Trang chủ Tin TứcQuê hương Hiệp HoàGiới thiệu Hiệp Hòa Giới thiệu sách: LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP HOÀ (1938-2010) phần tiếp theo…

Giới thiệu sách: LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP HOÀ (1938-2010) phần tiếp theo…

Đăng bởi HiephoaNet

ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN HIỆP HOÀ TRONG SỰ  NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ MIỀN BẮC, GÓP PHẦN CHI VIỆN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT TỔ QUỐC (1955-1975)

Chương I

KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, TỪNG BƯỚC ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-VĂN HOÁ-XÃ HỘI,

THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT (1955-1965)

I. KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 3 NĂM CẢI TẠO VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ QUỐC DÂN (1955-1960).

1. Thực hiện cải cách ruộng đất, bước đầu ổn định và phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội (1955-1957).

Kết thúc chiến tranh, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới. Tình hình trong huyện nằm trong bối cảnh chung của  miền Bắc, có nhiều thuận lợi song cũng còn nhiều khó khăn  phức tạp.

Hiệp Hoà, một huyện nông nghiệp, có tới 2445 mẫu ruộng ở các xã vùng vành đai trắng hạn hán, úng lụt (Đoan Bái, Đông Lỗ, Châu Minh, Mai Đình, Hương Lâm), bị hoang hoá, đập Thác Huống, Kênh C1, nguồn nước tưới chủ yếu bị thực dân Pháp ném bom phá hỏng nhiều đoạn, gây rất nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp; 17 đoạn đê sông Cầu bị sạt lở, làm cho 3050 mẫu ruộng đã cấy nhưng không được thu hoạch. Đời sống nhân dân vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Phần lớn ruộng đất cấy một vụ, năng suất rất thấp. Nông thôn tiêu điều, xơ xác; giao thông vận tải rất kém; giáo dục, y tế còn nhỏ yếu, lạc hậu. 340 gia đình tản cư trong kháng chiến nay hồi cư. Cuộc giảm tô năm 1953 tuy có kết quả nhưng không triệt để, gây tâm lý căng thẳng trong một bộ phân nhân dân. Trong 379 xóm vẫn tồn tại hình thức bóc lột kiểu phong kiến. 7 xã có giáo dân, trong đó 417 người (từ 18 tuổi trở lên) đã di cư vào Nam. Hàng hoá khan hiếm, đời sống  tiểu thương khó khăn. Bọn lưu manh trộm cắp, cờ bạc, tề điệp… ra mặt quấy rối , xúi giục dân chúng hoặc trà trộn với những người đi kháng chiến-nay trở về ẩn nấp chờ thời cơ. Một số cán bộ đảng viên do nhận thức hạn chế tỏ ra dao động, thiếu gương mẫu trong công tác. Chính quyền các cấp đều chưa có kinh nghiệm trong các nhiệm vụ mới…

Những khó khăn tuy nhiều nhưng chỉ là tạm thời trước mắt, thuận lợi là căn bản, quyết định xu thế phát triển của cách mạng. Chúng ta có Đảng, chính quyền và nhân dân. Kháng chiến thắng lợi đã củng cố lòng tin sắt đá vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ.

Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà có truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng. Trong 2 năm 1954-1955, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, để ổn định đời sống nhân dân, khắc phục hậu quả chiến tranh, phục hồi và phát triển kinh tế, trong đó phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp là trọng tâm vì nó liên quan mật thiết đến ruộng đất, thực hiện triệt để khẩu hiệu “Người cày có ruộng”.

Tháng 9-1954, Bộ chính trị ra nghị quyết, chỉ rõ: “Trong một thời gian nhất định…ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất”, “Hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế quốc dân, giảm bớt những khó khăn về đời sống nhân dân, phát triển kinh tế một cách có kế hoạch…”.

Cán bộ, đảng viên trong  huyện đã được tổ chức quán triệt học tập và thực hiện các nhiệm vụ của Đảng. Uỷ ban hành chính huyện phát động phong trào “Hữu ái giai cấp” khẩn trương giải quyết khó khăn  trong nhân dân. Trong 2 tháng làm được 740 ngôi nhà, 1260 nhà cũ được sửa lại, quyên góp tiền mua được 107 tấn thóc, 134 con trâu, bò cày cùng nhiều nông cụ, giống, phương tiện sinh hoạt. Các đơn vị bộ đội, đặc biệt Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308 – Quân tiên phong) sau khi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, đã đóng quân tại Hiệp Hoà và ngày 25-10-1954 đoàn pháo binh Bến Hải được thành lập tại khu vực Trại Cờ- được nhân dân hết lòng thương yêu, giúp đỡ, đậm đà tình nghĩa “quân dân cá nước”.

Công tác giữ gìn an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội, được thực hiện tốt. 26 đối tượng chuyên cờ bạc, trộm cướp, 13 ổ nhóm chứa chấp bị phát hiện và xử lý. Những nơi bộ đội đóng quân, kho tàng, cơ quan Nhà nước đều được tăng cường lực lượng bảo mật, phòng gian, giáo dục nhân dân đề cao cảnh giác.

