Trang chủ Tin TứcQuê hương Hiệp HoàGiới thiệu Hiệp Hòa Giới thiệu sách: LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP HOÀ (1938-2010) phần tiếp theo…

Giới thiệu sách: LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP HOÀ (1938-2010) phần tiếp theo…

Đăng bởi HiephoaNet

 

Phần thứ ba:HIỆP HOÀ TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN

CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945-1954)

I. CỦNG CỐ VÀ GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG (9/1945 – 12/1946)

Dưới chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, không khí sinh hoạt sau ngày khởi nghĩa hết sức sôi nổi. Các tệ nạn xã hội giảm hẳn. Cuộc sống trở nên vui tươi, lành mạnh và nhộn nhịp lạ thường. Cả ngày và đêm, nhân dân hăng hái tham gia các cuộc hội họp, học tập, mít tinh, tham gia tự vệ, luyện tập quân sự, canh gác, tuần tra bảo vệ xóm làng.

Nhưng, cũng như tình hình chung của cả nước, chính quyền cách mạng Hiệp Hoà mới ra đời đã phải đương đầu với biết bao khó khăn, thử thách. Nạn đói cuối năm 1944 sang đầu năm 1945 làm chết hàng trăm người vẫn đang đe doạ. Sản xuất nông nghiệp vốn đã lạc hậu, lại bị thiên tai nặng nề, làm cho đời sống nhân dân đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Hệ thống chính quyền mới thành lập từ huyện đến xã, thôn vẫn còn một bộ phận là thành phần địa chủ, cường hào nắm giữ các cương vị chủ chốt. Cán bộ và nhân dân rất nhiệt tình cách mạng, nhưng còn bỡ ngỡ với công việc. Tình hình trật tự an ninh còn phức tạp: trộm cướp vẫn xảy ra, ở thượng huyện, một số tên tham gia vào các toán phỉ; ở hạ huyện, bọn phản động lợi dụng đạo thiên chúa ra mặt hoạt động chống lại cách mạng; bọn tay sai thân Pháp nhen nhóm hoạt động gây rối khiêu khích, tranh giành ảnh hưởng… di sản văn hoá lạc hậu do chế độ thực dân phong kiến để lại rất nặng nề.

Đầu tháng 9-1945, 20 vạn quân Tưởng kéo vào nước ta, chúng mượn tiếng tước khí giới quân đội Nhật, nhưng thực chất là để thực hiện âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ” nghĩa là tiêu diệt Đảng cộng sản, bắt giữ Hồ Chí Minh. Một bộ phận quân Tưởng kéo qua Hiệp Hoà để xuống Bắc Ninh. Tuy chỉ đóng lại ở huyện một thời gian ngắn, nhưng chúng đã reo rắc bệnh tật, cướp bóc, vơ vét tài sản của nhân dân, chúng bắt ta phải nộp lương thực thực phẩm cho chúng, khuyến khích, bợ đỡ một số phần tử Quốc dân đảng phản động ngóc đầu dậy. Chúng vu cho tự vệ ta đánh chúng rồi bắt giữ một phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện. Đối với quân Tưởng, một mặt ta tự kiềm chế, không để xảy ra những vụ xung đột, mặt khác, ta lãnh đạo nhân dân đấu tranh không cho quân Tưởng cướp bóc, vơ vét tài sản, ngăn ngừa những phần tử xấu làm việc cho quân Tưởng, trừng trị một số tên phản động làm chỉ điểm cho chúng.

Khó khăn tuy nhiều, nhưng Đảng bộ và nhân dân trong huyện có những thuận lợi rất cơ bản. Đó là sự lãnh đạo rất đúng đắn sáng suốt của Đảng, sự vững vàng của đội ngũ cán bộ đảng viên đã được tôi luyện trong lò lửa đấu tranh, sẵn sàng đi đầu trong mọi nhiệm vụ, là lực lượng nhân dân làm chủ, có ý chí, quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng. Chính quyền cách mạng, tuy còn non trẻ, nhưng đã tỏ rõ là công cụ sắc bén của cách mạng do được nhân dân ủng hộ. Mặt trận Việt Minh có cơ sở rộng khắp và uy tín lớn làm hậu thuẫn.

Dựa vào những thuận lợi rất cơ bản đó, chính quyền cách mạng, cùng với đội ngũ cán bộ đảng viên trong huyện đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ.

Nhiệm vụ cấp thiết được đặt lên hàng đầu lúc này là chống giặc đói, giặc dốt, xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân.

Sau khi thu hoạch vụ chiêm xuân năm 1945, nạn đói có bị đẩy lùi, nhưng vẫn còn đe doạ nhân dân trong huyện. Thực hiện lời kêu gọi chống “giặc đói” của Hồ Chủ tịch, cả huyện đã mở cuộc vận động tăng gia sản xuất với khẩu hiệu “Tấc đất, tấc vàng”, “không bỏ một tấc đất hoang”. Phong trào thi đua sản xuất dấy lên ở khắp các xã, từ thượng huyện đến hạ huyện. Các loại rau màu ngắn ngày được trồng ở khắp nơi. Nhân dân ra sức khai hoang, phục hoá, biến những cánh đồng ngập lụt thành ruộng cấy, biến gò đồi rừng rậm thành những bãi ngô, khoai, sắn tươi tốt. Chỉ sau một năm (từ cuối 1945 đến cuối năm 1946), diện tích màu ở Hiệp Hoà đã tăng lên 1600 mẫu và sản lượng tăng trên 1.200 tấn. (*)

Chính quyền cách mạng tiếp tục lấy ruộng đất của các đồn điền chia cho nông dân, tá điền theo nghị quyết Hội nghị đại biểu nhân dân huyện ngày 08-5-1945. Các loại ruộng công, cũng được chính quyền đem chia cho nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng, đồng thời lãnh đạo nông dân và tá điền đấu tranh đòi chủ ruộng phải thi hành sắc lệnh giảm tô 25%, huy động hàng nghìn lượt người đắp các đoạn đê sông Cầu bị sạt lở trong vụ lụt năm 1945, sửa chữa hệ thống mương máng, cho những gia đình nghèo túng vay tiền để mua nông cụ, giống, trâu bò… để có điều kiện sản xuất.

