Trang chủ Quảng cáo Lịch sử Đảng bộ Hiệp Hòa – Giai đoạn 1986- 2010

Lịch sử Đảng bộ Hiệp Hòa – Giai đoạn 1986- 2010

Đăng bởi HiephoaNet

Chương II: NHỮNG THÀNH TỰU CƠ BẢN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG (1986 – 2010)

I.ĐỔI MỚI – BƯỚC NGOẶT VĨ ĐẠI ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC, QUÊ HƯƠNG (1986-2000)

     Sau 10 năm thống nhất đất nước (1975 – 1985), nhân dân ta đã giành được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Trong khi khẳng định những thành tựu nói trên, Đảng ta cũng chỉ ra những khó khăn về kinh tế – xã hội, chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm đồng thời đề ra chủ trương, biện pháp để khắc phục.

Đến năm 1985, nền kinh tế nước ta vẫn nằm trong tình trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu, giữa thu và chi, giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Sản xuất tăng chậm, giá cả tăng nhanh, “lạm phát tăng với tốc độ phi mã”,  đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, hiện tượng tiêu cực trong xã hội phức tạp.Tình trạng trên đây do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Song với ý thức trách nhiệm của đội tiên phong lãnh đạo cách mạng, Đảng đã nghiêm khắc kiểm điểm  và chỉ ra những thiếu sót, sai lầm như: chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan, nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, duy trì quá lâu cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp…Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), với tinh thần “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội đã đánh giá đúng tình hình, tổng kết được những kinh nghiệm quý báu. Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới đất nước, định hướng cho toàn Đảng về đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, mở ra bước ngoặt vĩ đại cho cách mạng nước ta. Đại hội xác định những mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và biện pháp để ổn định tình hình, đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục tiến lên.

     Đại hội XVI của đảng bộ Hiệp Hoà  có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của Đảng, Đại hội diễn ra trong 5 ngày (từ 11 đến 15 tháng 9 năm 1986), có 203 đại biểu đại diện cho 5.093 đảng viên trong huyện về dự. Với tinh thần làm việc khẩn trương, nghiêm túc và ý thức trách nhiệm cao, đại hội đã tiến hành nghiên cứu, thảo luận các văn kiện (dự thảo) Đại hội VI của Đảng, Đại hội VII của đảng bộ Hà Bắc. Đặc biệt, Đại hội đã nhất trí quyết nghị phương hướng, mục tiêu và biện pháp chủ yếu về phát triển kinh tế-xã hội, công tác quốc phòng an ninh, công tác xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng trong những năm 1986-1988. Đại hội đã bầu Ban chấp hành đảng bộ gồm 43 đồng chí (9 đ/c dự khuyết), Ban thường vụ 11 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Bá Chung được bầu làm Bí thư Huyện uỷ. Đại hội XVII đảng bộ Hiệp Hoà được tiến hành vào tháng 1-1989, có 231 đại biểu, đại diện cho 5.556 đảng viên về dự. Đại hội đã bầu Ban chấp hành đảng bộ gồm 37 đồng chí (Ban thường vụ 11 đồng chí), đồng chí Nguyễn Bá Chung được bầu lại làm Bí thư Huyện uỷ. Đại hội khẳng định: “Tiếp tục phát huy những mặt mạnh và những thành tích đã đạt được, nghiêm khắc đánh giá những mặt hạn chế, khuyết điểm, xây dựng đảng bộ vững mạnh. Đổi mới hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, khắc phục những mặt  non kém. Nhanh chóng củng cố, hoàn thiện bộ máy chính quyền, các đoàn thể quần chúng, hoạt động có năng lực và hiệu quả cao. Nâng cao hơn nữa quyền làm chủ tập thể trên mọi lĩnh vực của nhân dân”.Trong sự nghiệp đổi mới của Đảng, đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà có những tiến bộ và trưởng thành đáng kể, tuy là bước đầu nhưng có tầm quan trọng đặc biệt, tạo ra thế và lực mới để vươn lên hơn nữa ở những năm tới.

Đại hội lần thứ XVIII (vòng 2)tổ chức vào tháng 10-1991 có 164 đại biểu đại diện cho 5.698 đảng viên về dự. Đại hội đã bầu Ban chấp hành đảng bộ gồm 33 đồng chí, 11 đồng chí trong Ban thường vụ huyện uỷ, đồng chí Nguyễn Bá Chung được bầu lại làm Bí thư Huyện uỷ.

Tháng 2 năm 1994, đồng chí Nguyễn Bá Chung được tỉnh ủy điều động lên tỉnh nhận công tác mới, đồng chí Nguyễn Quốc Cường được Tỉnh ủy điều về làm Bí thư Huyện ủy.

Tháng 3-1996, Đại hội XIX của đảng bộ diễn ra trong bối cảnh đất nước sau 10 năm đổi mới đã thu được những thành tựu rất to lớn. Tình hình đất nước vừa có những thời cơ thuận lợi lớn, vừa có  những nguy cơ và thách thức lớn. 183 đại biểu đại diện cho 5.365 đảng viên trong toàn Đảng bộ về dự Đại Hội, sau 3 ngày làm việc, Đại hội đã hoàn thành chương trình, nội dung và yêu cầu đề ra, Ban chấp hành đảng bộ mới gồm 35 đ/c (Ban thường vụ huyện uỷ 11 đ/c). Đồng chí Nguyễn Quốc Cường được bầu làm Bí thư Huyện uỷ.Đại hội xác định nhiệm vụ cơ bản trong nhiệm kỳ 1996-2000 là: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế… đảm bảo an toàn nhu cầu lương thực, thực phẩm. Phấn đấu đạt tổng sản lượng lương thực quy thóc 174.000 tấn; bình quân lương thực đầu người 330 kg/năm… Tăng cường công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể, chú trọng phát triển văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, phấn đấu thoát ra khỏi tình trạng đói nghèo, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân”.Tháng 1/1997, đồng chí Nguyễn Quốc Cường được Tỉnh ủy phân công làm Phó Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Dương Ngô Cầu được bầu làm Bí thư Huyện ủy.