Nhiệm vụ trọng tâm, hết sức quan trọng lúc này là tiến hành cải cách ruộng đất. Từ tháng 10-1954 cuộc cải cách ruộng đất được triển khai(*). Gần 200 cán bộ được tập huấn. Cuộc cải cách ruộng đất ở Hiệp Hoà là một trong những huyện làm triệt để nhất. Nhiều cuộc đấu tố, “ôn nghèo kể khổ” và các hình thức đấu tranh quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp nhằm xoá bỏ tận gốc phong kiến địa chủ, cường hào ác bá ở nông thôn, có cuộc đổ máu như ở Lương Phong, Ngọc Sơn, Đoan Bái, Đức Thắng… Kết quả về thành phần có 146 địa chủ (32 là cường hào gian ác) (*), 198 phú nông (24 có tội ác), 10% là trung nông, còn lại là bần cố nông (không kể tiểu thương). Như vậy, chỉ có hơn 1 năm, cuộc cải cách ruộng đất ở Hiệp Hoà đã căn bản hoàn thành. Tịch thu của địa chủ, phú nông trị giá tài sản 58240 đồng (tiền lúc đó), gồm nhà cửa, đồ dùng, nông cụ và 2141 mẫu ruộng chia cho 1824 hộ nông dân, cho nên: “Thắng lợi là to lớn và căn bản…có tính chiến lược” đã “thực hiện được khẩu hiệu người cày có ruộng, giải  phóng sức  sản xuất ở nông thôn… Đẩy mạnh sản xuất, mở đường cho nông nghiệp phát triển”(**) hoàn thành xoá bỏ giai cấp địa chủ và quan hệ sản xuất phong kiến ở Hiệp Hoà, nâng cao quyền làm chủ cho nông dân. Ngày 8-2-1955, Hội nghị tổng kết công tác cải cách ruộng đất đợt 2 của đoàn “Thái Nguyên-Bắc Giang” tổ chức tại xã Xuân Cẩm. Vinh dự cho hội nghị và quê hương Hiệp Hoà, Hồ Chủ tịch với tình cảm và trách nhiệm cao nhất đối với cuộc cải cách ruộng đất đã về dự và huấn thị hội nghị. Người phê bình nghiêm khắc tình trạng một số cán bộ đội cải cách dùng “nhục hình” trong đấu tố địa chủ.

Tháng 1/1955, Tỉnh uỷ phân công đồng chí Đặng Văn Thọ làm Bí thư Huyện uỷ thay đồng chí Hoàng Mạnh Hải nhận công tác khác.

Do tính chất phức tạp của cải cách ruộng đất nên trong quá trình thực hiện, một số cán bộ đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và quyền lợi của nhân dân lao động như: cường điệu quá mức tính chất đấu tranh giai cấp ở nông thôn dẫn đến mở rộng quá độ đối tượng gây ra tình trạng đánh nhầm vào nội bộ nông dân, nhất là trung nông lớp trên; không dựa vào tổ chức Đảng ở nông thôn lãnh đạo cải cách ruộng đất mà trao cho đội cải cách ruộng đất quá nhiều quyền hạn, nặng đấu tố, nhẹ giáo dục, mắc bệnh thành phần chủ nghĩa, xử lý oan một số cán bộ đảng viên tốt, gây tổn thất cho đảng bộ.v.v… Trung ương Đảng đã sáng suốt, kịp thời đề ra đường lối sửa sai, “Kiên quyết sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất”, “Kết hợp chấn chỉnh tổ chức sửa sai để tiến lên”.

Thực hiện đường lối của Đảng, Tỉnh uỷ Bắc Giang đã cử đồng chí Trần Trung – Bí thư Tỉnh uỷ phụ trách đoàn cán bộ sửa sai về Hiệp Hoà, tổ chức quần chúng phát hiện những vụ việc sai lầm. Do hậu quả của cải cách ruộng đất khá nặng nề, bị các phần tử tiêu cực lợi dụng, kích động. lôi kéo quần chúng, chia rẽ xuyên tạc đường lối của Đảng nên công tác sửa sai gặp nhiều khó khăn. Một số cán bộ, đảng viên do bị quần chúng hiểu lầm, xa lánh, nhất là với những trường hợp bị quy oan đã tòng phạm với những kẻ chống đối cách mạng, đặc biệt là vùng công giáo.

Được học tập nghị quyết về công tác sửa sai của Trung ương Đảng (9/1956), Huyện uỷ đã biết phát huy truyền thống đoàn kết, tinh thần yêu nước của nhân dân, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Bác Hồ, tuyên truyền đường lối chính sách làm mọi người hiểu rõ tình hình và cảm thông với những sai lầm trong cải cách, gạt bỏ những hiềm khích cá nhân và lợi ích trước mắt, đặt quyền lợi của Đảng, cách mạng lên trên hết. Qua đợt sửa sai đã xuống thành phần cho 80 địa chủ, 95 phú nông, xác minh được 28 địa chủ kháng chiến, 28 địa chủ khác có giúp đỡ cách mạng ở mức độ nhất định. Xác định 18 địa chủ cường hào gian ác, 56 phú nông. Những tài sản chủ yếu của người bị  quy oan đã phân chia, phần lớn đều được trả lại. Ngoài ra 68 đồng chí là cán bộ đảng viên được  phục hồi đảng tịnh, chức vụ. Tình hình nông thôn đi dần vào ổn định. Nhân dân càng tin tưởng vào đường lối của Đảng.

Những năm từ 1955 đến 1957, thiên tai liên tiếp, hạn hán, lụt bão và sâu bệnh gây nhiều thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp. Huyện uỷ đã phát động nhiều phong trào để khắc phục thiên tai, thúc đẩy sản xuất phát triển như khai hoang phục hoá, chống hạn “Vắt đất ra nước thay trời làm mưa”, chống úng : “Nghiêng đồng đổ nước ra sông”, làm thuỷ lợi , cải tạo đồng ruộng “Tấc đất tấc vàng”…  Cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia đông, có nhiều sáng kiến và gương lao động  điển hình. 2417 mẫu ruộng được phục hoá. 17 đoạn đê bị sạt lở được tu sửa, 31 đoạn xung yếu được bảo dưỡng, 92 kè cống ngoại đê được xây mới và các mương máng được quản lý, đào đắp, có lịch tưới tiêu. Hàng ngàn ngày công được huy động để  nạo vét kênh mương. Các đơn vị bộ đội đều tham gia làm thuỷ lợi, phòng chống bão lụt. Hơn 1700 mẫu ruộng chân đồi bãi được trồng mầu. Đời sống nông dân được ổn định dần, tư tưởng nhân dân ngày một phấn khởi. Chẳng những sản xuất phát triển mà chăn nuôi cũng đạt được những kết quả tốt. Năm 1957 số trâu bò tăng hơn 1955 là 750 con (620 trâu bò cày kéo), đàn lợn cũng tăng 2100 con, các loại gia cầm tăng nhanh. Hình thức chung vốn, đổi công có ưu thế, giúp đỡ nhau lúc giáp hạt và mùa vụ. Mặc dù bị thiên tai nhưng không xẩy ra nạn đói.  Quan hệ nông dân với tiểu thương gắn bó hơn. Các khu chợ đông vui nhiều hàng hoá. Các mặt hàng phục vụ nông nghiệp như cày bừa, cào cuốc phần lớn được sản xuất tại các xưởng thủ công trong huyện. Những ngành nghề truyền thống như mộc, rèn, đan lát và những cánh đồng chuyên trồng dâu tằm, mía, trầu không, rau màu… được giữ vững và phát triển.  Đường giao thông được cải tạo, mở rộng. Các bến bãi ven sông, nghề cá có thêm những phương tiện đánh bắt và trao đổi. Nhìn chung nền kinh tế Hiệp Hoà trọng tâm là nông nghiệp sau hơn 2 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã đi vào ổn định, có hướng vươn lên. Hội nghị Ban Chấp hành TW Đảng lần thứ 13 (11/1957) đã chỉ rõ: “… Chúng ta quyết tâm đưa miền Bắc tiến thẳng lên CNXH mà không qua giai đoạn phát triển TBCN” Và “Đem chế độ sở hữu tập thể của nông dân lao động thay thế dần chế độ sở hữu cá thể về những tư liệu sản xuất chủ yếu, vĩnh viễn xoá bỏ giai cấp bóc lột và chế độ người bóc lột người”… Hình thức đổi công ở nông thôn Hiệp Hoà đã ra đời từ trong kháng chiến,  đến nay việc thành lập các tổ đổi công theo đường lối của Đảng  trở thành phong trào quần chúng. Cuối năm 1957 có 175 tổ đổi công thường xuyên và từng vụ, từng việc,  các hộ nông dân càng có điều kiện giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống.