Đi đôi với việc vận động tăng gia sản xuất là việc vận động tiết kiệm và quyên góp để cứu đói. Chính quyền, Mặt trận và các giới cứu quốc đã phối hợp tổ chức “Hũ gạo cứu đói”, “Ngày đồng tâm nhịn ăn”, động viên tình cảm thương yêu, đùm bọc trong nhân dân, san sẻ lúa gạo, hoa màu giúp nhau theo truyền thống “lá lành đùm lá rách”. Một trong những biểu hiện nghĩa tình ấy là bà con tá điền ở đồn điền Cọ, mặc dù đời sống còn khó khăn, nhưng vẫn dành gần 4 tạ thóc để cứu những người đói hơn mình. Đặc biệt, khi biết tin nhân dân các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ do vỡ đê, bị ngập hết nhà cửa, lúa, hoa mầu, chính quyền huyện đã đem hàng chục tấn thóc tô thu được ở các đồn điền nộp về tỉnh để giúp đỡ các nơi ngập lụt. Chính quyền cũng ban bố lệnh cấm sử dụng gạo để nấu rượu, làm quà bánh để tiết kiệm lương thực cứu đói.

Bằng những cố gắng trên đây, nạn đói dần dần đã bị đẩy lùi, sản xuất nông nghiệp được phục hồi, đời sống nhân dân dần dần được ổn định. Đây là một thắng lợi lớn của chính quyền các cấp và nhân dân trong huyện. Thắng lợi này làm nổi bật tính ưu việt của chế độ mới, làm tăng thêm lòng tin và sự gắn bó của nhân dân đối với Đảng và chính quyền.

Đáp lại lời kêu gọi “Chống giặc dốt” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào diệt giặc dốt được phát động sôi nổi trong mọi tầng lớp nhân dân trong huyện. Với khẩu hiệu: “Ai biết chữ trở thành giáo viên” “Ai chưa biết chữ trở thành học trò”, chỉ trong một thời gian ngắn, 285 lớp bình dân được tổ chức khắp các thôn xóm, thu hút gần 5.000 người đi học. Có xóm tới 4 lớp, có lớp đông tới 30-40 người, lớp ít cũng trên dưới 10 người. Người biết chữ tự nguyện làm chiến sĩ diệt dốt, người chưa biết chữ kể cả cụ già cũng hăng hái tới lớp bình dân. Buổi tối, buổi trưa, tiếng đánh vần vang vang xóm ngõ, tạo nên một nét sinh hoạt mới chưa từng có ở nông thôn. Để bồi dưỡng và động viên phong trào, nhiều xã đã tổ chức rước đuốc, diễn kịch, các buổi học ngoài trời và mở các lớp huấn luyện sư phạm ngắn ngày cho giáo viên… Tinh thần và truyền thống hiếu học của nhân dân Hiệp Hoà được khơi dậy. Đến cuối năm 1946, đã có gần 1 vạn người thoát nạn mù chữ.

Cuộc vận động đời sống mới được nhân dân nhiệt tình ủng hộ. Những hủ tục ma chay, cưới xin, các tệ nạn mê tín dị đoan như xem bói, lên đồng, đốt vàng mã… bị nghiêm cấm, nạn cờ bạc, trộm cắp giảm hẳn, đình chùa nhiều nơi được bảo quản tốt và trở thành lớp học bình dân.

Công tác y tế, tập trung truyền bá rộng rãi kiến thức về vệ sinh phòng bệnh như dịch tả, đậu mùa, sốt rét… trong nhân dân. Ở Đức Thắng, đã tổ chức một phòng phát thuốc do một y tá phụ trách, thiết thực phục vụ, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân trong vùng.

Nhằm góp phần giúp Chính phủ giải quyết khó khăn về tài chính, khắp các thôn xóm, nhân dân hăng hái tham gia đóng góp vào “Quỹ độc lập”, “Tuần lễ vàng”. Xã Hoà Bình (Đông Lỗ), nhân dân đã góp vào “Tuần lễ vàng” 50 kg bạc, thôn Bái Thượng xã Đoan Bái được 1,2kg bạc, xã Hoàng An được một mâm thau bạc trắng…, trong đó có cả những đôi khuyên, nhẫn vàng. Nhiều chị em phụ nữ đã ủng hộ cả đồ trang sức như xà tích, dây chuyền, vòng vàng…, xã Hương Lâm, chính quyền cùng nhân dân nhất trí góp 9 chiếc chuông chùa, ba bộ đỉnh hương, hạc đồng để đúc vũ khí.(*)

Để chiến thắng các thế lực phản động, khắc phục khó khăn, điều quan trọng là phải thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng và củng cố chính quyền thật vững mạnh. Tháng 10-1945, trong thư gửi Uỷ ban nhân dân các Xứ, tỉnh, huyện và xã, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở các uỷ ban phải luôn luôn nhận rõ và giữ đúng mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân. Nhà nước vừa là người dẫn đường, vừa là đầy tớ của dân. Phải chăm lo đời sống nhân dân, ra sức khắc phục những khuynh hướng sai lầm như làm ăn trái phép, hủ hoá, chia rẽ, bè phái, kiêu ngạo… Theo chỉ đạo của tỉnh, Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện và xã đã họp các thành viên đọc thư và nghiêm khắc kiểm điểm theo thư của Người, thay đổi một số thành viên không đủ tư cách, giao cho đảng viên đảm nhận các chức vụ chủ chốt. Đối với các xã, Uỷ ban nhân dân lâm thời cũng được kiện toàn, loại ra khỏi uỷ ban những phần tử phản động, có nợ máu với nhân dân chui vào chính quyền và đoàn thể, những phần tử hống hách, tham ô, hủ hoá, chống lại đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ, đưa những người có uy tín vào thay thế.

Theo chủ trương của trên, đơn vị hành chính cơ sở cũng được sắp xếp lại cho hợp lý. Trước cách mạng tháng Tám, Hiệp Hoà có 9 tổng, 51 xã, nay hợp nhất lại thành 18 xã, bỏ đơn vị tổng.

Từ tháng 12-1945, thi hành chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ về việc tổ chức Tổng tuyển cử, các tổ chức Đảng, chính quyền các cấp đã tổ chức đợt tuyên truyền, cổ động rộng khắp và chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho cuộc bầu cử. Đây là cuộc vận động rộng lớn, có tác dụng nâng cao lòng yêu nước và ý thức làm chủ của nhân dân rất mạnh mẽ.

Ngày 06-01-1946, ngày tổng tuyển cử bầu Quốc hội diễn ra như một ngày hội. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Hiệp Hoà được hưởng quyền tự do lựa chọn người thay mặt mình tham gia cơ quan quyền lực cao nhất. Ở khắp các xã, công dân từ 18 trở lên, không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo nô nức đi bầu cử, cùng với cử tri cả tỉnh lựa chọn được 4 đại biểu vào Quốc hội.(*)

Sau bầu cử Quốc hội, ngày 05-7-1946, cử tri trong huyện lại nô nức đi bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh, trong đó Hiệp Hoà được bầu 3 đại biểu (*) và ít lâu sau, lại tiến hành bầu cử HĐND xã. Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh, huyện xã đổi thành uỷ ban hành chính. Uỷ ban hành chính huyện Hiệp Hoà do đồng chí Ngô Tuấn Tùng làm chủ tịch, ông Phạm Đăng Đốc (**) làm phó chủ tịch.