    Ngày 8-10-1997, Đại hội bất thường của đảng bộ Hiệp Hoà được tổ chức, có 151 đại biểu. Đại hội bầu 17 đ/c đi dự Đại hội XIV của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang. Năm 2000, năm bản lề của 2 thế kỷ XX và XXI có ý nghĩa to lớn của nhân loại, đảng bộ Hiệp Hoà tổ chức Đại hội lần thứ XX (11-2000). Về dự Đại hội có 171 đại biểu đại diện cho 5.548 đảng viên đang sinh hoạt tại 64 tổ chức cơ sở đảng. Ban chấp hành mới được đại hội tín nhiệm gồm 33 đồng chí (11 đ/c Ban Thường vụ Huyện uỷ), đ/c Dương Ngô Cầu được bầu làm Bí thư Huyện uỷ.

Về nhiệm vụ chính trị đại hội xác định: ” Phát huy mọi nguồn lực lao động để phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá… Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kết cầu hạ tầng, kinh tế xã hội, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo… Chăm lo xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân trong sạch vững mạnh. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở và phát huy quyền làm chủ của nhân dân”.

   Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, bên cạnh những thuận lợi, Hiệp Hòa gặp phải những khó khăn và thách thức không nhỏ. Sau kế hoạch 5 năm 1981 – 1985, nền kinh tế của huyện tuy có đạt được một số kết quả, nhưng nhìn chung tình hình kinh tế – xã hội vẫn trong tình trạng khủng hoảng, trong khi đó thiên tai xảy ra liên tiếp, vật tư phục vụ cho sản xuất và hàng hóa tiêu dùng ngày càng khan hiếm, đồng tiền tiếp tục mất giá, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ còn bất cập với yêu cầu đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới; tư tưởng bảo thủ, trì trệ, trông chờ, ỷ lại cấp trên của thời kỳ tập trung, quan liêu bao cấp trong cán bộ, đảng viên và nhân dân còn khá nặng nề. Những khó khăn ấy đã tác động đến tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân, là lực cản không nhỏ trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của Đảng bộ. Song, Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa đều nhận thức được yêu cầu bức thiết của công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Với truyền thống cách mạng, Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà đã đoàn kết, khắc phục khó khăn, vượt qua thử thách, từng bước thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ do các kỳ đại hội đảng bộ huyện đề ra.

1. Phát triển  kinh tế:

Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã khẳng định sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế nhiều thành phần, nhấn mạnh phải coi trọng quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất nhằm mục tiêu giải phóng mọi năng lực sản xuất, chuyển nền kinh tế sang sản xuất hàng hóa, sử dụng các quan hệ hàng hóa – tiền tệ, quan hệ thị trường.

Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, thực hiện nghị quyết Đại hội XVI của đảng bộ Hiệp Hoà, Huyện uỷ chỉ đạo từng bước xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước. Những đơn vị kinh tế quốc doanh làm ăn thua lỗ, bị giải thể; những đơn vị còn điều kiện tồn tại được củng cố để phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân; kinh tế cá thể được khuyến khích phát triển, nhất là trong sản xuất nông – lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.

Căn cứ vào tình hình cụ thể của huyện, đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI đến XVIII  đều xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Tư tưởng trên được quán triệt trong toàn đảng bộ và đến mỗi người dân. Quyết tâm hoàn thành chỉ tiêu sản xuất lương thực do các kỳ đại hội đề ra đã được toàn Đảng bộ và nông dân trong huyện ra sức phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn để giữ vững và phát triển sản xuất nông nghiệp.

Trong kế hoạch 5 năm 1986 – 1990, diện tích gieo trồng bình quân hàng năm đạt 24.460 ha, năm cao nhất (1989) đạt gần 25.000 ha. Sản lượng lương thực bình quân trong 5 năm đạt 51.000 tấn, năm cao nhất (1989) đạt 58.385 tấn, năm 1999 đạt 73.704 tấn, tăng 15.000 tấn, năng suất bình quân 25,2 tạ/ha, bình quân lương thực đạt hơn 360kg/người.

Các cây mầu lương thực như ngô, khoai lang, khoai tây… vẫn được giữ vững về diện tích và sản lượng, đặc biệt cây ngô được khẳng định là cây lương thực vụ đông.

Các cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, đỗ tương… vẫn được duy trì, sản lượng lạc bình quân đạt 1300 tấn, đỗ tương 1.150 tấn một năm.

Do đẩy mạnh sản xuất các loại cây trồng, nhất là cây lương thực, nên đàn lợn tăng đáng kể, trung bình trong 5 năm đạt 84.000 con. Đàn trâu bò đạt gần 17.000 con, bảo đảm sức kéo phục vụ sản xuất và tăng nguồn thực phẩm tiêu dùng trong nhân dân.

Song sản xuất nông nghiệp của Hiệp Hòa trong 5 năm 1986 – 1990 vẫn đứng trước những khó khăn không nhỏ “… vừa chưa khai thác tốt tiềm năng, vừa không ổn định và vững chắc cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả về cơ cấu cây trồng, vật nuôi, biện pháp cơ bản”, “… việc tăng tổng sản lượng lương thực không ổn định và khó khăn”.