Nhiệm vụ đóng góp cho Nhà nước về lương thực, thực phẩm, được nông dân rất phấn khởi thực hiện. Từ năm 1955 đến 1957 đã đóng thuế 15.700 tấn thóc, 9200 tấn thực phẩm (riêng năm 1957, thuế vượt 12% kế hoạch, thực phẩm vượt 8% kế hoạch) ngoài ra, bán ngoài nghĩa vụ 5820 tấn lương thực, 3800 tấn lợn hơi, 1090 tấn hoa mầu, đậu đỗ các loại. ủng hộ và bán cho các đơn vị bộ đội 1959 tấn gạo, 750 tấn lợn, cùng nhiều rau xanh, củ quả. Công tác huy động nhân lực cho Nhà nước cũng đảm bảo và vượt chỉ tiêu. Hơn 36.000 lượt người đi dân công làm các công trình trong và ngoài huyện… Điều căn bản  là nhân dân Hiệp Hoà đã  ý thức được nghĩa vụ của mình với đất nước, vượt mọi khó khăn,  thiếu thốn bằng công sức và một phần tự túc lương thực thực phẩm, đồ dùng, dụng cụ lao động hoàn thành chỉ tiêu trong các chiến dịch.

Song song với nhiệm vụ phục hồi kinh tế, đóng góp xây dựng đất nước, công tác văn hoá giáo dục y tế xã hội được Đảng bộ và nhân dân quan tâm. Phong trào bình dân học vụ phát triển nhanh chóng, rộng khắp. Huyện thành lập “Ban bình dân học vụ” chỉ đạo từ huyện đến cơ sở mỗi xã  một ban, mỗi thôn  xóm 1-2 tổ. Toàn huyện đến cuối 1957 đã có 1215 giáo viên, 1680 lớp với gần 10.000 học viên theo học các lớp thuộc nhiều lứa tuổi, nhiều đối tượng. Các xã Đức Thắng, Hoàng Vân, Đoan Bái, Đông Lỗ, Hoàng Thanh là những đơn vị điển hình. Nhiều cán bộ đảng viên tham gia. Cơ sở vật chất chủ yếu do nhân dân tự xây dựng , ngoài ra các đình, chùa, điếm cũng làm lớp học. Có nhiều gương dạy tốt, học tốt.

Ngành học phổ thông- Dưới chế độ mới có điều  kiện phát triển nhanh hơn: Trường phổ thông cấp II Tiền Tiến (thành lập 1951 ở xã Hoàng Vân) được chuyển về khu trung tâm huyện (thuộc xã Đức Thắng) với 310 học sinh, 10 giáo viên, đổi tên là Trường phổ thông cấp II Hiệp Hoà – Con chim đầu đàn của ngành giáo dục huyện. Năm 1957 xây dựng thêm 2 trường phổ thông cấp II, và 14 trường phổ thông cấp I, với gần 3000 học sinh. Tuy mới ra đời nhưng các trường đều đảm bảo cơ sở vật chất  cho thày trò học tập, làm việc. Tinh thần hiếu học được khơi dậy. Hai năm liền, chất lượng giáo dục đều đạt khá. Bước đầu các phong trào ngoại khoá, gắn học với hành, trường với địa phương để cùng chăm lo giáo dục.

Công tác y tế bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân có những chuyển biến rõ rệt. Bệnh viện huyện được tăng cường 3 y sỹ, có 1 phòng khám, 27 giường bệnh, nhiều thuốc và phương tiện khám chữa. Hàng năm có từ 1.500 đến 2.000 người đến điều trị. Mạng lưới y tế xã ra đời, kết hợp đông – tây y để phục vụ nhân dân. Huyện phát động phong trào : “Ăn chín uống sôi”, “Ba sạch”… Kết hợp với các đơn vị bộ đội làm vệ sinh “Sạch làng tốt ruộng”, mở chiến dịch khám chữa bệnh ở các thôn xóm. Phong trào văn hoá, văn nghệ thể dục thể thao được khơi dậy, một số xã có đội tuồng, cải lương, ca múa…  từng bước đẩy lùi tàn dư văn hoá cũ, lạc hậu và các tệ nạn mê tín dị đoan, cờ bạc…

Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong huyện sau 3 năm (1955-1957) có nhiều chuyển biến tốt. Bước đầu nông nghiệp được khôi phục, có phát triển, đời sống từng bước ổn định và cải thiện. Những kết quả về văn hoá giáo dục, y tế xã hội  đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Đó  là thắng lợi rất cơ bản, là điều kiện thuận lợi  cho Đảng bộ và nhân dân trong huyện thực hiện kế hoạch 3 năm tiếp theo – Phát triển toàn diện, chuẩn bị bước vào giai đoạn xây dựng XHCN ở miền Bắc, ủng hộ đồng bào miền Nam đấu tranh chống Mỹ-Diệm…

2.  Thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo XHCN (*) từng bước phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội  (1958-1960).