Qua xây dựng và củng cố, với sự tham gia của các tầng lớp trong xã hội, chính quyền huyện và xã thực sự mang tính chất dân chủ nhân dân, do dân và vì dân.

Dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, Uỷ ban hành chính huyện, được sự giúp đỡ của nhân dân, lực lượng cảnh vệ huyện, cùng tự vệ các xã đã dập tắt các ổ cướp ở Đoan Bái, Đại Thành, Hoàng Thanh, Hoàng Vân, Thái Sơn. Xử tử một số tên cầm đầu, lập lại trật tự an ninh trong huyện. Ta đã phá tan tổ chức “Thanh niên công giáo chống cộng” ở Mai Đình, bắt tên Vũ Đình Thừa từ Bùi Chu (Ninh Bình) lên tuyên truyền, phá tan âm mưu tàng trữ vũ khí, kích động giáo dân nổi lên chống lại chính quyền cách mạng. Tại Đức Thắng, Hoàng An, Hoàng Vân và khu vực xung quanh huyện lỵ, ta triệt phá tổ chức “Thanh niên Pê-tanh” do các tên Khúc Tích (cán bộ thẩm phán huyện) và Vũ Tâm cầm đầu. Một số tên địa chủ bất mãn ở Đoan Bái tụ tập bắt giữ cán bộ huyện về công tác, đòi yêu sách đã bị nghiêm trị, xử tử hình hai tên.

Song song với nhiệm vụ chống giặc đói, giặc dốt, xây dựng và củng cố chính quyền, công tác củng cố, phát triển đảng, mặt trận và các đoàn thể cứu quốc cũng được tập trung chỉ đạo, trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn đảng bộ.

Trước tình hình vô cùng khó khăn, phức tạp và những nhiệm vụ hết sức nặng nề sau cách mạng, công tác phát triển đảng, củng cố mặt trận đóng một vị trí quan trọng, là nhân tố đảm bảo cho các nhiệm vụ cách mạng của huyện được thành công. Sau khi Ban huyện uỷ được thành lập, cơ sở đảng mới có ở Hoàng Vân (Hoàng Liên, Vân Xuyên, Lạc Yên, Thanh Vân), khu vực ấp Ba huyện và Trung Định với tổng số trên 20 đảng viên.

Để tăng cường sức chiến đấu của Đảng, công tác phát triển Đảng được hết sức quan tâm. Ngày 06-1-1946, Ban huyện uỷ đã tổ chức một đợt kết nạp đảng viên mới ở Hoàng Vân cho gần 10 đồng chí ở các xã. Sau đợt này, các chi bộ tổ chức kết nạp thêm được nhiều đảng viên mới, thành lập các chi bộ ghép liên xã. Đến giữa năm 1946, cơ sở Đảng đã có ở Đông Lỗ, Danh Thắng, Đức Thắng, Hương Lâm, Mai Đình… Đến cuối năm 1946, hầu hết các xã đã có cơ sở đảng, tổ chức thành chi bộ riêng hoặc chi bộ ghép với số lượng đảng viên gồm 56 đồng chí, gấp gần ba lần khi cách mạng mới thành công.

Thi hành chủ trương của Đảng về củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng mặt trận, đến cuối năm 1945, hầu hết các xã, thôn đều thành lập Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc. Hệ thống Mặt trận đã hình thành rõ rệt và được kiện toàn từ huyện đến xã (Huyện bộ Việt Minh, xã bộ Việt Minh).

Nhằm tập hợp lực lượng yêu nước và dân chủ, Mặt trận Việt Minh huyện, xã được mở rộng thành phần. Nhiều người thuộc tầng lớp trên, trí thức được mời tham gia. Tháng 5-1946, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) được thành lập. Cuối năm 1946, Mặt trận Liên Việt Hiệp Hoà được thành lập bao gồm các tổ chức, đảng phái, cá nhân yêu nước chưa tham gia Mặt trận Việt Minh. Các giới cứu quốc (thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, nông dân cứu quốc) phát triển rộng khắp ở các xóm thôn. Có xã các tổ chức cứu quốc chiếm tới 41% dân số của xã. Để giữ vững sự đoàn kết trong Mặt trận và vai trò lãnh đạo của đảng đối với Mặt trận, nhiều đảng viên và các thân hào, nhân sỹ tiến bộ đã được cử giữ các cương vị chủ chốt của Mặt trận huyện, xã, đồng thời ta cũng đưa ra khỏi cương vị lãnh đạo một số phần tử xấu, địa chủ, cơ hội chui vào tổ chức như Dương Quang Tuân, Phó Chủ tịch Liên Việt Huyện.

Do chú trọng lãnh đạo công tác mặt trận nên Mặt trận đã tập hợp đông đảo quần chúng tham gia. Đến cuối năm 1946, Mặt trận Việt Minh huyện đã có 12.251 hội viên, đây là chỗ dựa đáng tin cậy trong cuộc đấu tranh bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng.

Trong công tác củng cố và xây dựng lực lượng vũ trang, bên cạnh các đội tự vệ làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự ở các xã, Uỷ ban dân tộc giải phóng huyện còn thành lập một trung đội cảnh vệ làm nhiệm vụ an ninh khu vực trung tâm huyện lỵ.

Ngày 22-9-1945, quân Pháp trở lại xâm lược nước ta, đánh chiếm Nam Bộ, Đảng, Chính phủ và Mặt trận Việt Minh phát động trong cả nước một phong trào ủng hộ cuộc kháng chiến anh dũng của đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ, đồng thời tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu của thực dân Pháp mở rộng chiến tranh ra cả nước. Nhân dân Hiệp Hoà sôi sục căm thù đã tiễn đưa hàng chục con em tham gia đoàn quân Nam Tiến của tỉnh vào Nam chiến đấu. Ở nhiều địa phương cơ sở Đảng và chính quyền đã tổ chức quyên góp thuốc men, quần áo, vũ khí gửi vào giúp đồng bào Nam Bộ.

Từ khi thay quân Tưởng Giới Thạch vào chiếm đóng một số nơi ở miền Bắc nước ta, thực dân Pháp ngày càng lộ rõ ý đồ xâm lược nước ta lần thứ hai. Ở Bắc Giang, quân Pháp đã nhiều lần khiêu khích ở Việt Yên …

Trước tình hình trên, Đảng bộ và chính quyền huyện đã lãnh đạo nhân dân khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến. Công tác xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang được tiến hành gấp rút. Nhiều hội viên hăng hái, nhiệt tình trong thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, nông dân cứu quốc được lựa chọn, bổ sung vào lực lượng vũ trang. Vì vậy, các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu ra đời từ thời tiền khởi nghĩa phát triển rất nhanh, đến cuối năm 1946, tổng số dân quân, tự vệ trong toàn huyện có 422 người, trung bình mỗi xã có một trung đội tự vệ, có xã thành lập hai trung đội.