Tổng sản lượng lương thực 5 năm 1986 – 1990:

Năm

1986

1987

1988

1989

1990

Tổng sản lượng lương thực/tấn

49.650

49.250

49.575

58.383

48.482

    Trong kế hoạch 5 năm 1991 – 1995, sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp của huyện đã có bước phát triển. Tổng diện tích gieo trồng năm 1995 đạt 27.682 ha tăng 14% so với năm 1990. Năng suất lúa năm 1995 đạt 30,66  tạ / ha, tăng  4,92 tạ /ha so với năm 1990, sản lượng một số cây trồng tăng khá như lạc bình quân 9% năm, đỗ tương 18% năm… Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của ngành nông nghiệp là 7,2%.

Chăn nuôi phát triển mạnh, chiếm tỷ trọng trung bình 35% kinh tế nông nghiệp. Trong nông – lâm nghiệp  đã xuất hiện những nhân tố mới về làm kinh tế V.A.C, nuôi lợn, gà tăng trọng, gà công nghiệp, thả cá… đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều gia đình đầu tư cải tạo vườn đồi để trồng cây ăn quả bước đầu cho kết quả khả quan. So với 5 năm 1986 – 1990, sản xuất nông nghiệp của Hiệp Hòa trong 5 năm 1991 – 1995 có bước phát triển, nhưng “… còn bấp bênh. Năng suất, sản lượng các cây trồng không ổn định”.

Trong kế hoạch 5 năm 1996 – 2000, sản xuất nông nghiệp có bước tăng trưởng mạnh, đã đạt và vượt nhiều chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX đề ra. Tổng sản lượng lương thực năm 2000 đạt 82.000 tấn, vượt 10,8% so với chỉ tiêu đại hội, tăng 2000 tấn so với năm 1995, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 5,75%. Sản lượng một số cây lương thực khác cũng tăng mạnh như ngô năm 2000 đạt 6.218 tấn, gấp đôi năm 1995; đậu tương năm 2000 đạt 1.951 tấn, tăng 1,3 lần so với năm 1995… Để đạt được sản lượng lương thực như trên, huyện đã chú trọng nhập các giống mới có năng suất cao đưa vào gieo trồng. Năm 2000, có 95% diện tích lúa bằng giống cấp I và giống tiến bộ kỹ thuật, trong đó có 13% diện tích cấy bằng giống lúa lai, 95% diện tích ngô trồng bằng ngô lai, 60% diện tích lạc trồng bằng giống mới.Năm 1998, để phát huy tối đa tiềm năng đất đai của huyện, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Huyện uỷ đã ra nghị quyết số 08 – NQ/ HU về trồng cây ăn quả, phát triển kinh tế vườn đồi. Đến tháng 5 năm 2000, diện tích vườn tạp được cải tạo và trồng cây ăn quả đạt 1600 ha, trong đó diện tích trồng vải thiều chiếm 1.050 ha.Chăn nuôi phát triển khá, chiếm 45% tỷ trọng ngành nông nghiệp. Đến năm 2000, các loại gia súc gia cầm đều tăng từ 2 – 4%/năm, trong đó đàn trâu bò có 22.600 con, tăng 4,6% so với năm 1995; đàn lợn có 109.000 con, tăng 21.000 con so với năm 1995; đàn gia cầm có gần 1.000.000 con. Những thành tựu trên đây là kết quả tổng hợp, sự phối hợp hoạt động của các ngành, các cấp… Nhưng yếu tố quyết định nhất vẫn là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” được thực hiện từ tháng 4 năm 1988, đã phát huy tác dụng to lớn đối với phát triển sản xuất nông nghiệp.

    Tiếp theo Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI), Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 (khoá VII) cùng nhiều chỉ thị, nghị quyết khác và chủ trương giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài, cấp giấy chứng nhận, lập sổ bộ thuế tới hộ nông dân… đã được đông đảo nông dân trong huyện nhiệt liệt hưởng ứng, tạo nên bước ngoặt quyết định trong sản xuất nông nghiệp.

    Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, Huyện uỷ đã lãnh đạo Đảng bộ và chính quyền các cấp tiến hành điều chỉnh quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, thực hiện cơ chế khoán gọn đến hộ nông dân, khẳng định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, hoá giá trâu bò, máy móc, tư liệu sản xuất mà hợp tác xã quản lý, sử dụng kém hiệu quả chuyển cho xã viên quản lý và sử dụng. Sửa đổi các quan hệ quản lý và phân phối, xoá bỏ công điểm đã từng gây ra tệ rong công, phóng điểm, tham ô tồn tại trên hai thập kỷ trong các hợp tác xã.

Giảm số cán bộ quản lý hợp tác xã. Một số hợp tác xã đã chuyển đổi hình thức hoạt động sang làm dịch vụ phục vụ sản xuất.

    Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở Hiệp Hòa có những biến đổi quan trọng. Trong khi các đơn vị kinh tế quốc doanh sản xuất và kinh doanh trì trệ thì các thành phần kinh tế tư nhân bung ra, nhạy bén nắm bắt thị trường, năng động trong sản xuất kinh doanh, sản xuất phát triển. Tổng giá trị bình quân trong 5 năm 1986 – 1990 là 1,62 tỷ đồng (cá nhân và tập thể chiếm 90%), tăng lên 2,142 tỷ đồng trong 5 năm 1991 – 1995 (cá nhân và tập thể chiếm 95%) và 9,2 tỷ đồng trong 5 năm 1996 – 2000. Tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế từ 3,8% trong 5 năm 1991 – 1995 tăng lên 6,34% trong 5 năm 1996 – 2000. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện tập trung vào một số mặt hàng như vật liệu xây dựng (gạch, ngói, khai thác cát, sỏi), đồ mộc, cơ khí nhỏ… Tuy vậy, thủ công nghiệp, ngành nghề của Hiệp Hòa “… phát triển chậm, chưa tạo ra được sản phẩm mũi nhọn phục vụ nhu cầu sản xuất hàng hóa”.