Từ năm 1958 miền Bắc bắt đầu thực hiện kế hoạch 3 năm  (1958-1960) nhằm phát triển kinh tế và cải tạo các thành phần kinh tế theo con đường XHCN.

Đây là thời kỳ mở đầu của giai đoạn đấu tranh và cải tạo phức tạp, lâu dài, gian khổ. Đặc biệt trong bối cảnh đất nước tạm thời chia cắt làm 2 miền, Đảng và nhân dân ta đồng thời  tiến hành 2 cuộc cách mạng : Cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong đó cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với sự nghiệp cách mạng của cả nước.

a- Công tác xây dựng Đảng, chính quyền và đoàn thể:

Thực hiện quyết định chỉnh đốn tổ chức cấp huyện, tháng 11 năm 1956 Tỉnh ủy Bắc Giang tiếp tục phân công đồng chí Hoàng Mạnh Hải làm Bí thư Huyện uỷ thay đồng chí Đặng Văn Thọ làm Phó Bí thư.

Công tác xây dựng Đảng, do trong cải cách ruộng đất có sai lầm nên công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, quần chúng trung kiên gặp nhiều khó khăn. Việc kết nạp đảng viên rất thận trọng,  đặc biệt lý lịch và quan hệ xã hội. Cuối năm 1954 Đảng bộ Hiệp Hoà có 621 đảng viên. Cuối  năm 1955  giảm xuống còn 536, một số chuyển về  nâng tổng số  lên 680 đảng viên. Năm 1956 có 780 đảng viên. Phần lớn được kết nạp từ năm 1948-1949, có tới 60% mới biết đọc, biết viết hoặc không biết chữ. Trình độ lý luận rất hạn chế. Công tác lãnh đạo chủ yếu bằng hành chính mệnh lệnh. Cuộc cải cách và sửa sai đã ảnh hưởng thậm trí tê liệt một vài tổ chức cơ sở Đảng (*). Trước cải cách có 21 chi bộ. Sau cải cách còn 19, trong đó 3 chi bộ ghép. 34% số xóm không có đảng viên. Gần 40% không có tổ Đảng. Không khí sinh hoạt trầm lắng, nội bộ chưa thật đoàn kết, tư tưởng trù dập, ân oán, an phận khá phổ biến. Hội nghị Huyện uỷ tháng 11/1955 đã chỉ ra “Sau cải cách ruộng đất nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng bộ có khá hơn nhưng trong các kỳ họp, đảng viên ít đấu tranh, thường xuyên cho qua những sai phạm…”.  Một số cơ sở kém nát, đảng viên xin ra khỏi Đảng  15 đồng chí là Bí thư  chi bộ, chi uỷ viên xin rút công tác, phần lớn là đã tham gia cải cách. Một số được minh oan, làm rõ đúng sai, phấn khởi đảm nhiệm các chức vụ mới, gương mẫu, nhiệt tình có sức thuyết phục quần chúng. Vai trò người đảng viên và chi bộ được khôi phục dần.

Từ sau hoà bình lập lại, công tác xây dựng chính quyền và các đoàn thể được đẩy mạnh. Uỷ ban hành chính huyện do ông Đỗ Văn Kế làm chủ tịch, 5 thành viên uỷ ban kiêm nhiệm phụ trách các ban ngành. Uỷ ban hành chính các xã cũng hoàn thiện dần, thay đổi 36 người được bầu trong kháng chiến, đưa 125 đảng viên vào các chức danh chủ chốt, đổi tên một số tổ chức quần chúng (Thanh niên, Thiếu niên, Phụ nữ, Mặt trận, Nông hội…), thành lập  một số ban ngành mới (Y tế, Mua bán, Tín dụng…), điều chỉnh địa danh, địa giới cấp xã thôn xóm cho phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội .

Tháng 1-1958 Hội nghị BCH đảng bộ huyện đã tổng kết công tác, đánh giá tình  hình trong huyện: “Tuyệt đại bộ phận nhân dân được hưởng thành quả cách mạng, tin tưởng vào đường lối của Đảng…”. Nhưng “Các đảng viên nhận thức về cải tạo XHCN chưa cao, tư tưởng giai cấp vô sản còn lỏng lẻo… phải vươn lên về tổ chức, củng cố về quan điểm giai cấp…”.  “Còn biểu hiện mơ hồ và thiếu tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng”…

Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, của Tỉnh uỷ, tháng 12 năm 1958, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IV được tổ chức trọng thể tại hội trường cơ quan Huyện uỷ. Đây là đại hội đầu tiên sau khi hoà bình lập lại. 107 đại biểu, đại diện cho 1.230 đảng viên, sinh hoạt tại 16 cơ sở đảng về dự.  Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cơ bản (nhiệm kỳ 1958 – 1960) là: Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, gương mẫu thi hành các chính sách của Đảng, Nhà nước. Thực hiện tốt công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa (XHCN), tổ chức cho nông dân và các thành phần kinh tế tiểu thương vào tổ đổi công, đưa dần lên hợp tác xã (HTX), tiếp tục phát triển sản xuất, cải thiện đời sống cho nhân dân lao động, ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam chống bè lũ Mỹ – Nguỵ.

Đảng bộ Hiệp Hoà lúc này có 60% đảng viên kết nạp trong kháng chiến, 25% kết nạp sau kháng chiến và số còn lại được chuyển từ nơi khác kể cả những đồng chí trên điều động về giữ những cương vị chủ chốt cấp huyện. Về trình độ  văn hoá, tuyệt đại đa số rất thấp, 70%  đến lớp 2 – Chủ yếu là theo học các lớp bình dân học vụ. Tuổi đời trung bình 35-40, có 13 đảng viên theo đạo thiên chúa. Nhận thức về vai trò, vị trí nhất là quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước, về cải tạo XHCN – rất hạn chế. Có tới 80% mới qua chương trình bổ túc (sơ cấp phổ thông) lý luận, chủ yếu là học tập tại cơ sở, vừa học vừa làm. Kiến thức về chuyên môn quản lý, kỹ thuật, chỉ có 3 đồng chí trung cấp, 131 đồng chí sơ cấp nông nghiệp.

