Trang chủ Quảng cáo Giới thiệu sách: LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP HOÀ (1938-2010) phần tiếp theo…

Giới thiệu sách: LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP HOÀ (1938-2010) phần tiếp theo…

Đăng bởi HiephoaNet

Phần thứ hai

ĐẢNG BỘ HIỆP HOÀ RA ĐỜI VÀ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN GIÀNH CHÍNH QUYỀN

I. THỰC DÂN PHÁP TĂNG CƯỜNG BỘ MÁY THỐNG TRỊ VÀ BÓC LỘT

Từ khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách thống trị trên đất nước ta, chúng đã cấu kết chặt chẽ với giai cấp địa chủ, phong kiến tay sai, thi hành những chính sách cực kỳ phản động và thâm độc để áp bức bóc lột nhân dân ta, thẳng tay đàn áp các cuộc đấu tranh yêu nước.

Nhân dân Bắc Giang nói chung và nhân dân Hiệp Hoà nói riêng cũng nằm trong bối cảnh chung đó.

Về kinh tế, Bắc Giang là một tỉnh quan trọng, đông dân, nhiều của, nhất là về nông sản. Đối tượng khai thác, bóc lột của thực dân Pháp ở đây chủ yếu là nông dân, nhằm thu được nhiều lúa gạo và các sản vật khác, phục vụ cho chính quốc. Chúng thực hiện chính sách hết sức tàn nhẫn và trắng trợn để cướp đoạt tài sản, ruộng đất của nông dân. Chỉ riêng ở tỉnh Bắc Giang đã có 23 tên địa chủ kiêm tư bản người Pháp chiếm 34.995 ha ruộng làm đồn điền. Ngoài ra còn 6.083 ha ruộng của nông dân bị bọn địa chủ người Việt chiếm đoạt và 528 ha nằm trong tay nhà thờ, thực chất cũng là của bọn hào lý, địa chủ ở địa phương.

Ở Hiệp Hoà, ngay từ năm 1903, thực dân Pháp đã cướp đất của dân để lập đồn điền. Chỉ tính riêng ba tên địa chủ lớn (cả người Pháp và người Việt) đã chiếm 9.057 mẫu ruộng của nông dân, ngoài ra còn hàng trăm địa chủ vừa và nhỏ hoành hành ở tất cả các làng xã của Hiệp Hoà. Ở một xã như Hợp Thịnh có 1788 mẫu ruộng thì của địa chủ, phú nông, ruộng công điền, công thổ đã chiếm tới gần 50% diện tích. Ở Ngọc Sơn, bình quân mỗi tên địa chủ có gần 5 mẫu ruộng, có tên chiếm tới 537 mẫu. Ở Đức Thắng, trong tổng số 1.520 mẫu ruộng cấy thì rơi vào tay địa chủ Pháp – Việt tới 1000 mẫu…

Vừa bị cướp ruộng, người dân Hiệp Hoà còn bị bóc lột tàn bạo bởi chính sách “thuế má nặng oằn lưng và luôn luôn thay đổi” của thực dân, phong kiến. Để bóc lột được nhiều hơn, thực dân Pháp đã tiến hành hàng loạt sự thay đổi về đo lường và mức sưu thuế. Vì vậy, toàn bộ diện tích ruộng đất trong huyện tăng lên 1/3, khiến cho thuế đất cũng theo đó tăng lên 1/3. Thuế thân cũng tăng lên ghê gớm. Trong vòng 10 năm, từ 1932-1942, các mức thuế đều gia tăng, nhất là các khoản phụ thu và đặc biệt là việc đóng quỹ cho quốc phòng tăng tới 150% (12).

Ngoài sưu cao, thuế nặng, người nông dân Hiệp Hoà còn phải nộp thêm các khoản thuế công điền, công thổ, tiền hương ước và nhiều thứ thuế vô lý khác.

Các nghề thủ công truyền thống, vốn là nguồn thu quan trọng của nông dân cũng không có cơ hội ngóc đầu lên và dần dần bị mai một. Chỉ còn có nghề ươm tơ kéo kén và dệt vải lụa vẫn tồn tại, nhưng cũng trong tình trạng thoi thóp vì nó bị cạnh tranh ghê gớm của hàng hoá nước ngoài, vì vậy sức mua và giá bán giảm sút nghiêm trọng, làm ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của những gia đình làm nghề tằm tang và nghề dệt.

Tình trạng sản xuất lạc hậu, đời sống thê thảm của người dân Hiệp Hoà còn liên tiếp bị thiên tai, đói kém hoành hành. Nó gần như là bạn đồng minh của chế độ thực dân, phong kiến, đã góp phần làm quá trình bần cùng hoá người nông dân thêm mạnh mẽ và nhanh chóng. Nó dẫn tới sự phân hoá giàu nghèo và phân hoá xã hội trở nên sâu sắc.

Từ khi phát-xít Nhật vào nước ta, người nông dân càng bị bóc lột thậm tệ, nặng nề hơn. Họ phải đi phu xây dựng các công trình quân sự, phải nhổ lúa và hoa màu để trồng đay, thầu dầu cung ứng cho chiến tranh, chúng thẳng tay vơ vét thóc gạo. Năm 1943, mức thu thóc tạ của Nhật tăng gấp 7 lần so với năm 1942, năm 1944 tăng lên 10 lần, nhưng giá chỉ còn bằng 1/8. Chính sách vơ vét, bóc lột này đã gây ra hậu quả lớn lao là nạn đói xảy ra từ cuối năm 1944 sang năm 1945. Ở hầu hết các xóm thôn, gần như các gia đình không còn một thứ gì ăn được, làm cho hàng trăm người bị chết đói, có gia đình, nạn đói cướp đi không còn một ai. (13) Đây là tội ác ghê tởm, trời không dung, đất không tha mà thực dân Pháp và phát-xít Nhật gây ra để phục vụ cho lòng tham không đáy của chúng.

Về chính trị, ngay từ khi mới xâm lược tỉnh ta, thực dân Pháp đã xác định Hiệp Hoà là vành đai bao bọc và ngăn chặn ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Chúng đã lập các đồn khố xanh ở Hà Châu, Đức Thắng, Đông Lỗ, Chàng để cô lập và đối phó với hoạt động của nghĩa quân. Sau này chúng còn đặt Hiệp Hoà dưới chế độ quân quản trong đơn vị hành chính đặc biệt là đại lý Đức Thắng.

Cùng với việc chiếm đất, lập đồn điền, bóc lột bằng sưu cao, thuế nặng, thực dân Pháp còn thiết lập hệ thống chính quyền tay sai hoàn chỉnh từ huyện xuống tới các làng xã. Bọn địa chủ, phú nông là tay sai đắc lực trong bộ máy kìm kẹp ở nông thôn. Chúng tăng thêm quyền lực cho lý trưởng, bọn địa chủ được đưa lên địa vị độc tôn ở nông thôn. Chúng nắm quyền giám sát và kiểm soát việc lựa chọn, ràng buộc và không chế các xã trưởng, chánh tổng. Đó là những chỗ dựa chắc chắn của chính quyền thực dân, là công cụ đắc lực trực tiếp áp bức, bóc lột và bóp nghẹt đời sống chính trị của nhân dân.