    Theo chủ trương của Đảng, công tác xây dựng cơ bản phải bố trí lại cho phù hợp với khả năng, chú trọng các mục tiêu cấp bách nhất về kinh tế – xã hội và nâng cao về hiệu quả của vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Thực hiện chủ trương của Đảng, từ năm 1987 đến năm 2000, ở Hiệp Hòa hàng trăm công trình trên các lĩnh vực phục vụ sản xuất nông nghiệp, giao thông vận tải, văn hóa – xã hội… được xây dựng với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” như các trạm bơm tưới tiêu, nâng cấp bệnh viện huyện và phòng khám khu vực, xây dựng 26 trạm xá theo mô hình mới, xây dựng kiên cố 28% số phòng học, xây dựng và cải tạo mạng lưới điện mở rộng tới 100% xã, thôn có điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt… Trong công tác xây dựng tuy còn nhiều khuyết điểm cần phải khắc phục, nhưng những công trình đã được xây dựng góp phần làm thay đổi từng bước bộ mặt của huyện về kinh tế, văn hóa, xã hội.

Ngành giao thông vận tải hàng năm mở các chiến dịch làm đường giao thông thu hút đông đảo nhân dân tham gia. Các tuyến đường liên xã, liên thôn được mở rộng, tu bổ, đã có 30 km đường thôn xóm được rải bê tông. Các tuyến đường Thắng – cầu Vát, đường quốc lộ 37, đường 19- 5, được mở rộng, rải nhựa. Cầu Vát bắc qua sông Cầu đã được xây dựng nối Hiệp Hòa với các khu công nghiệp và trung tâm kinh tế lớn Hà Nội, Thái Nguyên. Phương tiện giao thông vận tải tăng nhanh, đáp ứng nhu cầu vận tải và đi lại của nhân dân.

   Thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, thương nghiệp quốc doanh gặp nhiều khó khăn. Việc xoá bỏ bao cấp, thực hiện cơ chế một giá đã làm cho các đơn vị kinh doanh tập thể bước đầu có lúng túng, bỡ ngỡ với cách làm ăn mới. Một số đơn vị phải hoạt động cầm chừng, doanh số bán ra thấp. Thực hiện chủ trương của Trung ương và Tỉnh uỷ, Huyện uỷ đã có các nghị quyết và các biện pháp tích cực tháo gỡ khó khăn đối với thương nghiệp quốc doanh do huyện quản lý, mở rộng lưu thông hàng hóa, ngăn chặn việc làm hàng giả, hàng lậu thuế… Thị trường có nhiều biến đổi, hàng hoá phong phú, giá cả tương đối ổn định, văn minh thương nghiệp có nhiều tiến bộ.Hoạt động dịch vụ có bước phát triển khá. Tỷ trọng giá trị sản phẩm từ hoạt động thương mại, dịch vụ trong tổng giá trị sản phẩm năm 2000 chiếm 9,06%. Các thị tứ đã dần dần hình thành như phố Hoa (Bắc Lý), Gia Tư (Hoàng An), Bách Nhẫn (Mai Trung), Lữ (Đông Lỗ)…

    Dịch vụ thương mại phát triển nhanh. Hàng hóa phong phú, nhiều chủng loại, rất thuận tiện cho người tiêu dùng. Dịch vụ vận tải phát triển đa dạng, đảm bảo nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại của nhân dân. Thông tin liên lạc được mở rộng và từng bước hiện đại hóa. Đến năm 2000, 100% trụ sở uỷ ban nhân dân xã có máy điện thoại, 24/26 xã xây dựng điểm bưu điện văn hóa xã.

Hoạt động tài chính tín dụng đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Trong  năm (1991 – 1995), vốn ngân sách chi cho sự nghiệp kinh tế tăng 13%, trong đó cho nông nghiệp tăng 5,3%, thuỷ lợi tăng 13,8% , giao thông tăng 60%. Ngân sách chi cho văn hóa thông tin tăng 5,54%. Trong 5 năm (1996 – 2000), vốn ngân sách chi cho phát triển kinh tế tăng 12%, trong đó chi cho phát triển nông nghiệp tăng 6,2%, thuỷ lợi tăng 20%, giao thông tăng 32%. Ngân sách chi cho văn hóa thông tin tăng 4,4%, khoa học công nghệ môi trường tăng 9,8%.Ngành ngân hàng đã có cố gắng cho nhân dân vay vốn để phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo. Sau 7 năm thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo (1993 – 1999), ngân hàng đã cho 4.136 lượt hộ nghèo vay vốn để sản xuất với số tiền là 7 tỷ 400 triệu đồng, bình quân mỗi hộ được vay 1.800.000 đồng. Từ năm 1993 – 1997 đã cho 87.429 lượt hộ được vay vốn để sản xuất, với số tiền là 120,6 tỷ đồng, doanh số cho vay bình quân tăng 2,1%/ năm. Đã cho 109 dự án nhỏ vay với số tiền là 3,7 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 4.044 lao động.Đời sống nhân dân từng bước ổn định, số hộ nghèo giảm từ 31,7% năm 1993 xuống dưới 15% năm 2000, hộ giàu và khá tăng lên .