Phong trào mua sắm, rèn đúc vũ khí sôi nổi trong mọi tầng lớp nhân dân. Những người nghèo thì góp con dao, thanh sắt, người giàu thì góp tiền mua súng trường, súng kíp, mìn, lựu đạn… ủng hộ dân quân tự vệ, bộ đội. Xã Quyết Thắng (Hoàng Thanh, Hoàng Lương) nhân dân đã quyên góp mua được 12 khẩu súng trường trang bị cho dân quân, xã Đông Lỗ, dân quân được trang bị một trung liên và 7 súng trường. Ngoài số vũ khí do dân trang bị, dân quân tự vệ còn được tỉnh cung cấp, trang bị một số súng, lựu đạn, mìn, lưỡi lê… nên các trung đội dân quân tự vệ và các xã hầu hết được trang bị súng trường, lựu đạn, kiếm, mã tấu…

Phong trào luyện tập quân sự được phát động rầm rộ trong lực lượng vũ trang và toàn dân, từ các xã thượng huyện, đến các xã hạ huyện, đâu đâu cũng thấy tự vệ các thôn, xóm, các ngành, các giới, đủ các lứa tuổi luyện tập quân sự. Các cụ phụ lão, các cháu thiếu nhi không tham gia luyện tập thì đun nước, nấu cơm, khâu vá quần áo cho chiến sỹ. Làng chiến đấu được xây dựng ở nhiều nơi, tiêu biểu như làng chiến đấu Hòe Liễu (ở Đức Thắng)… được xây dựng kiên cố, rào kín, có công sự, ụ súng, ổ mìn, cạm bẫy. Những khu đồi trống ở Đức Thắng, Hoàng An, Hùng Sơn, Danh Thắng, Lương Phong, ta đào hố đóng cọc đề phòng địch nhảy dù, ở các đỉnh đồi đặt trạm gác báo động.v.v…

Trong giai đoạn đầu non trẻ của chính quyền dân chủ nhân dân, lực lượng vũ trang của huyện xứng đáng là lực lượng nòng cốt, bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội, chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trong thế trận chiến tranh nhân dân và lòng quyết tâm bảo vệ quê hương, đất nước.

Tháng 9/1946 đồng chí Hồ Năm được Tỉnh ủy điều về làm Bí thư Huyện ủy thay đồng chí Phạm Yên chuyển đi công tác khác.

II. TIẾP TỤC CỦNG CỐ MỌI MẶT CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN LÂU DÀI

Đúng như Đảng ta dự đoán, thực dân Pháp trước sau vẫn âm mưu xâm lược nước ta. Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, toàn dân Việt Nam đứng lên kháng chiến, kiên quyết giữ vững độc lập, thống nhất của dân tộc, bảo vệ và phát triển những thành quả của cách mạng tháng Tám. Sáng ngày 20-12-1946, Hồ Chủ tịch kêu gọi… “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.

Không ! chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm không có gươm thì dùng cuốc thuổng gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước”…(*)

Ngày 22-12-1946, Trung ương Đảng ra chỉ thị Toàn dân kháng chiến, nêu rõ mục đích, tính chất của cuộc kháng chiến và chương trình hành động chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Bản chỉ thị khẳng định đây là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh. Khẩu hiệu lúc này là: “Mỗi phố là một mặt trận, mỗi làng là một pháo đài”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”. Đầu năm 1947, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng viết cuốn Kháng chiến nhất định thắng lợi để giải thích rõ chiến lược, sách lược và phương châm đường lối kháng chiến của Đảng ta.

Đường lối kháng chiến của Đảng là kim chỉ nam để đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà bước vào cuộc kháng chiến.

Trong hơn một năm (từ tháng 8-1946) Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà đã thu được nhiều kết quả trong các lĩnh vực công tác, nhưng việc chuẩn bị cho kháng chiến còn những mặt non yếu (lực lượng vũ trang mới được xây dựng, trang bị vũ khí thô sơ, thiếu thốn, đời sống nhân dân còn nghèo, kinh tế gặp rất nhiều khó khăn…).

Căn cứ vào đường lối kháng chiến của Trung ương Đảng và tình hình cụ thể của địa phương, Đảng bộ xác định nhiệm vụ trung tâm, xuyên suốt lúc này là xây dựng đảng bộ vững mạnh làm hạt nhân lãnh đạo kháng chiến, đó là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến, nhiệm vụ hết sức nặng nề, lực lượng đảng viên trong đảng bộ lại quá ít, do đó, công tác phát triển đảng được coi là nhiệm vụ hàng đầu của đảng bộ.

Theo chủ trương của Tỉnh uỷ Bắc Giang, Đảng bộ xác định phương hướng nhiệm vụ xây dựng Đảng là tích cực củng cố phát triển Đảng, liên hệ mật thiết với quần chúng, có cơ sở vững chắc ở các địa bàn quan trọng, phát triển phải đi đôi với củng cố, tích cực xây dựng chi bộ đủ sức lãnh đạo mọi mặt hoạt động ở địa phương.

Thực hiện phương hướng, nhiệm vụ trên, năm 1947, đảng bộ đã đẩy mạnh công tác phát triển Đảng ở khu vực nông thôn, nhất là những xã dọc sông Cầu và xung quanh huyện lỵ. Hướng phát triển tập trung vào bần cố nông, dân quân du kích và đặc biệt là phụ nữ. Những quần chúng được kết nạp vào Đảng phần lớn là những hội viên của các tổ chức cứu quốc đã được tuyên truyền giác ngộ và thử thách qua công tác. Riêng đợt phát triển đảng viên “lớp tháng Tám” đã kết nạp 59 đồng chí.

Tháng 11/1947, đồng chí Dương Quốc Cẩm được Tỉnh ủy điều về làm Bí thư Huyện ủy thay đồng chí Hồ Năm chuyển về tỉnh nhận công tác khác. Tháng 7/1948, Tỉnh uỷ điều đồng chí Phương Minh Nam về làm Bí thư Huyện uỷ thay đồng chí Dương Quốc Cẩm. Do yêu cầu công tác cán bộ, tháng 8/1948  Tỉnh uỷ điều đồng chí Nguyễn Văn Bổn làm Bí thư Huyện uỷ thay đồng chí Phương Minh Nam nhận công tác khác.