Tháng 12 năm 1912, thực dân Pháp ra sắc lệnh cấm không ai được tổ chức hội kín, đồng thời chúng cũng ra sắc lệnh nghiêm trị những ai chống đối lại chính quyền Pháp, xử tử những người cầm vũ khí chống Pháp…

Để thực hiện chính sách ngu dân, thực dân Pháp hướng nền giáo dục vào mục đích phục vụ cho công cuộc cai trị của chúng. Trong hơn nửa thế kỷ, chúng chỉ cho mở ở Hiệp Hoà 7 trường sơ đẳng tiểu học, tỷ lệ học sinh đi học rất thấp (3,6%, lại chủ yếu là con nhà giàu). Trong chương trình đào tạo, học sinh bị nhồi nhét về lịch sử nước Pháp, bổn phận đối với nước mẹ Pháp trong các bài luân lý, gây tâm lý nô dịch, phục tây, sợ tây và ơn tây, tạo ra một thứ công cụ đắc lực để truyền bá tư tưởng nô dịch vào đông đảo tầng lớp nông dân. Trong khi đó, chúng cho xây dựng một loạt nhà thờ nhằm lôi kéo và chia rẽ nhân dân trong và ngoài tôn giáo,(*) chúng duy trì những đồi phong bại tục từ bao đời để lại, đem văn hoá phẩm đồi trụy, phản động để nhồi sọ, mê hoặc thanh niên, trong khi đó, chúng không cho xây dựng một nhà thương nào… Tất cả những âm mưu, thủ đoạn đó nhằm mục đích làm cho người dân Hiệp Hoà suy nhược về thể xác, ngu dốt về tinh thần, chấp nhận thân phận làm nô lệ cho chúng.

“Làm cho dân ngu để dễ trị, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất”.(**)

Có thể nói, chính sách bóc lột về kinh tế, nô dịch về tư tưởng, áp bức về chính trị của thực dân Pháp và bọn địa chủ phong kiến tay sai đã đẩy cuộc sống và tiền đồ của nhân dân Hiệp Hoà đứng bên bờ vực thẳm, tất yếu sẽ dẫn đến những cuộc nổi dậy đấu tranh của nhân dân ta để giành quyền sống.

Không chịu khuất phục trước sự đè nén, áp bức bóc lột của đế quốc, phong kiến, nhân dân Hiệp Hoà đã đứng lên đấu tranh, tham gia vào các cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do cụ Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Đó là những cuộc “tập dượt” chuẩn bị cho một phong trào quần chúng rộng rãi và quyết liệt hơn khi nó được một tổ chức của những người cách mạng theo con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin lãnh đạo.

Như vậy, vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930 của thế kỷ XX, ở Hiệp Hoà đã trở thành một điểm nóng của cách mạng, xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân ta với chủ nghĩa đế quốc Pháp và mâu thuẫn giữa nhân dân – mà chủ yếu là giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Nguyện vọng của toàn thể nhân dân ta là đánh đổ thực dân, đế quốc và địa chủ phong kiến tay sai – trở thành một nhu cầu bức xúc và cấp thiết. Từ trong nỗi thống khổ của đồng bào và quê hương xứ sở, nhiều người con của quê hương Hiệp Hoà đã không ngần ngại gian lao, vất vả, hy sinh, đi tìm ánh sáng cách mạng và dấn thân vào con đường đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng quê hương, đất nước.

II. SỰ THÀNH LẬP CHI BỘ ĐẢNG Ở TỔNG HOÀNG VÂN

Những cuộc vận động chống đế quốc và phong kiến của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX và nhất là vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX đã diễn ra vô cùng oanh liệt, nhưng cuối cùng đều thất bại. Thực dân Pháp dùng nhà tù, máy chém thẳng tay đàn áp, dìm phong trào trong biển máu nhằm dập tắt phong trào yêu nước đang ngùn ngụt dâng cao của nhân dân ta.

Nguyên nhân thất bại của các phong trào đó không phải do nhân dân ta thiếu lòng yêu nước mà chính là do những người lãnh đạo không đưa ra được một đường lối cách mạng đúng đắn, hay nói cách khác, không do một chính đảng cách mạng của một giai cấp tiên tiến lãnh đạo.

Giữa lúc đó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam yêu nước đầu tiên đã tìm thấy con đường giải phóng đúng đắn cho giai cấp công nhân, cho nhân dân lao động và toàn thể dân tộc ta. Người thành lập tổ chức “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội” để truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong quần chúng công nhân, nông dân, trí thức cách mạng, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng cộng sản sau này.

Ngày 04/8/1929, đồng chí Ngô Gia Tự, một học trò xuất sắc của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Đảng bộ đông Dương cộng sản đảng ở hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang (tại núi Lim huyện Từ Sơn), có sứ mệnh lãnh đạo phong trào cách mạng ở hai tỉnh.

Một số địa phương trong tỉnh đã xuất hiện cờ đỏ búa liềm và khẩu hiệu cách mạng.

Trong hai năm 1930-1931, thực dân Pháp mở hai phiên toà đại hình tại thị xã Bắc Ninh xét xử đồng chi Ngô Gia Tự cùng 30 đảng viên cộng sản và quần chúng yêu nước nhằm khủng bố tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

Ngày 03/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại của dân tộc ta và của cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã phát động cao trào đấu tranh mới mà đỉnh cao là Xô Viết – Nghệ Tĩnh, đã đem lại cho quần chúng công nông lòng tin vững chắc vào sức mạnh của mình, thấy rõ con đường giải phóng công nông, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác là con đường đấu tranh cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo.

Tất cả những sự kiện lịch sử ấy, dù mức độ có khác nhau, nhưng đều ảnh hưởng tới tư tưởng tình cảm và bầu nhiệt huyết đấu tranh của nhân dân Hiệp Hoà mà tiêu biểu là những thanh niên trí thức yêu nước.

Với bầu máu nóng của tuổi trẻ, nhạy cảm với thời cuộc, một số thanh niên trí thức của Hiệp Hoà đã sớm tìm đến với cách mạng, đứng về phía quần chúng lao khổ, hăng hái tham gia các cuộc đấu tranh, trong đó có anh Ngô Văn Đán, anh Ngô Văn Hiệp (Ngô Tuấn Tùng) v.v… đều quê ở tổng Hoàng Vân.

Anh Ngô Văn Đán dạy học và hoạt động ở vùng Đào Xuyên (Gia Lâm, Hà Nội), nơi có phong trào cách mạng khá mạnh. Anh tích cực hoạt động, lúc đi đầu trong đấu tranh công khai, lúc gan dạ bảo vệ cán bộ của Đảng trong hoạt động bí mật. Qua thử thách và rèn luyện trong trường đấu tranh ấy, anh đã trở thành đảng viên cộng sản. Anh Ngô Tuấn Tùng hoạt động bí mật dưới danh nghĩa là chủ một cửa hàng tạp hoá ở Phủ Lạng Thương. Cả hai anh được đồng chí Hoàng Quốc Việt, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng trực tiếp dìu dắt, giác ngộ và giới thiệu các anh vào Đảng, đào tạo thành những cán bộ cách mạng đầu tiên của quê hương Hiệp Hoà. (*)

Tháng 7 năm 1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương dùng các hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp… đòi tự do dân chủ, tranh thủ hoàn cảnh cho phép tập hợp lực lượng, chuẩn bị cho thời kỳ giành thắng lợi quyết định.