2. Văn hóa, xã hội:

Sự nghiệp giáo dục đào tạo tiếp tục phát triển. Cơ sở vật chất dạy và học ngày càng được tăng cường. Chất lượng giáo dục có chuyển biến, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trong huyện. Tỷ lệ học sinh lên lớp và tốt nghiệp ở các cấp học đạt từ 95% trở lên, chất lượng học sinh giỏi năm sau cao hơn năm trước, bình quân hàng năm tăng 1,5%, tỷ lệ học sinh xếp loại khá, giỏi đạt trên 30%. Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học và trung học chuyên nghiệp đạt trên 30%. Có 34 trường đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện và cấp tỉnh, có 5 trường đạt tiêu chuẩn quốc gia. Trường tiểu học số I Đức Thắng  10 năm liền đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện và tỉnh, chuẩn quốc gia, được tặng thưởng Huân chương lao động hạng Ba và được tặng cờ thi đua xuất sắc dẫn đầu bậc tiểu học trong tỉnh. Trường trung học phổ thông Hiệp Hoà số 1 với thành tích 40 năm được tặng Huân chương Lao động hạng Nhất. 100% xã, thị trấn phổ cập tiểu học, 11 xã phổ cập trung học cơ sở. Hai thầy cô giáo được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Nhà giáo ưu tú”.

Sự nghiệp y tế có bước phát triển mới trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân. Mạng lưới y tế từ huyện đến xã được tăng cường về cơ sở vật chất, đội ngũ thầy thuốc và phương tiện khám, chữa bệnh. Các chương trình vệ sinh, y tế dự phòng, chống suy dinh dưỡng, công tác chăm sóc, bảo vệ bà mẹ trẻ em, công tác dân số kế hoạch hoá gia đình… được coi trọng. Công tác khám chữa bệnh từng bước được quan tâm và thực hiện tốt. Dịch bệnh lớn không xảy ra, sức khoẻ nhân dân được chăm sóc tốt hơn. Tỷ lệ phát triển dân số của huyện từ 2,4% năm 1990 xuống còn 1,1% năm 2000.

Hoạt động của ngành văn hóa thông tin khá sôi nổi, đã góp phần tích cực vào việc hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế, xã hội ở địa phương. Việc xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa trở thành phong trào rộng rãi. Đến năm 2000 đã có trên 90% số thôn, xóm xây dựng và thực hiện quy ước làng văn hóa, đã có 46 làng được công nhận là làng văn hóa cấp tỉnh và cấp huyện. Tiêu biểu là thôn Trung Tâm (xã Hợp Thịnh) 4 năm liên tục đạt danh hiệu làng văn hóa cấp huyện và 3 năm liền đạt danh hiệu làng văn hóa cấp tỉnh. Phong trào thi đua xây dựng gia đình văn hóa tiêu biểu bước đầu có chuyển biến, đã có 43% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, tăng 7 lần so với năm 1996.

Phong trào văn nghệ, thể dục thể thao phát triển mạnh trong các trường học, cơ quan, thị trấn, thị tứ với các loại hình như câu lạc bộ thơ, các đội văn nghệ, cầu lông, bóng đá, bóng chuyền, vật… Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được xã hội hoá mạnh mẽ.

Hệ thống phát thanh, truyền thanh từ huyện đến cơ sở từng bước được trang bị nâng cấp. 100% số xã đã có đài truyền thanh phục vụ các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương.

Trong điều kiện kinh tế và đời sống còn nhiều khó khăn, song Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa đã thực hiện tốt các chế độ, chính sách với người có công với cách mạng. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” được toàn dân tích cực tham gia. Những cuộc vận động xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, “Phụng dưỡng bà Mẹ Việt Nam anh hùng”… đã dấy lên sôi nổi khắp các ngành, các địa phương trong huyện. Tất cả các Mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống đều được cơ quan nhận phụng dưỡng suốt đời. Đã vận động các tổ chức xã hội xây dựng được 25 ngôi nhà tình nghĩa, tặng 3.373 sổ tình nghĩa. Hàng năm đã cấp thẻ bảo hiểm cho 4.500 đối tượng chính sách, khám bệnh miễn phí cho các hộ đói nghèo. Con em các gia đình liệt sĩ, thương binh, các đối tượng chính sách được chăm sóc, giúp đỡ vật chất, tinh thần để ổn định cuộc sống, học tập và trưởng thành.

3. Quốc phòng – an ninh:

Trong tình hình mới, chủ trương của Đảng về quốc phòng toàn dân, thế trận  chiến tranh nhân dân đã được cấp uỷ  đảng, chính quyền các cấp quán triệt sâu sắc. Thực hiện Nghị quyết 03 của Bộ Chính trị, Huyện uỷ đã xây dựng xong tuyến phòng thủ khu vực và kế hoạch tác chiến của xã. Kế hoạch đó hàng năm đều được bổ sung cho phù hợp với tình hình. Các ngành, các địa phương đã chú trọng nâng cao chất lượng dân quân tự vệ, hoàn thành nhiệm vụ luyện tập, diễn tập quân sự và tuyển quân hàng năm.

Công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong 10 năm đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc đổi mới ở địa phương, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ những thành quả cách mạng đã giành được. Huyện uỷ đã tiếp tục chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 03 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 13 của Tỉnh uỷ về công tác an ninh trật tự, lực lượng công an đã tập trung xây dựng và củng cố các địa bàn xung yếu, tổ chức nhiều đợt truy quét tội phạm theo Chỉ thị 135 của Thủ tướng Chính phủ. Các cấp, các ngành đã xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch, phương án cụ thể phòng chống các hoạt động phá hoại, chống âm mưu “Diễn biến hoà bình” của địch, chủ động giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân ở cơ sở, đảm bảo an ninh trật tự. Công tác thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công tác an toàn giao thông được thực hiện tích cực.

Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được phát triển cả về bề rộng và bề sâu, củng cố các tổ an ninh tự quản, xây dựng quy ước an ninh thôn xóm, đẩy mạnh hoạt động của tổ hoà giải, củng cố lực lượng công an xã, quản lý, giáo dục các đối tượng.