Phát huy kết quả đã đạt được của năm 1947, năm 1948, công tác phát triển Đảng trở thành nhiệm vụ thường xuyên, có kế hoạch cụ thể. Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (tháng 6-1948) đã giao chỉ tiêu cho Đảng bộ Hiệp Hoà phải phát triển hơn nữa trong 6 tháng cuối năm, cho nên, công tác phát triển Đảng càng được đẩy mạnh. Tất cả các chi bộ đều coi đó là nhiệm vụ hàng đầu. Hầu hết các cơ quan, đơn vị bộ đội địa phương huyện có chi bộ riêng hoặc chi bộ ghép. Đến cuối năm 1948 số lượng đảng viên của đảng bộ đã tăng lên 721 đồng chí.

Bước sang năm 1949, công tác phát triển Đảng vẫn là nhiệm vụ trung tâm và phát triển với tốc độ nhanh hơn. Chỉ riêng quý I-1949, đảng bộ đã kết nạp 180 đồng chí, nâng tổng đảng viên lên 901 đồng chí, (*) gấp trên 16 lần khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Do phát triển mạnh vào lực lượng cơ bản của cách mạng, nên số đảng viên thuộc thành phần bần cố, trung nông chiếm 818 đồng chí (90,7%). Đảng viên nữ cũng chiếm tỷ lệ đáng kể (67 đồng chí). Kết quả đó đã thiết thực tăng cường cho công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc ở địa phương.

Tuy nhiên, do nhận thức về công tác phát triển đảng còn hạn chế nên có tình trạng phát triển ồ ạt, giao khoán, thiếu thận trọng. Nhiều nơi đã hạ thấp tiêu chuẩn đảng viên hoặc vi phạm nguyên tắc, nhiều nơi kết nạp cả địa chủ, cường hào, có nợ máu với nhân dân, (**) làm cho chất lượng đảng viên mới kết nạp còn nhiều yếu kém.

Đi đôi với phát triển đảng viên mới, đảng bộ hướng công tác củng cố đảng vào việc xây dựng chi bộ tự động công tác để có đủ sức lãnh đạo mọi mặt hoạt động ở địa phương. Thực hiện khẩu hiệu “Tất cả cho các xã. Đi xuống tận chi bộ. Tất cả cho chi bộ. Tất cả vì chi bộ”, (***) huyện uỷ và các ban trực thuộc đã thay nhau xuống chi bộ kiểm tra, đôn đốc và giúp đỡ chi bộ trong việc thi hành chỉ thị, nghị quyết của cấp trên.

Trong quá trình củng cố, xây dựng, đảng bộ đặc biệt chú trọng đến các mặt sinh hoạt, công tác, học tập của đảng viên, của chi bộ. Về sinh hoạt, đảng bộ ra Nghị quyết yêu cầu các chi bộ phải sinh hoạt đúng kỳ, có nội dung thiết thực, phải nâng cao ý thức tự chỉ trích, bài trừ các bệnh chủ quan, thủ tiêu đấu tranh. Phải luôn luôn thống nhất về ý chí và hành động. Về công tác và học tập, phải mạnh dạn giao việc cho đảng viên, gây phong trào học tập và thi đua trong công tác trong các chi bộ và đảng viên. Ngày 31/7/1949, toàn thể các chi bộ họp để phát động chương trình thi đua đào tạo cán bộ, học tập lý luận. Huyện uỷ cử hàng chục cán bộ cơ sở theo học các lớp đào tạo chuyên môn của tỉnh, một số đồng chí theo học lớp chi uỷ viên để tiến tới kiện toàn các ban chi uỷ cả về số lượng và chất lượng.

Qua giáo dục và rèn luyện, phần lớn các đảng viên đã thấy rõ vai trò, nhiệm vụ của mình thực sự hoà mình với quần chúng, gắn bó mật thiết với phong trào và đi đầu trong mọi nhiệm vụ. Trong công tác cũng như trong chiến đấu, xuất hiện những đảng viên kiên cường, dũng cảm, không sợ khó khăn, lăn lộn với phong trào, được nhân dân tin tưởng và yêu mến. Những đồng chí này đã được huyện uỷ gửi thư khen và tuyên dương trong toàn Đảng bộ.

Năm 1949, theo chủ trương của Khu uỷ và Tỉnh uỷ Bắc Giang, huyện uỷ Hiệp Hoà đã tổ chức tuần lễ học tập và kiểm điểm, phê bình, chỉ trích cho đảng viên theo nội dung thư của Hồ Chủ tịch, từ ngày 30-3 đến 05-4-1949. Trong đợt sinh hoạt này, những bệnh phổ biến như địa phương chủ nghĩa, quan liêu, mệnh lệnh, chấp hành kỷ luật không nghiêm… bị phê phán nghiêm khắc. Những đảng viên vi phạm kỷ luật, đảng bộ xử lý kịp thời, có tác dụng giáo dục rõ rệt và nâng cao sức chiến đấu của Đảng bộ.

Ba năm củng cố và xây dựng đảng bộ đã đem lại những kết quả thật to lớn. Từ chỗ cơ sở đảng chỉ có 56 đảng viên, đến nay đội ngũ đảng viên đã lớn lên vượt bậc, có cơ sở đến tận làng, xã, đơn vị bộ đội, cơ quan, đảng viên có trong tất cả các giới, các ngành, làm cho Đảng thực sự bắt rễ trong nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Nhưng cuộc kháng chiến trong thời kỳ mới đặt ra cho đảng bộ những nhiệm vụ hết sức nặng nề về tổ chức hậu phương kháng chiến vững mạnh, đảm bảo cho đảng bộ đủ sức lãnh đạo phát triển sản xuất, xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang… động viên hết thảy mọi lực lượng của quê hương phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của cuộc kháng chiến.

Tháng 4 năm 1949, Đại hội lần thứ nhất đảng bộ huyện Hiệp Hoà khai mạc (thôn Hạnh Thượng, xã Hoà Bình, nay là xã Đông Lỗ) 70 đại biểu, thay mặt cho trên 900 đảng viên về dự đại hội. Đại hội đã kiểm điểm công tác lãnh đạo từ ngày khởi nghĩa giành chính quyền tới nay, khẳng định những thắng lợi mà đảng bộ và nhân dân trong huyện đã giành được trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ chính quyền, những năm đầu của cuộc kháng chiến, đồng thời chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm trong đảng bộ, nhất là công tác xây dựng Đảng và những nguyên nhân cơ bản của tình hình; Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ trong thời gian trước mắt, tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng đảng, chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy mạnh sản xuất… Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành đảng bộ gồm 14 đồng chí (4 đồng chí trong Ban Thường vụ Huyện uỷ) đồng chí Nguyễn Văn Bổn được bầu làm Bí thư Huyện uỷ, đồng chí Nguyễn Giảng làm chủ tịch uỷ ban kháng chiến hành chính huyện. Đây cũng là một thắng lợi đánh dấu bước trưởng thành mới của đảng bộ để đảm đương những trọng trách hết sức nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang, đóng góp nhiều hơn nữa vào sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta đến thắng lợi.