Đại hội IV kiểm điểm toàn diện các lĩnh vực từ cải cách ruộng đất, đánh giá vai trò trách nhiệm của Đảng bộ và Huyện uỷ, trên cơ sở nhiệm vụ cơ bản trong 2 năm 1958 – 1960. Đại hội xác định 2 nhiệm vụ chủ yếu là:

1- Công tác xây dựng Đảng, lấy việc nâng cao tư tưởng, giác ngộ chính trị làm trọng tâm.

2- Hoàn thành thắng lợi phong trào tổ đổi công, xây dựng hợp tác nông nghiệp, nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân lao động…

Đại hội bầu Ban chấp hành gồm 16 đồng chí (trong đó 7 đồng chí là uỷ viên Ban Thường vụ). Đồng chí Nguyễn Đông được bầu làm bí thư Huyện uỷ , đồng chí Đặng Văn Thọ làm phó bí thư .

Thực hiện Nghị quyết Đại hội và cuộc “Chỉnh huấn mùa thu” của Trung ương,  Huyện uỷ đã tiến hành nhiều biện pháp để  cho tất cả đảng viên, cán bộ, quần chúng gương mẫu  đang nắm giữ các vị trí chủ chốt trong các ban ngành và cơ sở được học tập  tài liệu “Chỉnh huấn” và nắm chắc các mục tiêu do Đại hội đề ra. Mở cuộc vận động thi đua lao động sản xuất, công tác và học tập. Tổ chức 4 lớp học chính trị cho cấp uỷ cơ sở và tổ trưởng đảng, 2 lớp cho cán bộ cơ quan, tổng số 340 đồng chí, sau đó các chi bộ, cơ quan, đơn vị đều tổ chức học tập. Để nâng cao lý luận, Huyện uỷ còn mở liên tiếp 8 lớp “Lý luận phổ thông” cho 850 lượt đảng viên. Mở lớp cho các đồng chí Huyện uỷ viên và bí thư chi bộ xã, do Thường vụ Tỉnh uỷ giảng dạy. Ngoài ra có 15 đồng chí được tập huấn tại Tỉnh uỷ . Nội dung chương trình do Trung ương biên soạn, khi học có liên hệ đến tình hình địa phương, những nhiệm vụ  cụ thể và kiểm điểm cá nhân. Xuất phát từ tình hình nhiệm vụ trong huyện và công tác xây dựng Đảng, qua các đợt học tập và chỉnh huấn, đảng viên đều nhận thức tốt hơn về cách mạng XHCN, sự tất yếu phải đi lên CNXH, tình hình thế giới, nhiệm vụ cách mạng ở 2 miền, mối quan  hệ  và vị trí vai trò của từng cuộc cách mạng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân… đặc biệt được học bài “Đạo đức cách mạng” và “Chủ nghĩa cá nhân” của Hồ Chủ tịch.

Để nâng cao tính chiến đấu trong Đảng, Huyện uỷ tổ chức kết hợp học tập lý luận với “Chỉnh huấn” tự phê bình và phê bình trong  Đảng bộ, đề cao kỷ luật Đảng và chú trọng phát triển đảng viên mới. Đồng thời nâng dần trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế xã hội, kiến thức văn hoá, công tác cán bộ trong Đảng, chính quyền và đoàn thể.

2 năm 1958-1959 Huyện uỷ mở 6 lớp bồi dưỡng (cảm tình Đảng) cho 435 đối tượng là đoàn viên thanh niên, cán bộ thôn xã và cơ quan. Kết nạp 161 đồng chí. Tuy nhiên do yêu cầu công tác và một số ít đảng viên sức khoẻ yếu, hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn nên Huyện uỷ đã cho chuyển vị trí công tác 61 đồng chí, cho ra khỏi Đảng 85 đồng chí (37 đồng chí bị kỷ luật).

Tháng 10/1959 Tỉnh ủy điều động đồng chí Nguyễn Đông đi nhận công tác khác, phân công đồng chí Nguyễn Thanh Quất, Tỉnh ủy viên về làm Bí thư Huyện ủy. Về tổ chức, Đảng bộ huyện có 21 chi bộ nông thôn, 3 chi bộ cơ quan, tổng số đảng viên 1270 đồng chí. Việc phân bổ đảng viên không đều. Còn tới 31% số thôn xóm “trắng” (không có đảng viên và tổ đảng). Một số chi bộ ghép liên thôn, xóm hoặc xã. Do vậy việc lãnh đạo các nhiệm vụ có nhiều khó khăn. Nhưng so với trước, công tác xây dựng Đảng đã có những chuyển biến mạnh về số lượng, nhất là chất lượng. Các chi bộ nông thôn lấy các phong trào để thử thách rèn luyện. Đảng viên và  quần chúng được tuyên truyền, học tập đường lối chính sách của Đảng, Chính phủ. Đợt kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (6/1/1930 – 6/1/1960)(*) có 147 cuộc mít tinh và cuộc thi đua. Hơn 500 khẩu hiệu, 100% chi bộ, 98,7% đảng viên được tổ chức nghiên cứu học tập về lịch sử Đảng, sau đó có kế hoạch hành động nhằm vào cuộc vận động xây dựng tổ đổi công và hợp tác xã bậc thấp. Đặc biệt các chi bộ sinh hoạt đều, nghiêm túc hơn. Các đảng viên luôn chăm lo rèn luyện, tu dưỡng, giữ gìn phẩm chất và gương mẫu cho quần chúng noi theo. Các hoạt động xã hội, các nhiệm vụ chính trị trong huyện có những chuyển biến khá.