Các cơ quan bảo vệ pháp luật đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ trong việc điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm đúng đường lối quan điểm, công minh đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Trong 5 năm (1996 – 2000), 97% số vụ đã được giải quyết. Thường xuyên phối hợp đấu tranh chống hành vi vi phạm pháp luật, tổ chức tốt các cuộc thanh tra, điều tra, kiểm sát, phát hiện những sai sót vi phạm trong quản lý kinh tế, quản lý đất đai… Trong 10 năm (1991 – 2000) đã tổ chức 62 cuộc thanh tra, điển hình là cuộc thanh tra một số cán bộ trong Cục Dự trữ quốc gia làm thất thoát thóc dự trữ của Nhà nước, đã thu hồi 2.180 tấn thóc bị chiếm dụng.

4. Hoạt động của hệ thống chính trị:

Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và các đoàn thể nhân dân thường xuyên được coi trọng và từng bước đổi mới, trong đó công tác xây dựng Đảng giữ vị trí then chốt.

Trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, cùng với những tiêu cực của cơ chế thị trường đã tác động không nhỏ đến tư tưởng đảng viên và nhân dân, công tác chính trị, tư tưởng được các cấp uỷ đảng quan tâm chỉ đạo. Huyện uỷ đã tập trung vào công tác giáo dục chính trị tư tưởng thông qua việc triển khai và thực hiện các Nghị quyết của Trung ương, Tỉnh uỷ, Huyện uỷ kịp thời, chặt chẽ và nghiêm túc; chú trọng xây dựng đội ngũ báo cáo viên từ huyện đến cơ sở, trích ngân sách của huyện hàng năm 150 triệu đồng để mua báo trang bị đến các chi bộ nông thôn và đoàn thanh niên xã, thị trấn. Mở rộng, nâng cấp hệ thống đài truyền thanh cơ sở, nâng cao chất lượng tin, bài, duy trì có nền nếp hội nghị thông tin  thời sự, chính sách, phát hành đều đặn bản tin của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ và Ban tuyên giáo Huyện uỷ tới các chi, đảng bộ. Công tác chính trị tư tưởng đã quan tâm giáo dục truyền thống cách mạng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, chống “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Tuyên truyền và phát động các phong trào thi đua yêu nước, xoá đói, giảm nghèo, phong trào xây dựng chi, đảng bộ trong sạch, vững mạnh… Do làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đã làm tăng thêm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo, góp phần ổn định chính trị ở địa phương.Công tác tổ chức xây dựng Đảng được các cấp uỷ thường xuyên quan tâm, chỉ đạo. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII) và Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2, khoá VIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Huyện uỷ đã tập trung chỉ đạo, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở Đảng, đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng chi, đảng bộ trong sạch, vững mạnh nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức đảng.Phong trào xây dựng chi, đảng bộ trong sạch vững mạnh được phát động liên tục. Số chi, đảng bộ trong sạch vững mạnh hàng năm đều tăng. Năm 1995 có 23 chi, đảng bộ đạt trong sạch, vững mạnh, năm 1999 tăng lên 38. Nhiều đảng bộ liên tục giữ vững danh hiệu trong sạch, vững mạnh. Sinh hoạt của chi bộ đã có sự đổi mới, vai trò lãnh đạo  kinh tế của chi bộ thôn từng bước  được khẳng định.

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng đã từng bước thực hiện có nền nếp. Các cấp lãnh đạo của Đảng từ huyện ủy đến chi bộ thực hiện dân chủ và phát huy trí tuệ tập thể. Các cuộc họp của cấp ủy và chi bộ, đảng bộ đã khuyến khích và tạo điều kiện để mọi đảng viên phát biểu, thảo luận, đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau phải lấy biểu quyết về từng điểm để thống nhất ý chí và hành động bảo đảm đoàn kết nội bộ.

Đảng bộ đã chú trọng thực hiện các biện pháp để nâng cao chất lượng đảng viên, định rõ tiêu chuẩn đảng viên, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế, phát động phong trào thi đua làm kinh tế giỏi trong đảng viên. Để nắm chắc chất  lượng đảng viên, hàng năm các cơ sở đảng đã xem xét, phân loại sàng lọc đảng viên. Qua phân loại hàng năm, đảng viên đủ tư cách phát huy tác dụng tốt tăng từ 70% năm 1995 lên 74% năm 1999. Công tác phát triển đảng có tiến bộ.

    Công tác cán bộ luôn được chú ý và tập trung chỉ đạo chặt chẽ. Huyện ủy đã chỉ đạo sắp xếp lại một số tổ chức cơ sở Đảng, kiện toàn cấp ủy các cấp qua các kỳ đại hội. Bước đầu thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ trong bộ máy các cấp ủy, chính quyền và đoàn thể nhân dân. Trong nhiệm kỳ đại hội lần thứ XVIII (1991 – 1995), đã giải quyết nghỉ chế độ cho 9 đồng chí là bí thư đảng ủy, 9 đồng chí Chủ tịch xã, bố trí mới 45 đồng chí là cán bộ chủ chốt cơ sở, đề bạt 32 đồng chí là trưởng, phó ban, ngành của huyện, thay đổi vị trí công tác 15 đồng chí. Trong nhiệm kỳ đại hội lần thứ XIX (1996 – 2000), đã bố trí thay thế 14 đồng chí bí thư đảng bộ cơ sở, 9 đồng chí thường trực đảng ủy; giải quyết chế độ và thay đổi công tác 14 đồng chí chủ tịch, 12 đồng chí phó Chủ tịch ủy ban nhân dân xã và 10 đồng chí phó chủ tịch hội đồng nhân dân xã, thị trấn; điều động 26 trưởng phòng, 18 phó phòng, ban.