Cùng với công tác xây dựng Đảng, công tác củng cố chính quyền cũng được hết sức coi trọng. Nhằm phát huy vai trò và hiệu lực của chính quyền dân chủ nhân dân, đảng bộ chủ trương củng cố chính quyền về mọi mặt làm cho chính quyền trở thành lợi khí sắc bén để thực hiện các chính sách, chủ trương kháng chiến, kiến quốc của Đảng và Chính phủ.

Năm 1947, Uỷ ban kháng chiến và uỷ ban hành chính cấp huyện và xã đổi thành Uỷ ban kháng chiến hành chính. Trước sự phát triển nhiều mặt của cuộc kháng chiến, một số cơ quan chuyên môn của huyện cũng được thành lập như huyện đội bộ dân quân, công an, kinh tế…

Để nâng cao hiệu lực của chính quyền, việc chấn chỉnh, bổ sung người vào Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện và xã cũng được tiến hành thường xuyên. Các xã đã lựa chọn những người nhiệt tình và có năng lực công tác thay thế những người yếu kém về năng lực, chây lười, hống hách với nhân dân. Sau chấn chỉnh, bộ máy chính quyền đã hoạt động đều, không còn những uỷ viên có tính chất tượng trưng, chỉ đoàn kết một chiều hơn là thực sự làm việc.

Tháng 5-1949, theo chỉ đạo của trên, đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân xã khoá II. Sau bầu cử, Hội đồng nhân dân các xã cử ra Uỷ ban kháng chiến hành chính xã. Sau một thời gian hoạt động, Uỷ ban kháng chiến hành chính xã đều hoạt động vững chắc, làm việc có uy tín với nhân dân.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, đảng bộ đã tiến hành chấn chỉnh đảng đoàn chính quyền huyện, cử một đồng chí huyện uỷ viên sang phụ trách, bổ sung một số uỷ viên uỷ ban và cử một uỷ viên uỷ ban kháng chiến hành chính huyện vào phái đoàn củng cố Việt Bắc.

Đi đôi với kiện toàn về tổ chức, đảng bộ còn chú ý nâng cao năng lực hoạt động của chính quyền thông qua việc tổ chức bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ cho các uỷ viên uỷ ban kháng chiến hành chính huyện và xã. Phần lớn các uỷ viên Hội đồng nhân dân và uỷ ban kháng chiến hành chính xã đều qua các lớp huấn luyện của tỉnh, một số cán bộ của huyện cũng được cử đi đào tạo, bồi dưỡng tại các lớp của Trung ương và Liên khu. Đảng bộ còn mở cuộc vận động sửa đổi lề lối làm việc để giúp cán bộ nâng cao quan điểm phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, xây dựng tác phong công tác sâu sát thực tế, khắc phục các bệnh quan liêu, cục bộ… Các uỷ viên uỷ ban kháng chiến hành chính huyện được phân công thường xuyên xuống các địa phương thực hiện chế độ kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn công tác, giúp đỡ cơ sở giải quyết khó khăn.

Qua củng cố, chính quyền ngày càng thể hiện rõ tính chất chuyên chính của giai cấp công nông và tính chất nhân dân rộng rãi, phát huy được vai trò và hiệu lực trong xây dựng lực lượng kháng chiến, bồi dưỡng sức dân, tổ chức, động viên quân và dân trong huyện sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng được những yêu cầu của cuộc kháng chiến đặt ra.

Công tác củng cố khối đại đoàn kết toàn dân được chú trọng. Mặt trận Việt Minh đã có hệ thống từ huyện đến thôn. Số lượng hội viên tăng nhanh, chỉ riêng quý I-1949 đã tăng thêm 7454 hội viên, đưa tổng số hội viên của Mặt trận Việt Minh lên tới 16.354 hội viên. Các tổ chức thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, nông dân cứu quốc… đã thống nhất vào Mặt trận Việt Minh theo hệ thống dọc từ xã lên huyện, đồng thời kiện toàn Ban chấp hành Mặt trận các cấp và ban chấp hành các giới. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Huyện uỷ đã cử một đồng chí cấp uỷ sang làm chủ nhiệm Việt Minh và thành lập đảng đoàn các giới Cứu Quốc.

Cuối năm 1949, thực hiện chủ trương của Trung ương và Liên khu, Mặt trận Việt Minh và Liên Việt thống nhất thành Mặt trận Liên Việt. Đây là lực lượng chính trị hùng hậu, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở công nông liên minh, làm hậu thuẫn đắc lực cho đảng bộ và chính quyền trong cuộc kháng chiến. Mặt trận Liên Việt tuy mới ra đời, nhưng phát triển nhanh, bao gồm các tổ chức đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, những nhân sỹ, kỳ hào… và có hệ thống từ huyện đến xã.

Đi đôi với củng cố về tổ chức, công tác giáo dục chính trị, nâng cao lòng yêu nước, chí căm thù giặc và tinh thần quyết tâm kháng chiến cho hội viên được tăng cường. Quý I-1949, huyện đã mở 6 lớp huấn luyện cho 174 hội viên, các xã đã mở 35 lớp cho 645 học viên, thời gian học từ 5-10 ngày. Bên cạnh đó, các giới cứu quốc cũng mở những lớp huấn luyện riêng, đồng thời, thông qua các kỳ sinh hoạt để giáo dục, động viên hội viên tham gia công tác khác như vào dân quân, du kích, xung phong tòng quân, đóng góp quỹ kháng chiến…

Việc tranh thủ lôi kéo những người tiến bộ thuộc tầng lớp trên cũng được tích cực thực hiện. Mặt trận đã có nhiều hình thức vận động và thu hút họ vào các tổ chức thích hợp, đưa những người tiêu biểu tham gia ban chấp hành mặt trận các cấp.

Tháng 3-1949, hưởng ứng lời kêu gọi thi đua ái quốc của Hồ Chủ tịch: “Người người thi đua, ngành ngành thi đua; ngày ngày thi đua; ta nhất định thắng, địch nhất định thua”. (*) Mặt trận Việt Minh và Liên Việt đã phát động phong trào thi đua: Nông dân hăng hái tăng gia sản xuất, bộ đội, dân quân, du kích hăng hái luyện quân lập công.

Hưởng ứng phong trào, nông dân đã tích cực khai hoang, phục hoá, chăm sóc lúa, hoa màu, đưa diện tích và sản lượng lúa, màu lên cao. Vụ mùa năm 1949, sản lượng lúa của huyện tăng 25%.