Tháng 7 năm 1937 Trung ương Đảng chủ trương phải triệt để “lợi dụng các thời kỳ tranh cử để tuyên truyền các khẩu hiệu của ta”. Ở Bắc Giang, trong cuộc tranh cử vào Viện dân biểu Bắc Kỳ (tháng 7 năm 1938), ta đã đưa Nguyễn Trung Tẩy, một công chức có cảm tình với cách mạng ra tranh cử với Ngô Tiến Cảnh, một tên tư sản mại bản. Đồng chí Ngô Tuấn Tùng được cơ sở đảng ở Phủ Lạng Thương cử về Hiệp Hoà để tuyên truyền cổ động cho ứng cử viên của ta. Kết quả ở Hiệp Hoà, trên 70% số phiếu cử tri bầu cho Nguyễn Trung Tẩy. (14) Thông qua cuộc vận động bầu cử, ta đã tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân những mục tiêu đấu tranh của phong trào dân chủ, vạch trần bộ mặt thật của đế quốc và tay sai, tăng thêm hiểu biết của nhân dân về cách mạng.

Từ năm 1936, sau những lần bị địch khủng bố và tổn thất trầm trọng. Đảng ta dần dần được khôi phục. Các hội nghị Trung ương tháng 3/1937 và tháng 9/1937 đã bàn sâu về công tác tổ chức của Đảng và công tác Mặt trận. Nhiều cán bộ của Đảng được phái về các địa phương để hoạt động, xây dựng cơ sở Đảng và phong trào quần chúng.

Đồng chí Hoàng Quốc Việt, sau khi thoát khỏi nhà tù Côn Đảo, được giao nhiệm vụ về Bắc Ninh, Bắc Giang hoạt động.

Tháng 8/1938, đồng chí Ngô Tuấn Tùng bí mật đưa đồng chí Hoàng Quốc Việt từ Phủ Lạng Thương về Hoàng Vân để gây dựng cơ sở phát triển cách mạng ở đây và các vùng phụ cận.

Tổng Hoàng Vân có vị trí khá thuận lợi, nằm lọt giữa các tổng Quế Sơn, Đức Thắng, Ngọc Thành, lại có sông Cầu làm địa giới tự nhiên với tỉnh Thái Nguyên – dân cư sống tập trung, làng xóm mang nhiều dáng vẻ của đồn luỹ phòng thủ. Nhân dân ở đây vốn có truyền thống đoàn kết, nhiều gia đình có truyền thống hiếu học, có điều kiện giao tiếp với xã hội bên ngoài.

Khi về tới Hoàng Vân, đồng chí Hoàng Quốc Việt được bố trí ở tại gia đình cụ Đồ Ba (thân sinh của đồng chí Ngô Tuấn Tùng và Ngô Văn Đán) (15) là cơ sở tin cậy và cùng với đồng chí Tùng dự kiến ngay những chủ trương kế hoạch vận động quần chúng, gây dựng cơ sở cách mạng. Bằng kinh nghiệm hoạt động bí mật nhạy bén và sự hiểu biết sâu sắc, đồng chí Hoàng Quốc Việt cùng với đồng chí Ngô Tuấn Tùng đã tuyên truyền giác ngộ vào một số gia đình nông dân và nhất là trong tầng lớp thanh niên yêu nước.

Quán triệt chủ trương của Hội nghị Trung ương tháng 3/1937 về công tác Mặt trận, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã chỉ đạo những thanh niên yêu nước, được giác ngộ đi sâu vào các thôn xóm, các gia đình nghèo, bí mật vận động nhân dân, tổ chức những hình thức hoạt động công khai, nửa công khai, đơn giản để tập hợp quần chúng. Vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, các tổ chức phường hội đã phát triển khá mạnh ở Vân Xuyên, Hoàng Liên, Vạn Thạch và sang cả Ca Sơn Hạ, Tiên Thù (Thái Nguyên) rồi lan rộng sang các nơi khác. Hội hiếu hỷ, hội ái hữu, hội tương tế, hội bát âm, hội thợ cày, hội lợp nhà v.v… có hàng trăm hội viên tham gia. Phương pháp hoạt động đơn giản, rộng rãi, nội dung phong phú và kết quả thiết thực. Trong mỗi hội, họ cử ra một người phụ trách, có uy tín để bênh vực quyền lợi cho hội viên. Có xóm, trừ bọn địa chủ cường hào gian ác, còn đại bộ phận các gia đình đều vào tổ chức phường hội do cán bộ cách mạng hướng dẫn và chỉ đạo. Đồn điền là nơi tá điền bị quản lý rất hà khắc, nhưng cũng được các tổ chức phường hội bên ngoài giúp đỡ, họ lập ra các phường hội của mình, vạch ra hình thức đấu tranh phù hợp. Tâm trạng “đất khách quê người” “sống chết mặc bay” không còn là một ám ảnh nặng nề đối với họ nữa. (16)

Các tổ chức phường hội có tác dụng thiết thực tạo ra tình cảm thân ái, đoàn kết trong nhân dân, giúp nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn. Thông qua các hoạt động đó, cán bộ cách mạng đã tuyên truyền, giải thích, giác ngộ quần chúng, dần dần nâng cao nhận thức của họ về Đảng, về cách mạng.

Cũng trong thời gian này, nhiều sách báo của Đảng của các trào lưu văn hoá, nghệ thuật có xu hướng chính trị khác nhau cũng du nhập vào Hiệp Hoà. Phong trào học chữ quốc ngữ phát triển khá rộng rãi trong các thôn xóm, người biết ít dạy người chưa biết, lập thành từng nhóm rất tự giác mà cơ sở là các tổ chức phường hội. Họ chuyền tay nhau đọc các báo “Tin Tức”, “Đời Nay”, sách “Chủ nghĩa Mác sơ giản” của Hải Triều…, tranh luận các vấn đề về chính trị, xã hội… Nhớ lại thời kỳ hoạt động ở Hoàng Vân, đồng chí Trường Chinh đã đánh giá: “Phong trào ở đây rất tốt… nhân dân rất yêu nước bởi vì nhân dân ở đây đọc sách báo thời kỳ dân chủ (1936-1939) rất nhiều, cho nên có một số thanh niên khuynh hướng ngưỡng mộ và ủng hộ Đảng. Lúc ấy có người chưa vào tổ chức nào cả, nhưng họ đọc báo chí của Đảng rất tốt. Họ được phát huy tinh thần yêu nước trong thời Dân chủ”. (*)

Phong trào học chữ quốc ngữ, đọc sách báo của Đảng và sách báo tiến bộ đã phát triển ngày càng rộng rãi ra các xã khác. Truyền thống yêu nước được khơi dậy và hun đúc thêm. Nhiều bài thơ ca hò vè… do quần chúng tự sáng tác và truyền miệng mang nội dung đấu tranh sâu sắc.(**) Cũng từ trong các tổ chức phường hội và thông qua phong trào, một tổ chức mang tính chất tự vệ cũng ra đời, xuất hiện những nhân tố tích cực, trung kiên, đi đầu trong các cuộc đấu tranh của quần chúng.