    Công tác phát triển đảng viên mới có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng. Trong nhiệm kỳ XVIII (1991 – 1995) kết nạp được 199 Đảng viên mới, tăng 230% so với nhiệm kỳ XVII; trong nhiệm kỳ XIX (1996 – 2000) kết nạp được 570 Đảng viên mới, tăng 3,5 lần so với nhiệm kỳ XVIII.

Công tác kiểm tra có nhiều cố gắng góp phần quan trọng vào nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng, sàng lọc cán bộ, đảng viên, xây dựng chi, đảng bộ trong sạch vững mạnh. Trong nhiệm kỳ XVIII (1991 – 1995), ủy ban kiểm tra huyện ủy đã tiến hành kiểm tra 35 lượt Ban chấp hành đảng bộ xã, 25 lượt Ban chi ủy chi bộ trực thuộc, ủy ban kiểm tra cơ sở đã kiểm tra 479 chi bộ gồm 4.800 đảng viên. Cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã xử lý 1.329 đảng viên, trong đó khai trừ, xóa tên và chấp thuận đơn là 557 trường hợp. Trong nhiệm kỳ XIX, các cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã tiến hành kiểm tra 58 tổ chức đảng cấp dưới và 474 đảng viên có dấu hiệu vi phạm. Đã thi hành kỷ luật 422 đảng viên, trong đó khai trừ và đưa ra khỏi đảng bằng các hình thức 147 trường hợp. Việc thi hành kỷ luật đối với những đảng viên phạm khuyết điểm vừa đảm bảo tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng, vừa củng cố lòng tin của quần chúng đối với Đảng.

    Hoạt động của Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân huyện, xã có nhiều đổi mới. Từ khi có luật tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, hoạt động của hội đồng nhân dân từ huyện đến xã có những thay đổi phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng. Hội đồng nhân dân huyện và xã đã từng bước đổi mới phương thức hoạt động, thực hiện chức năng là cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước ở địa phương. Nội dung các kỳ họp của hội đồng nhân dân được cải tiến, chất lượng được nâng lên. Chức năng giám sát hoạt động của chính quyền từng bước được thực hiện có kết quả đã góp phần quan trọng vào hoàn thành các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.Việc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp theo đúng luật. Tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu cao. Tỷ lệ nữ, trẻ, có trình độ văn hóa ngày càng cao trong các khóa hội đồng nhân dân, nhất là hội đồng nhân dân huyện. Ủy ban nhân dân các cấp qua mỗi kỳ bầu cử đã được kiện toàn, trình độ và năng lực đã được nâng lên một bước. Từng bước thực hiện dân chủ ở cơ sở, đảm bảo đúng luật, xây dựng chính quyền các cấp của nhân dân, do dân và vì dân. Vai trò quản lý, điều hành kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của chính quyền các cấp đã tiến bộ rõ rệt.

Thực hiện Quyết định số 712 QĐ – UB ngày 24/ 9/1989 của ủy ban nhân dân tỉnh Hà Bắc, ở tất cả các thôn trong huyện đã bầu trưởng thôn. Trưởng thôn là người giúp việc ủy ban nhân dân xã, quản lý và tổ chức thực hiện pháp luật và các quyết định của chính quyền cấp trên về quản lý đất đai, đôn đốc thực hiện các sắc thuế, chỉ đạo thực hiện quy ước  làng văn hoá, xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, bảo đảm an ninh trong thôn xóm, thực hiện các chính sách xã hội…

    Mặt trận và các đoàn thể nhân dân từng bước được kiện toàn tổ chức, đổi mới hình thức và nội dung hoạt động, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân thực hiện sự nghiệp đổi mới trên quê hương.Mặt trận tổ quốc huyện, xã làm tốt vai trò xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của các tổ chức thành viên, động viên toàn dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, lao động sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tham gia vào việc giữ vững an ninh trật tự, xây dựng lực lượng quân sự địa phương.

Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc phát động đã có kết quả, tác dụng khá. Phong trào “Uống nước nhớ nguồn” sôi nổi, rộng khắp (*). Đã tổ chức tốt các cuộc tiếp xúc cử tri với đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Phát huy vai trò Mặt trận cùng các cơ quan chức năng làm cho các cuộc bầu cử tổ chức ở địa phương thành công-như bầu cử HĐND huyện nhiệm kỳ 1994-1999 và nhiệm kỳ 1999-2004. Mặt trận Tổ quốc các cấp đã tham gia tích cực  vào nhiệm vụ xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể, tổ chức thực hiện tốt mọi nhiệm vụ chính trị của Đảng. Tiêu biểu cho công tác Mặt trận là MTTQ xã Hợp Thịnh, nhiều năm liền hoàn thành xuất sắc chức năng nhiệm vụ được Trung ương MTTQ và tỉnh, huyện khen thưởng.