Bộ đội, dân quân, du kích hăng hái luyện tập quân sự, sẵn sàng chiến đấu. Hàng nghìn thanh niên ghi tên tòng quân, hàng trăm thanh niên trúng tuyển lên đường nhập ngũ, đặc biệt, tuy là huyện có ít đồng bào công giáo, nhưng cũng có 25 thanh niên tòng quân trong quý I-1949.

Các cụ phụ lão tuy tuổi cao sức yếu, không trực tiếp tham gia sản xuất, đánh giặc, nhưng hăng hái động viên con cháu, làng xóm sản xuất, khâu vá quần áo cho bộ đội, dân quân du kích, vận động nhân dân đỡ đầu bộ đội, bán thóc gạo cho Hồ Chủ tịch khao quân nhân dịp Quốc khánh 2-9.

Do những cố gắng và thành tích đã đạt được trong phong trào thi đua ái quốc, Hiệp Hoà đã được phái đoàn kiểm tra và uý lạo dân chúng của tỉnh khen ngợi, được tuyên dương trong toàn tỉnh về thành tích thi đua sản xuất và đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến.

Xây dựng lực lượng vũ trang lúc này đặt ra hết sức khẩn trương. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, đảng bộ chủ trương phải gấp rút củng cố và phát triển lực lượng vũ trang theo hướng chấn chỉnh tổ chức dân quân, phát triển lực lượng du kích, xây dựng lực lượng vũ trang tập trung, sẵn sàng chiến đấu chống địch.

Đầu năm 1947, thực hiện chủ trương của Trung ương, lực lượng tự vệ và tự vệ chiến đấu thống nhất lại thành đoàn quân du kích, đồng thời thành lập huyện đội bộ dân quân, xã đội bộ dân quân để thống nhất tổ chức, chỉ huy từ trên xuống dưới. Những người ở độ tuổi từ 18 đến 45 đều có nghĩa vụ vào dân quân đánh giặc giữ làng.

Lực lượng du kích được quan tâm xây dựng cả về số lượng và chất lượng. Mỗi xã có từ 1 đến 2 trung đội. Mỗi thôn một tiểu đội từ 7 đến 15 người, mỗi xóm một tiểu đội từ 3 đến 5 người. Các xã còn tổ chức các đội lão du kích, nữ du kích.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, đảng bộ đã tăng cường phát triển Đảng trong dân quân du kích, đưa đảng viên vào du kích để số lượng đảng viên chiếm 1/3 số lượng du kích. Bí thư hoặc chi uỷ viên có năng lực quân sự trực tiếp làm chính trị viên xã đội. Tuy nhiên, trong việc bố trí đưa đảng viên vào du kích, còn có trường hợp ta tuyển lựa, cân nhắc chưa kỹ, chỉ cốt sao đưa vào đủ số lượng, nên dẫn đến tình hình “kém tinh thần gương mẫu, trước khi đưa vào không nói rõ nhiệm vụ phải làm gì, nên khi vào rồi chỉ có tính cách tượng trưng nhiều hơn là hoạt động”. (*)

Ngoài lực lượng dân quân du kích, huyện đã xây dựng lực lượng du kích tập trung gồm 2 trung đội. Trong hoàn cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, đây là một trong những cố gắng lớn của đảng bộ và nhân dân trong huyện.

Tháng 4-1949, Hồ Chủ tịch ra sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương. Tháng 8-1949, Ban thường vụ Trung ương ra chỉ thị xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân. Từ đây, lực lượng du kích tập trung của huyện đổi thành bộ đội địa phương. Theo chủ trương của tỉnh, các huyện phải củng cố số du kích tập trung hiện có, tiến tới mỗi huyện phải xây dựng một đại đội bộ đội địa phương.

Thực hiện chỉ thị của Bộ tổng chi huy quân đội Quốc gia Việt Nam, tỉnh đội đã phát động phong trào thi đua “Luyện quân lập công” (vào đầu năm 1948). Tháng 9/1949 Đại đội địa phương quân được thành lập đã tổ chức các đợt luyện quân lập công nhằm nâng cao trình trình độ tác chiến, tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Về chính trị, cán bộ và chiến sỹ được giáo dục những điểm cơ bản về bản chất và nhiệm vụ của quân đội cách mạng qua học tập đường lối kháng chiến của Đảng, 12 lời thề, 12 điều kỷ luật của quân đội cách mạng… Về quân sự, bộ đội và du kích được huấn luyện những nét cơ bản về chiến thuật đánh du kích, cách phối hợp chiến đấu, kỹ thuật bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn… Dân quân học thêm cách sử dụng vũ khí thô sơ, xây dựng làng chiến đấu. Đây là đợt huấn luyện quân sự lớn, toàn bộ lực lượng vũ trang huyện tham gia, khí thế luyện quân rất sôi nổi. Ở khắp nơi: đồng ruộng, đồi bãi, sân đình, luỹ tre… đều biến thành thao trường. Huyện thường xuyên tổ chức các buổi báo động, tập dượt hành quân trong thực tế chiến đấu. Theo mệnh lệnh của trên, từ năm 1948 – 1949 bộ đội địa phương và du kích các xã lần lượt điều đi chiến đấu ở Lục Ngạn để rèn luyện, làm quen với chiến trường, nâng cao kỹ thuật và tinh thần chiến đấu.

Công tác hậu cần cho bộ đội địa phương cũng được các cấp uỷ hết sức quan tâm. Ngày 10-4-1949, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh triệu tập hội nghị quân dân chính để thành lập Ban cấp dưỡng bộ đội địa phương và dân quân du kích. Sau hội nghị, uỷ ban kháng chiến hành chính huyện đã triệu tập hội nghị quân dân chính để thảo luận kế hoạch thành lập Ban cấp dưỡng huyện gồm trên 12 người là đại biểu cho các ngành, các giới, một số thân hào do một đồng chí trong đảng đoàn chính quyền phụ trách.

Trong điều kiện kháng chiến, việc đảm bảo ăn mặc cho bộ đội chủ yếu dựa vào dân và các đoàn thể cứu quốc. Với khẩu hiệu: “Quân của dân”, thông qua các tổ chức “Hội bảo trợ du kích”, “Hội mẹ chiến sỹ”, các đoàn thể cứu quốc đã vận động những gia đình giàu, có điều kiện, ủng hộ tiền gạo và nhận đỡ đầu chiến sỹ. Ban cấp dưỡng huyện đã vận động mỗi hội viên tổ chức quần chúng góp 1,8 đồng (tương đương một cân gạo) một tháng để lấy tiền ủng hộ bộ đội. Có xã đã cấy 2 mẫu ruộng lúa cho bộ đội. Các xã, thôn đều phát động nhân dân trồng luống rau bộ đội, dành riêng chum tương bộ đội, lọ gạo kháng chiến, được nhân dân trong huyện nhiệt liệt hưởng ứng, tham gia rất nhiệt tình. Trong năm 1949, nhân dân đã đóng góp 35 tạ gạo cho bộ đội… Hội phụ nữ cứu quốc, Hội mẹ chiến sỹ đã đảm nhận phần lớn công việc động viên, chăm sóc bộ đội, nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh, tạo thành mối quan hệ quân dân “như cá với nước”, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang trong huyện ngày càng trưởng thành, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương.

