân điền nghĩa là năm 1944 có cấy ruộng chủ. Những tá điền hiện tại có chân lĩnh ruộng nhưng bán “kê chân” hết. Nay còn ít nhiều, nếu gia đình còn ở đây, đại biểu hội nghị hàng huyên coi như tá điền nghèo và được lĩnh ruộng.

2- Những tá điền dưới đây không được lĩnh ruộng:

a) Những người ở gần khu đồn điền đã có ruộng tư đủ cày cấy (ba mẫu trở nên).

b) Những người xa nếu không điều tra được thì căn cứ vào thẻ đeo (5đ00) trở lên.

3- Phải căn cứ vào nhân lực và nhân khẩu mà quân phân ruộng đất. Sự phân công chia làm ba hạng:

– Hạng nhất được lĩnh 4 mẫu

– Hạng nhì được lĩnh 3 mẫu

– Hạng ba được lĩnh 2 mẫu.

– Những người nào đã có ít nhiều ruộng tư sẽ chiểu theo số ruộng ấy mà trừ đi rồi mới được lĩnh.

4- Những ruộng phát cho tá điền còn lại, thuộc địa phận làng nào đem chia cho dân nghèo làng ấy.

Sự quân phân cũng phải tuỳ theo nhân lực và nhân khẩu, song số ruộng được lĩnh cũng phải tuỳ theo số ruộng còn lại và số dân nghèo làng ấy mà phân chia.

5- Nếu số ruộng ít quá không đủ chia hay chia cho dân nghèo không có vốn làm thì Uỷ ban dân tộc giải phóng xã có thể giải quyết bằng hai cách dưới đây:

a) Uỷ ban dân tộc giải phóng xã ấy đem tập trung số ruộng kia lại, lập một hợp tác xã đứng ra chủ trương mọi việc trong hợp tác xã như:

– Bỏ vốn hoặc vay vốn, vay thốc giống, mượn trâu bò (những người bỏ vốn ra được lấy lãi ba phân, lấy lãi tiền hay hoa lợi cũng được).

– Cổ động dân làng làm giúp dân nghèo bằng “những giờ hay những buổi cứu tế” để đi làm cho hợp tác xã.

– Ghi công xá, chia hoa lợi cho những người làm trong hợp tác xã… (thể lệ, tổ chức hợp tác xã sẽ có bản nói rõ).

b) Nếu cách nói trên nơi nào không làm được thì có thể đem số ruộng bán đấu giá bằng thóc. Đến mùa lấy số thóc ấy chia cho những người có chân lĩnh ruộng (khi đấu giá phải động viên toàn dân).

– Những làng người ít, ruộng nhiều phải chuyển giao số ruộng thừa cho dân nghèo ở những làng lân cận người nhiều ruộng ít.

7- Những làng đinh đa điền thiểu sẽ được di cư đến những khu đất công không thuộc địa phận xã nào hoặc được lĩnh những ruộng thừa ở những làng lân cận người ít ruộng nhiều.

8- Không ai được bán hay kê chân người khác số ruộng đất được lĩnh. Ai làm trái sẽ bị thu ruộng lại.

9. Hội nghị bầu một ban quản lý chuyên môn trông nom việc quân phân ruộng đất.

III/ Thu hoạch địa tô:

1- Địa tô giảm 1/4: thí dụ tô chủ lấy mỗi mấu 8 phương (mỗi mương: 28 – 30 cân thóc) thì giờ tá điền nộp 6 phương.

2- Ruộng làng nào ấp nào thuộc địa phận làng ấy thì Uỷ ban dân tộc giải phóng làng ấy thu địa tô và tập trung lên cả quỹ chung của Uỷ ban dân tộc giải phóng huyện. Ấp nào đã có Uỷ ban dân tộc giải phóng thì chia (địa tô – BT) làm 2 phần:

– Một phần bỏ vào quỹ cứu tế dân nghèo.

– Một phần bỏ vào quỹ cách mạng.