Tháng 5-1960 Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V đánh dấu một khí thế vươn lên mạnh mẽ. 135 đại biểu đại diện cho 1325 đảng viên đã về dự Đại hội.  Trong báo cáo tổng kết,  Đại hội đã khẳng định những việc đã làm được là “Hoàn thành cơ bản phục hồi kinh tế, phát triển sản xuất và xu hướng vươn lên của toàn Đảng bộ. Quần chúng hiểu rõ hơn con đường tất yếu đi lên  CNXH”…  Và “Có nhiều cơ sở Đảng khá”,  song “Cơ sở yếu kém chưa chuyển biến mạnh, đấu tranh tư tưởng gay gắt phức tạp, có lúc đảng viên còn mơ hồ giai cấp, thiếu gương mẫu cải tạo, lối suy nghĩ cũ kỹ lạc hậu, gây cản trở trong công cuộc cách mạng XHCN…”. Nghị quyết Đại hội V của Đảng bộ huyện đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với cải tạo, xây dựng quan hệ sản xuất mới, hoàn thành tổ chức hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp đi đôi với tổ chức hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng. Đại hội phát động thi đua lập thành tích chào mừng đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III của Đảng. Đại hội kêu gọi: “Toàn Đảng bộ hãy đoàn kết một lòng, phát huy truyền thống quê hương cách mạng… kiên trì đường lối XHCN, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế  văn hoá xã hội”. Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành gồm 22 đồng chí (7 đồng chí  trong ban Thường vụ). Đồng chí Nguyễn Thanh Quất  được bầu làm Bí thư Huyện uỷ.

Sau Đại hội, không khí phấn khởi, đoàn kết, thi đua từ cán bộ đảng viên đến quần chúng thể hiện rất sinh động sôi nổi rộng khắp. Đợt học tập về “Giữ gìn đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân” (gồm những bài viết của Hồ Chủ tịch)  càng làm cho  đảng viên hiểu rõ hơn vai trò trách nhiệm của mình trước đảng bộ và nhân dân trong tình hình cách mạng mới.

Tháng 9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã khẳng định ” Nhiệm vụ hiện nay của cách mạng  Việt Nam là :  Đưa miền Bắc tiến lên CNXH và đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”…

Thực hiện đường lối của Đảng và những lời dạy của Hồ Chủ tịch, Đảng bộ  Hiệp Hoà càng  đẩy mạnh công tác tổ chức, giáo dục chính trị tư tưởng trong Đảng, củng cố hệ thống chính quyền, đoàn thể, tích cực vận động quần chúng tiếp tục hoàn thành xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, phát triển kinh tế văn hoá, đáp ứng yêu cầu của cách mạng cả nước.

Công tác xây dựng củng cố chính quyền, đoàn thể vững mạnh có ý nghĩa hết sức quan trọng. ý thức giác ngộ chính  trị cao nhất của quần chúng được thể hiện qua việc tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua và các đợt bầu cử. Quyền lợi và nghĩa vụ của công dân được tôn trọng bảo đảm. Năm 1958 và 1959 có cuộc bầu cử HĐND xã và huyện, 95% cử tri tham gia, bầu được 214 uỷ viên, 2/3 số đại biểu là cán bộ đảng viên và quân nhân phục viên, chuyển ngành. Cuối năm 1959 nhân dân trong huyện học tập tài liệu “Dự thảo Hiến pháp” – (sửa đổi) là đợt sinh hoạt chính trị lớn, nâng cao nhận thức về chế độ XHCN. Năm 1960 bầu cử HĐND 3 cấp và bầu cử Quốc hội khoá II đều có trên 95% cử tri đi bỏ phiếu. Uỷ ban hành chính huyện có 9 đồng chí. Uỷ ban hành chính các xã có 131 đồng chí. Các đại biểu HĐND có phẩm chất, năng lực công tác, quản lý công việc được giao.

Hoạt động của các đoàn thể cũng có nhiều tiến bộ, Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ… đều lựa chọn được những cán bộ tiêu biểu vào Ban chấp hành, có phương hướng hoạt động phù hợp để động viên mọi lực lượng thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương. Tiêu biểu là các chi đoàn thanh niên, chi đội thiếu niên, chi hội phụ lão…  tham gia các chiến dịch thuỷ lợi, văn hoá văn nghệ, chăm sóc trâu bò…  rất tốt .

b- Công cuộc cải tạo XHCN xác lập quan hệ sản xuất mới.

Đất nước đang bị chia cắt làm 2 miền. ở miền Nam bọn Mỹ-Diệm điên cuồng chống phá cách mạng. Ngược lại, “Miền Bắc tất yếu phải đi lên XHCN. Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta”(**). Chính vì vậy Hội nghị lần thứ 14 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (11-1958) đã xác định  quyết tâm cải tạo XHCN, mà “Trọng tâm trước mắt là đẩy mạnh cuộc cải tạo XHCN đối với thành phần cá thể  của nông dân, thợ thủ công… ra sức phát triển thành phần kinh tế quốc doanh…”. Tiếp đó, Hội nghị lần thứ 16 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (4-1959) đã xác định đường lối, chính sách  hợp tác hoá nông nghiệp.  Hội nghị khẳng định chỉ có đi vào con đường hợp tác hoá làm ăn tập thể mới khắc phục được những khó khăn trong sản xuất, cải thiện đời sống. Phương châm tiến hành hợp tác hoá là “Tích cực lãnh đạo từng vùng, vững bước tiến lên, quy hoạch về mọi mặt sát với từng vùng, làm tốt, vững và gọn”.

Cải tạo XHCN là một cuộc  cách mạng rất sâu sắc. Giai cấp nông dân chỉ có duy nhất con đường là đi lên CNXH, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Song, đây là cuộc cách mạng lâu dài gian khổ, phức tạp, do đó, Hội nghị đã xác định hình thức, bước đi, tốc độ của quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa, phải bằng phương châm “Tự nguyện dân chủ, cùng có lợi”. Thông qua những hình thức tuyên truyền vận động, giáo dục, giác ngộ, không dùng bạo lực, cưỡng ép, với quy mô phù hợp, từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn như Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ: ” Đường lối cải tạo XHCN của Đảng ta đối với nông nghiệp là đưa nông dân làm ăn riêng lẻ đi dần từ tổ đổi công tiến lên hợp tác  xã cấp thấp rồi tiến lên HTX cấp cao”. Chính vì vậy hợp tác hóa nông nghiệp là một cuộc vận động lớn ở nông thôn. Nội dung của nó gồm 3 mặt : Cải tạo quan hệ sản xuất , cải tiến kỹ thuật và giáo dục tư tưởng, gắn liền với 3 phong trào thi đua: Hợp tác hóa, thủy lợi hóa và bổ túc văn hóa.