Năm 1939, nguy cơ chiến tranh phát – xít đã đến gần. Bọn thực dân Pháp thẳng tay đàn áp những cuộc đấu tranh đòi tự do, dân sinh, dân chủ của nhân dân, cấm các tổ chức, đảng phái hoạt động. Trước tình hình đó, Đảng ta chủ trương rút vào hoạt động bí mật, ra chỉ thị cho các đoàn thể quần chúng chuyển hướng hoạt động, tránh sự khủng bố của kẻ thù.

Tháng 6/1939, đồng chí Lê Hoàng (tức Nguyễn Văn Dung) Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc kỳ được cử về củng cố cơ sở đảng ở vùng nông thôn hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, xây dựng hệ thống đường dây liên lạc cho Trung ương và Xứ uỷ ở hai tỉnh biên giới phía bắc. Đồng chí Ngô Tuấn Tùng bí mật thông báo cho các cơ sở Hoàng Vân đi đón. Ngày 15 tháng 7-1939, các anh Nguyễn Văn Cường, Ngô Văn Ngôn, Tạ Văn Tám, Lê Văn Lộc (Nhường), Ngô Văn Thạnh (tức Ngô Duy Phương)… đã họp tại nhà cụ Đồ Ba bàn kế hoạch đón đồng chí Lê Hoàng và cử anh Lê Văn Lộc đến ga xe lửa Sen Hồ (Việt Yên) để đón đồng chí Lê Hoàng. Về tới Hoàng Vân, chỉ trong một thời gian ngắn, đồng chí Lê Hoàng đã nắm vững tình hình, củng cố các tổ chức phường hội, tiếp tục chỉ đạo phát triển các cơ sở cách mạng và phong trào quần chúng, tạo thành một địa bàn hoạt động rộng rãi, tin cậy ở tổng Hoàng Vân và các vùng phụ cận.

Trước tình hình thực dân Pháp tăng cường khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng và vơ vét thóc gạo, bắt phu, bắt lính (phục vụ cho chiến tranh thế giới lần thứ 2), đồng chí Lê Hoàng đã triệu tập một cuộc họp tại nội Đống Mú (Hoàng Vân) để thông báo tình hình, dự kiến những tình huống xảy ra để đối phó với địch. Đến dự gồm có anh Cường, anh Thạnh, anh Ngôn, anh Tám và anh Triệu.

Tháng 11/1939, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 đề ra nhiều nhiệm vụ quan trọng. Đồng chí Lê Hoàng tiếp tục triệu tập cuộc họp để phổ biến tình hình trong nước và trên thế giới, đồng thời quán triệt chủ trương, nhiệm vụ của Hội nghị Trung ương đã đề ra, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí. Theo sự phân công, anh Tám phụ trách khu vực Đồng Áng, Thanh Vân và khu vực giáp Hà Châu; anh Ngôn phụ trách khu vực Vạn Thạch, Quế Sơn, Hoà Sơn; anh Cường phụ trách khu vực Hoàng Liên, Đức Thắng, Trị Cụ, anh Thạnh phụ trách từ Vân Xuyên sang Phổ Yên (Thái Nguyên).

Các tổ chức phường hội lúc này được chuyển thành các tổ chức phản đế và được chỉ đạo hoạt động kín đáo, đi vào chiều sâu, hình thức rất phong phú, linh hoạt. Truyền đơn được rải thường xuyên, áp phích, khẩu hiệu xuất hiện liên tục ở các chợ và chỗ đông người như chợ Vân, chợ Dật, chợ Thắng và các làng An Cập, Bảo An, Hoàng Liên… Các cuộc đấu tranh trực diện chống đánh đập, cướp ruộng, tăng thuế, đòi cải cách xã hội, giám sát việc thu, chi của bọn hào lý cũng dần dần phát triển khá mạnh mẽ. Mặc dù bọn địch đã phát hiện và cho lính đi lùng sục cán bộ cách mạng, nhưng phong trào vẫn đứng vững, tránh được các tổn thất do địch gây ra. Nhiều cơ sở và hội viên không nao núng, dao động trước sự khủng bố của kẻ thù, vẫn trung thành với cách mạng. Những hạt nhân trung kiên như anh Thạnh, anh Triệu, anh Cường, anh Ngôn, anh Tám… luôn luôn đảm nhận những nhiệm vụ quan trọng, nguy hiểm. Trong gian nan, thử thách, các anh đã tỏ ra vững vàng, có thêm kinh nghiệm và trưởng thành hơn.

Lúc này, những đòi hỏi của phong trào đấu tranh và yêu cầu bức thiết của quần chúng đã vượt quá khả năng giải quyết của các tổ chức phường hội. Và, đã đến lúc, “Cần phải có một tổ chức bí mật, có kỷ luật nghiêm ngặt, cứng như sắt, vững như đồng để hướng đạo quần chúng trên con đường giai cấp tranh đấu…”(*) Trước tình hình đó, đồng chí Lê Hoàng thấy cần thiết phải thành lập một tổ chức Đảng ở Hiệp Hoà để lãnh đạo phong trào đấu tranh ngày càng cao của nhân dân đến thắng lợi. Với cương vị Xứ uỷ viên, ngày 16/2/1940 tại một địa điểm trên nội Đống Mú (làng Vân Xuyên) lịch sử, đồng chí Lê Hoàng đã tuyên bố kết nạp ba quần chúng trung kiên: Ngô Văn Triệu, Nguyễn Văn Cường (tức Ấp), Ngô Văn Thạnh (tức Ngô Duy Phương) vào Đảng cộng sản Đông Dương, chính thức thành lập chi bộ Đảng cộng sản ở Hoàng Vân do đồng chí Lê Hoàng làm Bí thư.

Qua ba năm vận động cách mạng (1938 – 1940) với nhiều hình thức tổ chức đấu tranh, từ thấp đến cao, từ công khai, hợp pháp và bí mật đến sự ra đời của chi bộ Đảng ở Hoàng Vân là một mốc son trên chặng đường đi lên của phong trào cách mạng Hiệp Hoà và của Đảng bộ tỉnh ta.(*)

Chi bộ Hoàng Vân trở thành hạt nhân lãnh đạo phong trào, là nguồn cổ vũ to lớn đối với nhân dân Hiệp Hoà, hăng hái tiến lên giành những thắng lợi mới trong các thời kỳ cách mạng tiếp theo.

III. ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH CHỐNG ĐỊCH KHỦNG BỐ, TRỞ THÀNH ATK CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VÀ XỨ UỶ BẮC KỲ

Vừa mới ra đời, chi bộ đảng ở Hoàng Vân đã được trao những nhiệm vụ nặng nề, to lớn.

Xứ uỷ Bắc kỳ giao trách nhiệm cho đồng chí Lê Hoàng và chi bộ Đảng ở Hoàng Vân lãnh đạo phong trào cách mạng trong toàn huyện Hiệp Hoà và phía nam huyện Phú Bình, Phổ Yên (Thái Nguyên). Ba huyện này vốn có truyền thống gắn bó với nhau, điều kiện địa lý, hoàn cảnh xã hội và kinh tế có những nét tương đồng.

Mở đầu cho hàng hoạt những hoạt động trong thời kỳ này và để gây tiếng vang lớn trong nhân dân là cuộc diễn thuyết tại hội chùa Ia vào ngày 22-2-1940 (tức ngày 15 tháng giêng, âm lịch), do chi bộ Hoàng Vân tổ chức. Sáng hôm đó, chọn lúc thuận lợi nhất, đồng chí Lê Hoàng đứng trên bậc tam cấp, dõng dạc, bình tĩnh phân tích tình hình trên thế giới, tình hình trong nước, vạch rõ chiến tranh thế giới sẽ tạo ra thời cơ cho cuộc cách mạng ở Đông Dương bùng nổ và nêu lên nhiệm vụ của nhân dân ta là phải chuẩn bị tiến lên giành chính quyền khi thời cơ đến. Đồng chí kêu gọi mọi người gia nhập các tổ chức phản đế, tích cực đấu tranh chống bọn đế quốc Pháp và tay sai…, tiếp sau đó, đồng chí Nguyễn Văn Cường giương cao lá cờ đỏ búa liềm cổ vũ khí thế của quần chúng. Các đồng chí Ngô Văn Thạnh, Ngô Văn Triệu nhanh nhẹn đi rải truyền đơn mang dòng chữ “Độc lập dân tộc”, “đả đảo phát-xít”… Lần đầu tiên, đông đảo nhân dân được chứng kiến giữa ban ngày cờ đỏ búa liềm, khẩu hiệu cách mạng, được nghe diễn thuyết, họ bàn tán, phấn chấn và cảm nhận một điều gì đó lớn lao sắp diễn ra, tăng thêm niềm tin của họ đối với cách mạng. (*)

Những cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân trong tỉnh làm cho bọn thực dân Pháp và tay sai hoảng sợ. Chúng thẳng tay khủng bố phong trào. Các chi bộ đảng ở hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang phải chuyển hình thức hoạt động, phân tán đảng viên về các cơ sở để tránh tổn thất, chỉ còn một chi bộ đảng ở Hoàng Vân hoạt động tập trung. Tháng 7-1940, Ban cán sự đảng Bắc Giang được thành lập, đồng chí Trần Quốc Hoàn làm trưởng ban, trực tiếp chỉ đạo phong trào ở Hiệp Hoà.

Ngày 22-9-1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương. Nhân dân ta phải chịu mấy tầng áp bức. Mâu thuẫn cơ bản, vốn có, giữa dân tộc ta với bọn đế quốc ngày càng quyết liệt hơn.

Ngày 27-9-1940, cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra và bị bọn phát-xít Nhật cấu kết với thực dân Pháp và tay sai khủng bố dữ dội.

Tháng 10-1940, Ban cán sự đảng Bắc Giang đã họp để bàn nhiệm vụ giúp đỡ khởi nghĩa Bắc Sơn, phát triển mạng lưới cơ sở bí mật và các tổ chức phản đế, xây dựng lực lượng vũ trang, tuyên truyền vạch trần bộ mặt giả dối của phát-xít Nhật và tay sai, sự hèn nhát của thực dân Pháp.

Thực hiện các nhiệm vụ trên, đồng chí Trần Quốc Hoàn đã về tại Hoàng Vân trực tiếp chỉ đạo phong trào. Nhiều cuộc diễn thuyết, vận động quần chúng đã được chi bộ Hoàng Vân tổ chức ở chợ Dật… cờ đỏ, truyền đơn xuất hiện nhiều nơi, kêu gọi mọi người tham gia ủng hộ, giúp đỡ khởi nghĩa Bắc Sơn; để lại những ấn tượng sâu sắc trong quần chúng. Cán bộ, đảng viên, những người tích cực trong phong trào đã hăng hái đến chỗ đông người, các làng xóm và các gia đình để vận động quyên góp. Vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, tuy đời sống nhân dân còn rất nhiều khó khăn, Tết Nguyên đán sắp đến, nhưng nhân dân Hiệp Hoà đã ủng hộ khởi nghĩa Bắc Sơn 750 đồng tiền Đông Dương, 469kg thóc, gạo, rất nhiều bánh chưng, quần áo, đồ dùng thiết yếu và một số vũ khí thô sơ. Nhiều gia đình đã đón anh em chiến sỹ,  đồng bào từ Bắc Sơn chuyển  về nuôi nấng, chăm sóc hoặc xung phong vận chuyển những thứ quyên góp được, đi hàng trăm cây số cho đồng bào, chiến sỹ Bắc Sơn (17).

Thông qua đợt vận động này, sự giác ngộ và tình hữu ái giai cấp của nhân dân được nâng cao thêm, phong trào cách mạng trong huyện được cổ vũ, cán bộ, đảng viên của chi bộ Hoàng Vân được tôi luyện và trưởng thành thêm.

Từ trong phong trào cách mạng của nhân dân, các tổ chức phản đế được phát triển và đẩy mạnh hoạt động. Các nhóm tự vệ được hình thành để hỗ trợ cho hoạt động của quần chúng, bảo vệ cơ quan, tài liệu và đưa đón cán bộ. Việc tập luyện quân sự cũng được tiến hành. Hoàng Vân trở thành địa điểm tin cậy của Trung ương và của Xứ uỷ. Cơ quan in ấn và một bộ phận chỉ đạo quân sự của Xứ uỷ được chuyển về đóng ở Hoàng Vân. Tháng 11-1940, đồng chí Ngô Tuấn Tùng được lệnh bí mật đưa một đoàn cán bộ gồm có đồng chí Hoàng Văn Thái, Lương Văn Chi (Huy Còm)… về Hoàng Vân huấn luyện quân sự.

Từ cuối tháng 11 đến hết tháng 12-1940, Xứ uỷ Bắc Kỳ mở hai lớp quân chính: một lớp mở tại soi ông Quốc (có 20 học viên), một lớp ở ấp Cầu Hang (có 25 học viên). Học viên đều là cán bộ của Bắc Ninh, Bắc Giang và một số tỉnh ở Bắc Kỳ. Đồng chí Lương Văn Chi phụ trách lớp học (đồng thời là giảng viên huấn luyện chính trị, quân sự). Chi bộ Hoàng Vân có trách nhiệm lãnh đạo quần chúng và tự vệ nuôi nấng, bảo vệ an toàn cho các lớp học. Các tổ tự vệ địa phương được trang bị một số vũ khí và được huấn luyện về quân sự nhất là kỹ chiến thuật về đánh du kích. Sau khi lớp học bế mạc, đồng chí Hoàng Văn Thái được phân công ở lại Hiệp Hoà để chỉ đạo phong trào, xây dựng lực lượng tự vệ. (18) Chỉ trong một thời gian ngắn, hầu hết các làng thuộc tổng Hoàng Vân đều tổ chức được tổ tự vệ.