3- Trong cuộc Nhật – Pháp bắn nhau, những tá điền bỏ ruộng về quê đến mùa lại lên gặt, thì ngoài số địa tô phải nộp cho quỹ chung còn phải trích ra một phần hoa lợi của mình để tra cho những người có công trông nom ruộng giúp mình.

Việc trích này giao cho Uỷ ban dân tộc giải phóng xã tuỳ theo nhân công trông nom ruộng đất kia mà xét định.

4. Những thể lệ thu hoạch địa tô được đem thi hành ngay vụ chiêm này…

Hội nghị đã bầu ra UBDT Giải phóng huyện do Chánh Thuần làm chủ tịch (về sau phản động), đồng chí Ngô Tuấn Tùng làm phó chủ tịch.

26- Chỉ huy đội tự vệ là đồng chí Nguyễn Trọng Uẩn (tức Hồng Tâm) sau là cán bộ chính trị Tiểu đoàn Thiên Đức, hy sinh trong chiến đấu chống thực dân Pháp.

27- Nhân dân địa phương đã làm bài vè để ca ngợi tinh thần chiến đấu của tự vệ và gương hy sinh dũng cảm của đồng chí Thắng.

“Anh Thắng hỡi canh tàn trăng khuyết

giữa trận tiền anh chết vẻ vang…

Đi đâu trong đội xung phong

Hy sinh thân thể hết lòng xông pha…

Cái chết ấy thơm tho mãi mãi

Tiếng anh hùng để lại non sông…”

(Xem thêm: Hiệp Hoà – một vùng quê cách mạng – UBND Hiệp Hoà – XB. 1985).

28- Đội đi Đa Phúc do đồng chí Phạm Yên và nữ đồng chí Thuận (Thái Bảo) chỉ huy.

Đội đi Yên Phong do đồng chí Đinh Văn Vân chỉ huy, có 30 người. Toàn đội đã vượt mọi khó khăn nguy hiểm (có người đã hy sinh) cứu giúp đồng bào đang bị úng lụt do đoạn đê Cống Vọng (sông Cầu) bị vỡ. Đội đã phối hợp với cơ sở phá đồn điền Vũ Văn An, tiến hành khởi nghĩa thắng lợi ở một số xã và huyện lỵ. Đồng thời nhân dân Mai Đình còn giúp hàng trăm cân thóc (ăn và giống), vật liệu xây dựng, đồ dùng… cho đồng bào ở Yên Phong ổn định sản xuất và đời sống.

Đội bắt được một tên lính Nhật, hai lính và một sĩ quan Pháp đưa về Hiệp Hoà (ta tử hình tên lính Nhật).

29- Đại hội Quốc dân có hơn 600 đại biểu, Hiệp Hoà được vinh dự có 6 đại biểu đi dự, trong đó có cụ Đồ Ba, đồng chí Ngô Văn Ngôn…

30- Người cắm lá cờ lên ngọn cây đa là anh Ngạc (một tự vệ ở thôn Hoè Liễu). Đoàn người diễu hành từ huyện lỵ đi Phủ Lạng Thương đông hàng nghìn người gồm tự vệ và đại biểu của các cơ sở đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể… với hàng trăm khẩu hiệu, biểu ngữ, hàng ngũ chỉnh tề vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu và hát những bài ca cách mạng.

31- Nhiều đồng chí là cán bộ Trung ương, Xứ uỷ, Ban cán sự Tỉnh… đã hoạt động hoặc dự các lớp huấn luyện, và hội nghị của Đảng mở tại Hiệp Hoà như: Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Thanh Nghị, Lê Quang Đạo, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái, Trần Quốc Hoàn, Trần Đăng Ninh, Lê Hoàng, Ngô Thế Sơn, Nguyễn Trọng Tỉnh, Nguyễn Văn Lục… Đặc biệt, Hồ Chủ tịch đã về dự và huấn thị tại Hội nghị về công tác cải cách ruộng đất của Đảng (mở tại Xuân Cẩm tháng 12-1954).