Đường lối đúng đắn của Trung ương được Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà quán triệt và thực hiện. Chủ trương của Huyện uỷ  là “vừa làm vừa rút kinh nghiệm, cải tạo với phát triển, xác lập và hoàn thiện” Năm 1958 toàn huyện có 951 tổ đổi công với 11.270 hộ –  Những xã Đức Thắng, Đoan Bái, Danh Thắng, Hoàng Thanh, Ngọc Sơn… có phong trào mạnh hơn cả và cũng là những cơ sở mạnh trong tỉnh. Từ cuối năm 1958 số lượng giảm dần do chuyển dần lên hợp tác xã.

Điều lệ HTXNN được ban hành. Nhân dân được tổ chức học tập, nghiên cứu. Huyện uỷ làm điểm ở hai xã: Danh Thắng và Đức Thắng. Tháng 2/1958 HTX nông nghiệp Đoàn Kết (xã Danh Thắng) ra đời, cùng với HTX Phúc Lợi (xã Đức Thắng) là 2 HTX đầu tiên của huyện và tỉnh Bắc Giang(*). Cả 2 HTX làm  ăn khá, mức thu nhập của xã viên cao, đời sống được nâng lên, không khí lao động phấn khởi – hơn hẳn cách làm ăn cá thể và  tổ đổi công. Có nhiều đoàn cán bộ trong và ngoài huyện đến tham quan, học tập. Tháng 10/1958 Huyện uỷ mở hội nghị đánh giá tình hình sản xuất và phong trào hợp tác hoá toàn huyện : ” … Phong trào phát triển nhanh, các HTX tỏ rõ ưu thế trong sản xuất và đóng góp cho Nhà nước cần  nhân rộng điển hình sản xuất  giỏi” và “Coi trọng công tác giáo dục, khắc phục tình hình  vi phạm nguyên tắc quản lý, coi trọng chất lượng, chú trọng vào thành phần bần cố nông, đưa họ vào HTX, cán bộ đảng viên phải gương mẫu đi trước, tránh hữu khuynh tự tư, tự lợi, né tránh, nể nang khi vận động quần chúng …”. Đến hết 1958, toàn huyện có 79 HTXNN với 20% số hộ, 32% diện tích canh tác. Giữa năm 1960 lên đến 175 HTX, 89% số hộ, 87% diện tích canh tác. Đặc biệt có 91% số hộ bần cố nông đã vào HTX, nhưng số đảng viên vào HTX mới đạt 90%. Đến cuối năm 1960, Hiệp Hoà có 266 HTX nông nghiệp  (nhiều nhất tỉnh Bắc Giang – 1781 HTX) trong đó loại khá 94, trung bình 139 và kém 33.

Về quy mô, có HTX gần 100 hộ, có HTX toàn thôn chiếm 99,1% số hộ trong thôn, nhưng có  HTX chỉ  15 hộ(*)  chủ yếu theo khoảnh tre, đơn vị hành chính tự quản từ trước. Tình hình đó dẫn đến phong trào phát triển không đều, có nơi yếu kém, các chỉ tiêu kinh tế có tăng nhưng chậm, có mặt không ổn định.

Về mức ăn, tính trung bình trong toàn huyện, đạt 20kg thóc/lao động chính và 14 kg thóc/nhân khẩu/tháng.

Sau 3 năm, Hiệp Hoà đã căn bản hoàn thành hợp tác hóa nông nghiệp, lao động tập thể có ưu thế rõ rệt, từng bước sản xuất đi vào kế hoạch và  kinh tế tập thể đã  giữ vai trò chủ đạo.

Tuy phong trào phát triển không đều và còn những yếu kém  nhưng quan hệ sản xuất mới đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.

Nghị quyết số 63 Bộ Chính trị (12-1958) về công tác thuỷ lợi trong 3 năm (1958-1960) chỉ rõ : “Phải thắng được hạn hán, úng thuỷ, bão lụt và phải thắng được lũ lụt lớn nếu xẩy ra, cần mở rộng diện tích tưới tiêu, tích cực thu hẹp diện tích cấy nhờ nước trời, tiến tới đảm bảo được đủ nước tưới theo yêu cầu cải tiến kỹ thuật toàn bộ, phục vụ tốt phong trào hợp tác hoá”. Đất đai ở Hiệp Hoà hầu hết là đất cát pha, lớp đất mầu sâu trung   bình 10-12cm, bạc màu và tiếp giáp ngay với lớp đất cát đen hoặc sét vàng, có nhiều chỗ đã đá ong hoá. Địa hình thoải dần, dễ bị úng lụt và hạn hán.

Nhờ làm thuỷ lợi mà mấy năm liền tuy có lụt lớn nhưng vẫn giữ được đê an toàn(*). Nhờ có nước, vỡ hoang được 450 ha đưa vào canh tác, 561 ha lúa mùa đưa vào cấy thêm vụ chiêm, điển hình là thôn Mai Hạ ( xã Mai Đình) có phong trào thuỷ lợi mạnh nhất huyện. Về chống hạn, từ năm 1958 đến 1960 có 5891 ha bị hạn cả mùa lẫn chiêm nhưng đã cứu được 3650 ha. Nhất là năm 1960 bị hạn hán kéo dài rất nghiêm trọng, huyện vẫn cấy được 75% diện tích lúa chiêm, hơn 80% diện tích lúa mùa đạt thành tích cao nhất tỉnh. Tuy nhiên nhiều xã ven sông Cầu vẫn trồng cấy chủ yếu bằng nước trời (Mai Đình, Châu Minh, Đông Lỗ…) thường xuyên bị hạn và úng lụt đe doạ.

Cùng với cây lúa, diện tích rau màu cũng tăng nhanh. Năm 1960 diện tích khoai lang đạt 124% kế hoạch – dẫn đầu tỉnh.