Công tác binh vận cũng được chú trọng. Ta cử người lên Phú Bình kết hợp với cơ sở ở đó để tuyên truyền, giác ngộ binh lính địch đóng ở đồn Hà Châu.

Những hoạt động cách mạng ở Hoàng Vân khiến kẻ thù lo sợ. Chúng tăng cường theo dõi, ráo riết lùng sục để bắt cán bộ, phá cơ sở cách mạng của ta. Trước tình hình đó, chi bộ Hoàng Vân đã họp để bàn nhiệm vụ vận động nhân dân đoàn kết, tăng cường cảnh giác chống địch khủng bố. Xứ uỷ cử đồng chí Trần Quốc Tuân về thay đồng chí Trần Quốc Hoàn (bị địch bắt), tiếp tục chỉ đạo phong trào cách mạng ở đây. Để đề phòng bị tổn thất do địch gây ra, một bộ phận của cơ quan Xứ uỷ tạm thời chuyển đi nơi khác an toàn hơn. Tháng 1 năm 1941, Báo Phục Quốc, cơ quan ngôn luận của đảng bộ Bắc Giang được bí mật chuyển từ thôn Bừng (Lạng Giang) về tại nhà đồng chí Cường để ấn loát.

Ngày 07-1-1941, chi bộ Hoàng Vân họp đề ra nhiệm vụ, phân công đồng chí Triệu làm công tác quân sự, đồng chí Thạnh làm nhiệm vụ tuyên truyền, binh vận và gây dựng cơ sở, đồng chí Cường phụ trách chung, đồng thời có nhiệm vụ liên lạc, nhận chỉ thị của cấp trên.

Quần chúng có người bị địch bắt, có người bị đe doạ, nhưng do được giác ngộ, có nhận thức và cảm tình tốt đối với cách mạng nên cơ sở cách mạng ở Hoàng Vân vẫn vững vàng, quần chúng vẫn một lòng trung kiên, lực lượng tự vệ tiếp tục được củng cố, huấn luyện và phát triển, bảo vệ cán bộ cách mạng đi lại hoạt động được an toàn.

Trước sự lớn mạnh của phong trào cách mạng ở Hiệp Hoà, địch tập trung đàn áp, khủng bố ác liệt mà trọng điểm là Hoàng Vân. Nhiều cơ sở quần chúng bị địch khủng bố, một số cán bộ, đảng viên và quần chúng tích cực bị địch bắt, tra tấn, tù đầy. Tháng 6-1941 đồng chí Trần Quốc Tuân bị địch bắt. Tiếp đến đồng chí Ngô Tuấn Tùng và một tự vệ của Hoàng Vân cũng sa vào tay giặc. Ba đảng viên trung kiên của chi bộ Hoàng Vân cũng lần lược bị địch bắt, đó là các đồng chí Nguyễn Văn Cường, Ngô Văn Triệu, Ngô Văn Thạnh. Chỉ một tháng sau, thực dân Pháp đã mở phiên toà xét xử các đồng chí tại Phủ Lạng Thương do đích thân tên quan Pháp Pét-cơ-la làm chánh án. Đồng chí Triệu, đồng chí Thạnh mỗi người phải 5 năm tù, đày đi Sơn La, đồng chí Cường bị chúng giải về sở mật thám và giam ở Hoả Lò – Hà Nội. (*)

Trong thời gian bị tù đầy, mặc dù bị tra tấn, đánh đập và lao động khổ sai, nhưng các đồng chí vẫn giữ trọn phẩm chất và lòng trung thành với Đảng, với dân, không khai báo nửa lời với địch, đã thôi thúc, cổ vũ thêm phong trào cách mạng ở quê hương chẳng những không bị tan vỡ mà còn được củng cố và phát triển vững chắc hơn.

Lúc này, đồng chí Nguyễn Văn Lục (Lục Hải) được cử về thay đồng chí Trần Quốc Tuân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở Bắc Giang. Đồng chí Lục vẫn tiếp tục bám trụ tại Hoàng Vân, củng cố và gây dựng phong trào. Sau khi bị địch khủng bố và đàn áp, khó khăn lớn nhất của phong trào lúc này là thiếu cán bộ và tổ chức. Đồng chí Nguyễn Văn Lục tập hợp các quần chúng trung kiên, dựa vào các tổ chức phản đế, các tổ chức tự vệ, củng cố và xây dựng cơ sở, nhiều buổi tuyên truyền, diễn thuyết được tiến hành nhằm phổ biến chương trình Việt Minh, cờ và Điều lệ Mặt trận, kêu gọi mọi người tham gia Mặt trận Việt Minh để cùng nhau đánh đuổi Nhật – Pháp (19).

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng (5-1941) và chỉ đạo trực tiếp của Xứ uỷ Bắc Kỳ, những tháng cuối năm 1941, nhiều đoàn thể Cứu quốc của Mặt trận Việt Minh ra đời ở các thôn Đồng Áng, Vân Xuyên, Hoàng Liên, An Cập, Lạc Yên, Thanh Vân và đến cả Trung Định, Xuân Biều… góp phần tạo thế liên hoàn từ Bắc Ninh lên Hiệp Hoà hướng về Bắc Sơn. Các đoàn thể “Nông dân Cứu quốc”, “Thanh niên Cứu quốc”, “Phụ nữ Cứu quốc”, “Nhi đồng Cứu vong”… đã có nhiều hình thức tuyên truyền đấu tranh, nêu cao tinh thần yêu nước, yêu cách mạng, căm ghét Nhật – Pháp và tay sai, đồng thời bảo vệ an toàn cho cán bộ đi lại hoạt động.

Đầu năm 1942, đồng chí Đinh Mạnh (Ngô Thế Sơn)- Xứ ủy viên được cử về làm trưởng ban cán sự tỉnh và trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở Hiệp Hoà (thay đồng chí Nguyễn Văn Lục). Từ Hoàng Vân, đồng chí đã phát triển xây dựng cơ sở, phong trào xuống vùng hạ huyện, phát động phong trào đấu tranh của nông dân tá điền với bọn chủ, đòi giảm tô, giảm thuế. Tháng 01/1942, tên quản lý đồn điền Vát đã tự ý tăng mức tô ruộng, tô trâu lên gấp rưỡi, nông dân rất bất bình. Trước tình hình đó, đồng chí Đinh Mạnh đã phát động nông dân tá điền, kể cả các trưởng ấp kiên quyết đấu tranh. Cuối cùng bọn chủ phải chấp nhận giữ nguyên mức tô như cũ. (20)

Đây là cuộc đấu tranh kinh tế mang tính chất chính trị, có tổ chức và chỉ đạo thống nhất. Thắng lợi của cuộc đấu tranh đã cổ vũ tinh thần cách mạng của nhân dân, làm họ thấy được sức mạnh của mình khi được Đảng lãnh đạo.