32- Các xã khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi: Xuân Biều (xã Xuân Cẩm) 12-3-1945.

Trung Định (xã Mai Trung) 13-3-1945

Hoàng Vân 15-3-1945.

Hoàng Lương, Hoàng Thanh, Thanh Vân, Thường Thắng, Danh Thắng … 3-1945. Còn lại là từ tháng 4 đến hết tháng 5 cuối cùng là huyện lỵ 1-6-1945.

Hiệp Hoà là huyện được giải phóng sớm nhất trong tỉnh Bắc Giang, Yên Thế (17-7-1945), Lục Ngạn (18-7-1945), Yên Dũng (20-7), Việt Yên (26-6), Bắc Ninh (20-8-1945)… (nếu tính từ sau khi có bản Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” thì việc giành chính quyền cấp xã và huyện ở Hiệp Hoà đều sớm nhất trong hai tỉnh).

33- Trong cuộc vận động Cách mạng tháng 8/1945 và trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đế quốc Mỹ (1946-1975), nhân dân và lực lượng vũ trang Hiệp Hoà đã vinh dự được nhận những phần thưởng, danh hiệu cao quý mà Đảng và Nhà nước phong tặng:

– Hàng nghìn huân, huy chương các loại.

– Bằng “có công với Nước”: 117 gia đình.

– Có 32 đồng chí cán bộ đảng viên được hưởng chế độ hoạt động trước Cách mạng tháng 8 (chưa kể số đồng chí được hưởng, nhưng cư trú ở địa phương khác). Nhiều cá nhân được tặng “kỷ niệm chương”…

– Tập thể “Xóm Đá” Vân Xuyên làng Lạc Yên được tặng kỷ niệm chương và bằng có công với nước.

– NHÂN DÂN VÀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN HIỆP HÒA ĐƯỢC ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC PHONG TẶNG DANH HIỆU AHLLVT NHÂN DÂN;

– 4 ĐƠN VỊ XÃ ĐƯỢC TẶNG DANH HIỆU AHLLVT:   HOÀNG VÂN,  XUÂN CẨM, HÒA SƠN, HOÀNG AN.

* 2 Anh hùng Lao động:

     – Nguyễn Văn Dậu

     – Nguyễn Thị Song.

* 1 Anh hùng lực lượng vũ trang: – Ngô Quang Sen (truy tặng).

 

Chịu trách nhiệm xuất bản

Ban chỉ đạo biên soạn 

 Đ/c Nguyễn Tiến Cơi Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy –Trưởng ban

Đ/c Dương Quang Thanh   Phó Bí thư Huyện ủy – Phó trưởng ban

Đ/c Nguyễn Thị Hoa Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện  – Phó trưởng ban

Đ/c Ngô Tiến Dũng  Ủy viên BTV, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy

Đ/c Vũ Chí  Kỳ Ủy viên BTV, Phó Chủ tich  UBND huyện.

Biên soạn

Đ/c Âu Duy Hoan-  Nguyên Uỷ viên BTV, Trưởng ban Tổ chức Huyện uỷ (chủ biên)

Đ/c Nguyễn Trọng Lưu- Cử nhân sử học

Đ/c Khổng Đức Thiêm -Tiến sỹ sử học

Đ/c Phạm Nguyên Tần-  Cử nhân sử học

 Sau gần một năm đăng tải cuốn sách: LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP HOÀ (1938-2010)  đã được rất đông đảo cán bộ và nhân dân đón đọc cùng những người con yêu quê hương Hiệp Hoà Bắc Giang từ khắp mọi miền đất nước quan tâm theo dõi- Ban biên tập Hiephoa.net trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Hiệp Hoà đã phối hợp cung cấp tư liệu để đăng tải, cảm ơn bạn đọc đã quan tâm đến: LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP HOÀ (1938-2010)  mảnh đất thân yêu, mảnh đất anh hùng.

 

 

 

Bài liên quan

Gửi bình luận