     Hội phụ nữ đã từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, vận động hội viên giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống, phát triển kinh tế gia đình, góp phần xóa đói giảm nghèo, vận động hội viên sinh đẻ có kế hoạch, làm tốt công tác hậu phương quân đội, với 3.800 hội viên (78% số phụ nữ toàn huyện). Hội đã phát huy truyền thống “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” của những năm chiến tranh ác liệt, đã không ngừng năng động sáng tạo trong thời bình, hăng hái thực hiện các phong trào thi đua và 5 chương trình do Trung ương Hội đề ra, như “phong trào phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, nuôi con khoẻ, dạy con ngoan, xây dựng gia đình hạnh phúc, cần kiệm xây dựng đất nước”, “phong trào thi đua giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”… Đã xây dựng được những mô hình thu hút đông đảo chị em tham gia  như câu lạc bộ KHHGĐ (167 câu lạc bộ, hơn 6000 hội viên), tổ phụ nữ tín chấp, tổ đồng tâm, tổ đoàn kết, tổ tình thương, tổ phụ nữ không sinh con thứ 3…Đoàn viên thanh niên Hiệp Hoà: “phát huy truyền thống anh hùng, ra sức rèn đức, luyện tài, học tập lao động sáng tạo vượt bậc, xung kích tình nguyện, đem sức lực và trí tuệ của mình góp phần thực hiện thành công sự nghiệp  CNH, HĐH đất nước, phấn đấu xây dựng quê hương Hiệp Hoà giầu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh, vì hạnh phúc và tương lai tươi sáng của tuổi trẻ”.Các cấp bộ đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã chú trọng giáo dục lý tưởng và truyền thống cách mạng cho thanh niên, đẩy mạnh hoạt động văn hóa, thể thao, vận động thanh niên hăng hái học tập, lao động, công tác, làm tốt công tác phát triển đoàn viên và giới thiệu đoàn viên ưu tú để kết nạp vào Đảng. Thường xuyên chăm lo thiếu niên nhi đồng.

     Trong thời kỳ đổi mới, cùng với thanh niên cả nước, Đoàn thanh niên Hiệp Hoà với khí thế “tuổi trẻ học tập vì ngày mai lập nghiệp”, “khoẻ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”… đã có nhiều hoạt động sinh động được đông đảo đoàn viên thanh nhiên và các tầng lớp xã hội hưởng ứng, tham gia. Hàng trăm công trình thanh niên được thực hiện trên các lĩnh vực sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhiều dự án của Đoàn được thực hiện đã đem lại hiệu quả thiết thực. Hội Nông dân đã từng bước nâng cao vị trí, vai trò của mình, đổi mới  phương thức hoạt động, tích cực thực hiện các chương trình kinh tế-xã hội của huyện và Chỉ thị 59-CT/TW của Bộ chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội nông dân… Trong thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn”, các phong trào “xoá đói giảm nghèo”, “Hộ nông dân sản xuất giỏi”, “thực hiện mô hình VACTD”… sôi nổi liên tục, đã có hơn 14.000 hộ là hội viên (31,6% trong huyện) và 100% số thôn có hội. Hoạt động của Hội nông dân các cấp ngày càng có hiệu quả và ảnh hưởng tích cực tới mọi lĩnh vực của đời sống.

     Phong trào thi đua: “Phấn đấu trở thành hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” đã góp phần đẩy mạnh phong trào nông dân phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo. Hội đã gắn nhiệm vụ xây dựng các tổ chức hội vững mạnh với phát triển sản xuất, phát triển kinh tế hộ nông dân, phát triển kinh tế vườn, đồi,áp dụng tiến độ kỹ thuật trong thâm canh, sử dụng cây con có năng suất cao, từ đó góp phần đẩy mạnh sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, phát triển kinh tế hộ gia đình nông dân, cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân, xóa đói giảm nghèo. Toàn huyện đã có 11.670 hộ nông dân sản xuất giỏi.Xây dựng, phát triển Hội cựu chiến binh, kiện toàn cơ quan lãnh đạo Hội từ huyện đến xã hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, phát huy truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương.Những phong trào  thi đua “xây dựng Hội cựu chiến binh vững mạnh”, “gia đình cựu chiến bình gương mẫu”, “Hộ gia đình cựu chiến binh văn hoá” … đã có kết quả thiết thực góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Hội, toàn huyện đã tập hợp 79% số cựu chiến binh vào hội (5.789/8.246 đ/c), Ban chấp hành hội Cựu chiến binh các cấp thường xuyên tổ chức nói chuyện truyền thống cho hội viên, cho thanh thiếu niên… Nhiều gương điển hình vượt nghèo, vượt khó vươn lên làm giầu chính đáng, xây dựng hạnh phúc gia đình, hoà thuận xóm làng, khu phố, được quần chúng ca ngợi, học tập.Trong cơ chế mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, MTTQ và các đoàn thể đã và đang hoàn thiện về tổ chức, phương thức và hoạt động đem lại hiệu quả cao, tác dụng lớn, có vai trò quan trọng trong các nhiệm vụ chính trị  ở Hiệp Hoà.

     Qua 4 nhiệm kỳ của đại hội thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (XVI, XVII, XVIII, XIX), tuy còn nhiều mặt hạn chế cần phải tiếp tục khắc phục, nhưng nhìn lại chặng đường 15 năm (1986-2000), dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa đã đoàn kết, phấn đấu vượt qua những khó khăn thử thách, tạo được thế ổn định đi lên. Những mục tiêu chủ yếu do các kỳ đại hội Đảng bộ đề ra cơ bản  hoàn thành. Những nhân tố mới về kinh tế đang từng bước được khẳng định. Các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân được củng cố, kiện toàn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Những thành tựu và kinh nghiệm thu được trong 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng mới chỉ là bước đầu, nhưng cũng đủ để khẳng định những Nghị quyết, những chủ trương, những định hướng, những giải pháp do các Đại hội Đảng bộ huyện đề ra là đúng đắn, đã vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng vào hoàn cảnh thực tiễn của Hiệp Hòa.

Những thành tựu và kinh nghiệm đó là tiền đề quan trọng để khắc phục những khó khăn, trở ngại, tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới đi vào chiều sâu ngày càng đồng bộ và toàn diện, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện trong thời kỳ mới, thời kỳ CNH, HĐH đất nước.

Kỳ sau đăng: II. TIẾP TỤC ĐỔI MỚÍ, PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN VÀ VỮNG CHẮC, XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG NGÀY CÀNG GIÀU ĐẸP (2000-2010)

Bài liên quan

Gửi bình luận