Sau cuộc đấu tranh này, tháng 3/1942, Xứ uỷ Bắc Kỳ tăng cường cho Hiệp Hoà một đồng chí cán bộ nữ (đồng chí Hiên tức Ngọc) cùng đồng chí Đinh Mạnh chỉ đạo phong trào. Hai đồng chí đã tiến hành tổ chức những lớp huấn luyện ngắn ngày để đào tạo cán bộ tại chỗ cho vùng hạ huyện, đồng thời tổ chức mở một lớp huấn luyện tại Vân Xuyên và cử một số quần chúng tích cực đi học các lớp huấn luyện do Xứ uỷ tổ chức để bổ xung cán bộ cho phong trào.

Để xây dựng địa bàn, tạo thế liên hoàn vững chắc ở Hiệp Hoà và phía nam huyện Phổ Yên, Phú Bình (Thái Nguyên), Xứ uỷ Bắc Kỳ và Ban cán sự Đảng Bắc Giang đã chỉ đạo thành lập thêm hai chi bộ, đó là chi bộ nhà tù Trị Cụ (vào tháng 5/1942) và chi bộ Tiên Thù (vào tháng 6/1942) dưới sự chỉ đạo chung của Ban cán sự đảng Bắc Giang. (21) Sự ra đời của hai chi bộ này thể hiện sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của phong trào cách mạng, có ảnh hưởng trực tiếp và góp phần tích cực đối với phong trào chung ở Hiệp Hoà và các vùng phụ cận.

Sau sự kiện ở đồn điền Vát, tháng 6/1942, bọn chủ thầu ở đồn điền Cọ, lợi dụng lúc giá thóc ở thị trường lên cao, chúng bắt tá điền nộp tô bằng thóc (thay chế độ nộp tô bằng tiền). Đây là thủ đoạn rất thâm độc để bóc lột tá điền của bọn chủ thầu. Do ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chống tăng tô ở đồn điền Vát và được sự lãnh đạo của cán bộ Việt Minh, tá điền kiên quyết không nộp tô bằng thóc. Cuộc đấu tranh đồng loạt nổ ra ở cả 70 ấp trong đồn điền. Bọn chủ thầu, cấu kết với tên đồn trưởng người Pháp ở nhà tù Trị Cụ đưa lính và khoảng 100 phu về cướp thóc lúa của tá điền. Lập tức, chúng bị tá điền nhất tề nổi dậy với mọi thứ vũ khí có trong tay, khiến bọn lính rất hoảng sợ. Cuộc đấu tranh ngày càng lên cao, kéo dài mấy tháng liền, địch tăng cường bắt bớ và khủng bố, nhưng phải đến năm sau, cuộc đấu tranh mới kết thúc, gây thiệt hại lớn cho bọn chủ thầu. (*) Qua cuộc đấu tranh này, ta cũng thu được những kinh nghiệm quý về tập hợp lực lượng, phương pháp tổ chức cũng như hình thức và mục tiêu đấu tranh sao cho phù hợp, giành thắng lợi trọn vẹn hơn.

Đồng chí Đinh Mạnh và đồng chí Hiên xúc tiến thành lập “Ban đấu tranh”, “Ban tham mưu” cho những cuộc đấu tranh sau này, đồng thời thường xuyên chú trọng bồi dưỡng, thử thách, rèn luyện những nhân tố tích cực để khôi phục cơ sở đảng. Chỉ trong một thời gian ngắn, tổ chức Đảng được củng cố. Đồng chí Đinh Mạnh giới thiệu quần chúng Ngô Thị Liên (tức Diệp) vào Đảng, cùng sinh hoạt với hai đồng chí ở Ca Sơn, thành lập chi bộ ghép Hoàng Vân – Ca Sơn. Tháng 9/1942, đồng chí Nguyễn Văn Cường ra khỏi nhà tù, tiếp tục về địa phương hoạt động.

Mùa đông năm 1942, xóm Đá (Vân Xuyên), nơi có cơ sở cách mạng vững vàng, được Trung ương và Xứ uỷ chọn làm địa điểm đặt cơ quan và mở lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ ở các tỉnh Bắc Kỳ. Vị trí của xóm nằm sát sông Cầu (giáp huyện Phú Bình, Phổ Yên). Tuy là một xóm nhỏ, nhưng có tới 26 gia đình cơ sở. Đời sống của nhân dân ở đây còn nhiều khó khăn, thiếu thốn mọi bề, nhưng rất giàu tình cảm cách mạng. Với lòng yêu nước, lại sớm được giác ngộ nên nhân dân ở đây đã hết lòng bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng. Những năm 1941-1942, phong trào bị địch khủng bố ác liệt, nhưng bà con vẫn vững vàng, không hề nao núng, không sợ khó khăn, hy sinh, gian khổ, một lòng, một dạ trung kiên với Đảng, nuôi dưỡng chu đáo và bảo vệ an toàn cơ quan và cán bộ của Trung ương, của Xứ uỷ đóng ở đây.

Ngày 19/11/1942, Trung ương mở lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ các tỉnh đến học tại nhà ông Nguyễn Văn Chế (tức Hựu). Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng trực tiếp giảng dạy. Lớp học sắp kết thúc thì khoảng 4 giờ 30’ ngày 21/11/1942 bọn mật thám và lính ập đến bất ngờ. Đồng chí Trường Chinh khéo léo thoát khỏi vòng vây của địch. Đến bờ sông Cầu, đồng chí được hai bố con ông Lịnh (con gái là Vịnh), làm nghề chài lưới đưa sang bên kia sông an toàn. Một số học viên và gia đình cơ sở bị địch bắt. Chúng tra tấn bằng roi da và quay điện tại chỗ, các anh chết đi sống lại, nhưng vẫn dũng cảm chịu đựng, không ai khai báo nửa lời, một số quần chúng trong xóm bị địch khủng bố, nhưng không ai phản bội, đã hạn chế được hậu quả do địch gây ra. (22)

Xóm Đá xứng đáng với danh hiệu “Xóm Đỏ” mà các đồng chí lãnh đạo và cán bộ cách mạng hoạt động trong thời kỳ bí mật tặng cho. Nhân dân ở đây đã làm rạng rỡ thêm truyền thống kiên trung, bất khuất, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Đảng và cách mạng.

Trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng. Đảng ta rút ra kinh nghiệm là “Muốn bảo đảm sự ổn định và phát triển liên tục của phong trào cách mạng, tổ chức cách mạng và cơ quan lãnh đạo cách mạng phải có những địa bàn hoạt động tương đối an toàn”. (*) Địa bàn đó chính là An toàn khu (gọi tắt là ATK). An toàn khu phải là địa bàn thuận lợi để nắm bắt nhanh, nhạy, chính xác tình hình, để Trung ương và Xứ uỷ có thể nhận định, phân tích và đề ra chủ trương đúng đắn, kịp thời. ATK phải đảm bảo có đường dây giao thông liên lạc thông suốt, an toàn, có mạng lưới cơ sở vững vàng, có tổ chức quần chúng và lực lượng tự vệ mạnh. Hoạt động của ATK phải bảo đảm tuyệt đối bí mật, bất ngờ, cơ quan nào biết cơ quan ấy, không chồng chéo, hoạt động theo đơn tuyến, không để lộ lực lượng. Trong hoàn cảnh cụ thể vẫn tổ chức đấu tranh để giành quyền lợi thiết thực cho quần chúng, mở rộng phong trào. ATK có đội công tác riêng, hoạt động độc lập, lại phải gồm được nhiều vùng của nhiều huyện, nhiều tỉnh, gianh giới là sông ngòi hoặc địa hình phức tạp, địch không ngờ tới, hoặc hạn chế những tổn thất do địch gây ra.

Cuối năm 1941, ATK 1 được thành lập gồm khu vực xung quanh Hà Nội. Là địa bàn có nhiều thuận lợi cho việc đi lại, hoạt động của các cán bộ Trung ương, của Xứ uỷ và của tỉnh, tiếp giáp với Hà Nội và căn cứ địa Việt Bắc, lại là nơi có cơ sở cách mạng vững vàng và phát triển khá rộng, quần chúng được giác ngộ và rèn luyện, thử thách trong đấu tranh và chống khủng bố nên đầu năm 1943, Hiệp Hoà được vinh dự trở thành ATKII của Trung ương và Xứ uỷ Bắc Kỳ. Đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh được chỉ định làm trưởng ban công tác đội.(*) Hoạt động của ATKII đã tạo điều kiện cho phong trào cách mạng ở Hiệp Hoà phát triển. Quần chúng được tiếp cận nhanh chóng những chủ trương, chính sách của Đảng và của Mặt trận Việt Minh. Lực lượng tự vệ cũng được huấn luyện và trang bị khá tốt. Sự chỉ đạo của cấp trên đối với phong trào thường xuyên và chặt chẽ hơn.

Đó là những thuận lợi rất cơ bản để thúc đẩy và làm hậu thuẫn vững chắc cho phong trào cách mạng ở Hiệp Hoà phát triển sang một giai đoạn mới với những hình thức đấu tranh mới, cao hơn.

Trong suốt năm 1943, nhiều cuộc mít tinh, diễn thuyết và đấu tranh của nhân dân… được cán bộ cách mạng tổ chức, chỉ đạo đã giành được thắng lợi. Điển hình là cuộc mít tinh của nhân dân ở chợ Dật, chợ Bầu, Thanh Vân, cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Định, Đồng Áng… chống lại chính quyền thối nát của địch ở địa phương làm chúng rất hoảng sợ, không dám đàn áp phong trào.

Bước sang năm 1944, trên thế giới, phe Đồng minh đang trên đà phản công bọn phát xít. Tin chiến thắng của Liên Xô như làn gió mới thổi vào Việt Nam. Thời cơ giành chính quyền đã đến gần. Nhiệm vụ lúc này là phải gấp rút chuẩn bị lực lượng của ta về mọi mặt.

Cấp trên tăng cường cho phong trào Hiệp Hoà hai cán bộ là đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh và đồng chí Lê Thị Vĩ. (**) Đồng chí Đinh Mạnh chỉ đạo tổ chức mở 4 lớp huấn luyện ngắn ngày tại Trung Định, Mai Phong, Cẩm Hoàng và ở Thanh Vân.

Ngày 24-5-1944, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng bị địch xử bắn, Đảng chủ trương phát triển “lớp đảng viên Hoàng Văn Thụ”. Đến giữa năm 1944, tổ chức Đảng ở Hoàng Vân được củng cố và phát triển trưởng thành vững vàng hơn. (*)

Tháng 7 năm 1944, đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh thay đồng chí Đinh Mạnh, làm trưởng ban công tác đội của ATKII kiêm trưởng ban cán sự Đảng Bắc Giang.

Cũng từ tháng 7-1944 đến đầu năm 1945, Ban cán sự Đảng Bắc Giang liên tiếp mở 20 lớp huấn luyện quân sự tại Hiệp Hoà, Yên Thế, Lục Nam… Mỗi lớp có từ 20 đến 40 học viên, thời gian học từ 15 đến 18 ngày. Nội dung huấn luyện gồm có: Nhiệm vụ, phương châm công tác của quân đội cách mạng, cách sử dụng các loại vũ khí (súng, lựu đạn, mìn…), các đội tự vệ canh gác, bảo vệ lớp học cũng được xây dựng và phát triển.

Để bảo vệ và hỗ trợ phong trào, cảnh cáo bọn phản động tay sai, này 01-10-1944, đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh đã quyết định dùng lực lượng tự vệ Hoàng Vân trừng trị tên đội Vinh (đồn Hà Châu) khét tiếng gian ác, có nhiều nợ máu với nhân dân. Tên đội Vinh bị thương nặng, hai tên lính khác bị tiêu diệt đã gây tiếng vang lớn trong vùng Hiệp Hoà, Phú Bình và Phổ Yên, bọn tay sai rất sợ hãi không dám hung hăng chống phá cách mạng như trước.

Phong trào càng phát triển, yêu cầu, nhiệm vụ đối với các đội tự vệ càng cao hơn để hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy. Chính vì vậy, ngày 25-02-1945, đội tự vệ bán thoát ly đầu tiên của Hiệp Hoà được thành lập tại đình làng Vân Xuyên gồm 11 đồng chí, là những cán bộ, thanh niên dũng cảm, hăng hái, tiêu biểu nhất, do đồng chí Lê Văn Đoan (tức Thu) làm đội trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Quang (tức Nguyễn Thanh Quất) làm đội phó. Tuy trang bị còn thô sơ, nhưng tinh thần chiến đấu của toàn đội rất cao, kỷ luật nghiêm, quần chúng rất tin tưởng.

Trải qua 5 năm đấu tranh chống địch khủng bố và trở thành An toàn khu của Trung ương và của Xứ uỷ, phong trào cách mạng ở Hiệp Hoà đã từng bước trưởng thành vững chắc. Mặc cho bọn đế quốc và tay sai nhiều lần khủng bố, bắt bớ, đàn áp dã man ở các làng, xã thuộc tổng Hoàng Vân, tiêu biểu là làng Vân Xuyên (đã có 5 cán bộ đảng viên bị bắt đầy lên nhà tù Sơn La, 5 người phải trốn đi hoạt động bí mật), nhưng cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng của Mặt trận Việt Minh, các đội tự vệ vẫn ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, phát triển sâu rộng trong toàn huyện. Đấu tranh vũ trang của các đội tự vệ đã kết hợp với đấu tranh chính trị, kinh tế của nhân dân, tạo thành phong trào sôi nổi, mạnh mẽ về mọi mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nổi dậy của nhân dân giành thắng lợi quyết định khi thời cơ đến.

 

Kỳ sau đăng tiếp…

BBT hiephoa.net

Bài liên quan

Gửi bình luận