Quán triệt chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc của Đảng, đảng bộ, chính quyền các cấp đã chăm lo phát triển sản xuất nông nghiệp nhằm đảm bảo đời sống nhân dân và đóng góp một phần cho kháng chiến. Phong trào khai hoang, phục hoá, tăng vụ, chăm bón lúa và hoa màu, chăn nuôi được đẩy mạnh.

Sản xuất nông nghiệp trong những năm đầu kháng chiến gặp rất nhiều khó khăn. Nạn hạn hán đầu năm 1948 rồi lụt, úng giữa năm làm cho diện tích, năng suất lúa và hoa màu đều giảm. Vụ chiêm năm 1949, hạn hán kéo dài, lại bị sâu bọ phá hoại nên sản lượng lương thực của huyện giảm 50%.

Để phát triển sản xuất nông nghiệp, huyện đã lập ban khuyến nông chuyên lo việc vận động và hướng dẫn sản xuất, huy động tín dụng cho nông dân vay tiền để mua nông cụ, trâu bò, huy động 8.600 ngày công và trên 7.000 đồng để bồi đắp, sửa sang các quãng đê xung yếu, sửa chữa và nạo vét hệ thống nông giang. Ty khuyến nông đã cấp cho huyện hàng chục tấn thóc giống, hàng chục cân hạt bông để sản xuất, củng cố và mở rộng những vùng trồng dâu nuôi tằm ở các vùng ven sông Cầu.

Nhờ những cố gắng đó, huyện đã khắc phục được một phần những khó khăn do thiên tai gây ra. Vụ mùa năm 1949, do thời tiết thuận, lại được sự hỗ trợ của huyện, sản lượng thóc của Hiệp Hoà tăng lên 25%.

Việc cấp ruộng cho tá điền và nông dân thiếu ruộng tiếp tục được tiến hành. Chính quyền và các đoàn thể quần chúng đã vận động tá điền, nông dân đấu tranh với chủ điền phải thực hiện giảm tô theo đúng sắc lệnh của chính phủ. Gần 90% diện tích ruộng phát canh trong huyện, chủ điền đã thực hiện giảm tô, chỉ còn một số phú nông và nhà chung chưa thi hành triệt để. Trong khi thực hiện chính sách giảm tô, một số địa phương đã phạm sai lầm “tả khuynh” như đấu tranh quá mạnh, hoặc “hữu khuynh”, thoả hiệp với chủ điền, dây dưa hoặc thực hiện không đúng mức giảm tô. Để kịp thời ngăn ngừa những hành dộng đó, đảng bộ đã phê phán những địa phương làm sai chính sách và hướng dẫn những biện pháp, việc làm cần thiết cho các địa phương.

Công tác văn hoá, giáo dục, y tế cũng được quan tâm. Trong những năm đầu kháng chiến, công tác giáo dục tập trung vào nhiệm vụ triệt để xoá nạn mù chữ, mở mang ngành giáo dục phổ thông.

Về thanh toán nạn mù chữ, huyện đã chỉ đạo sâu sát ngành bình dân học vụ và các đoàn thể để vận động nhân dân đi học, kết hợp với kiểm tra, kiểm soát người mù chữ. Trong hai năm 1946-1948, phong trào diệt giặc dốt lên rất cao. Đến cuối năm 1949, toàn huyện có hơn 80% số người ở độ tuổi cần thanh toán đã biết đọc, biết viết.

Về giáo dục phổ thông, số trường lớp phát triển vì số người tản cư lên huyện ngày càng đông. Ở nhiều nơi, chính quyền đã vận động nhân dân tham gia giải quyết khó khăn về trường, lớp, bàn ghế. Nhiều xã đã tự đóng bàn ghế, góp tiền, gạo, tìm thầy dạy học. Các gia đình túng thiếu cũng cố gắng cho con em đến trường. Trong huyện có một số trường tiểu học được thành lập, cả huyện có trên 1.500 học sinh. Năm học 1948-1949, chương trình giáo dục được cải tiến đã nâng chất lượng giảng dạy và học tập lên một bước. Mặc dù chưa đáp ứng được yêu cầu của nhân dân, nhưng nền giáo dục mới đã góp phần tích cực vào việc đào tạo một đội ngũ học sinh có đạo đức, có kiến thức, có sức khoẻ cung cấp cho kháng chiến.

Ngành văn hoá thông tin cũng bắt đầu hình thành và hoạt động. Mạng lưới thông tin có từ huyện xuống xã. Mặc dù còn rất non trẻ, nhưng được đảng bộ và chính quyền quan tâm chỉ đạo, ngành đã hướng công tác vào nhiệm vụ phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân thông qua các hoạt động truyền tin, tuyên truyền đường lối, chính sách cổ động cho phong trào thi đua ái quốc. Các cuộc triển lãm tranh ảnh, kẻ khẩu hiệu tuyên truyền về thắng lợi của cuộc kháng chiến, tăng gia sản xuất, thi đua tòng quân…, các buổi diễn kịch, ca hát… đã đem lại cho nhân dân niềm tin tưởng, hăng hái đóng góp cho kháng chiến.

Ngành y tế  đã có nhiều hình thức tuyên truyền, chăm lo sức khoẻ cho nhân dân. Với phương châm “phòng bệnh là chính”, ty y tế đã đào tạo hàng chục vệ sinh viên cho huyện tăng cường về các xã tuyên truyền, hướng dẫn công tác vệ sinh, phòng bệnh, bài trừ thói quen chữa bệnh bằng mê tín dị đoan. Năm 1947, bệnh đậu mùa đã xảy ra ở nhiều nơi do huyện không tổ chức tiêm chủng triệt để cho dân. Cuối năm 1948, hầu hết nhân dân đã được chủng đậu để phòng tránh căn bệnh nguy hiểm này.

Qua ba năm xây dựng và củng cố (1947-1949), lực lượng kháng chiến và phục vụ kháng chiến của huyện đã trưởng thành một bước đáng kể, tạo nên sức mạnh tổng hợp để tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống lại kẻ thù.

Kỳ sau đăng tiếp…

BBT Hiephoa.net

Bài liên quan

Gửi bình luận