Làm thuỷ lợi kết hợp với khoanh vùng chuyên canh, quy hoạch đồng ruộng, tạo ra bức tranh nông nghiệp thay đổi đáng kể. Thực hiện “San cao cào thấp” phá bỏ những thửa ruộng nhỏ, đảm bảo 3-5 sào/ thửa, nhiều thửa trên một mẫu. Mương máng được làm thêm, kè cống được tu sửa bảo dưỡng, mở rộng lòng mương, uốn nắn dòng chảy, lập tuyến phòng hộ đê. Hệ thống giao thông nông thôn khá tốt: hơn 16.400 km – chủ yếu  đường đồng – làng. Đưa khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp để tăng năng suất và giải phóng đôi vai (*). Về chăn nuôi so với trước năm 1958 đã tăng nhanh số gia súc gia cầm, phục vụ cho cày kéo, lấy phân và thực phẩm ngày một nhiều (**).

Do có những chủ trương đúng đắn và những biện pháp kỹ thuật tiến bộ nên năng suất, sản lượng được nâng lên, cơ cấu cây trồng được mở rộng, tạo sự phát triển cân đối phù hợp với điều kiện đất đai và nhu cầu của nhân dân.

Việc làm nghĩa vụ cho Nhà nước trong 3 năm cũng đạt và vượt chỉ tiêu, đảm bảo nhanh gọn, chất lượng. Năm 1960 làm nghĩa vụ lương thực so với kế hoạch đạt 109%, về thực phẩm đạt 121%, và  lạc đỗ giao cho các đơn vị bộ đội đạt kế hoạch. 65 HTX, 7 xã được huyện biểu dương, 6 HTX được tỉnh khen.  Nhiều gương tốt trong lao động sản xuất và công tác xã hội.

Cùng với HTX nông nghiệp,  các HTX tín dụng, HTX mua bán ra đời tạo thành “3 ngọn cờ hồng” ở nông thôn. Toàn huyện có 26 HTX mua bán trong đó có 5 HTX cấp huyện, với hơn 10700 hộ đóng góp cổ phần và có sổ mua hàng. HTX mua bán trở thành “Người nội trợ” tin cậy của nông dân, là cầu nối giữa nông thôn với thành thị, góp phần củng cố liên minh công nông, cải tạo các  thành phần kinh tế  phi XHCN.

Năm 1959 các HTX mua bán đạt doanh số bán ra là 171.000đ,  năm 1960 là 182.000đ, bán ra bình quân mỗi năm 20đ/ người.

HTX tín dụng cùng với Ngân hàng làm vai trò “Bà đỡ” cho phát triển kinh tế tập thể, cải tạo và xây dựng  kết cấu hạ tầng.  Năm 1958  có 21 HTX tín dụng, năm 1960 có 26. Trong 3 năm đã cho hộ xã viên vay 431.900đ và 730.000 đ cho các HTX nông nghiệp vay  Năm 1960 có  5300 hộ xã viên, gửi quỹ tín dụng 14.500đ tiết kiệm. Điều căn bản làm cho mọi người hiểu rõ ” Tiết kiệm là yêu nước, xây dựng CNXH, ủng hộ đồng bào miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà” và ” Cán bộ HTX mua bán và HTX tín dụng giữ được phẩm chất, có uy tín, năng nổ, được nhân dân tín nhiệm ” (NQ Huyện uỷ 10-1960).

Trong lĩnh vực cải tạo XHCN: Là nơi có nhiều ngành nghề thủ công, Huyện uỷ chủ trương “Đưa họ vào các tổ hợp tác, sản xuất công cụ, nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân, tiến lên thành lập các HTX tiểu thủ  công nghiệp XHCN” (NQ Huyện uỷ 8/1959). Bà con buôn bán nhỏ, hàng xáo, hàng xén…  được học tập đường lối cải tạo XHCN,  thành lập các tổ, các điểm mua bán, thống nhất giá cả và quan điểm phục vụ xã hội. Năm 1960, toàn huyện có 1080 hộ phi nông nghiệp, tổ chức được 62 tổ: cắt tóc, sửa xe đạp, đồng hồ, cung tiêu thực phẩm… và 49 tổ  chuyên làm công  nông cụ như dao, cuốc, cày bừa… Bước đầu xã viên phấn khởi làm ăn có uy tín, đời sống ổn định. Ngoài ra huyện xây dựng được 8 cửa hàng mậu dịch bách hoá và phân nhánh làm  chủ đạo trong thương nghiệp XHCN ở  nông thôn.

Như vậy hết năm 1960, công cuộc cải tạo với các thành phần kinh tế phi XHCN đã có nhiều tiến bộ, tạo điều kiện cho các lĩnh vực khác phát triển.

c- Tiếp tục phát triển văn hoá, xã hội, củng cố và tăng cường an ninh quốc phòng:

Sản xuất phát triển, đời sống vật chất được cải thiện. Phát triển văn hoá, xã hội góp phần nâng cao dân trí là nhu cầu chính đáng của nhân dân  và cũng là quan điểm đường lối của Đảng .

Hồ Chủ tịch đã dạy : “Mọi người Việt Nam phải biết quyền lợi của mình và nghĩa vụ của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”(*). Trong đợt chỉnh huấn giáo viên cấp II-III toàn miền Bắc, mùa hè năm 1958, Người khẳng định cụ thể hơn” Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(**). Để chăm lo tốt hơn nữa đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân, BCH TW ra Chỉ thị số 74CT-TW về việc tăng cường công tác bổ túc văn hoá và thanh toán nạn mù chữ trong năm 1958. Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ và đường lối của Đảng, “Ban thanh toán nạn mù chữ” của huyện được thành lập do  1 đồng chí Thường vụ Huyện uỷ làm trưởng ban.  Mỗi xã có một ban. Mỗi HTX nông nghiệp hoặc thôn (xóm) có một tiểu ban. Phong trào bình dân học vụ, xoá nạn mù chữ, học lớp vỡ lòng(***) sôi nổi, đông đảo chưa từng có. Toàn huyện có 450 người tham gia tổ chức, chỉ đạo, điều hành. 340 giáo viên, 315 lớp, hơn 37.800 học viên từ nhi đồng đến các cụ 60-70 tuổi. 96% số lớp là tận dụng các đình chùa, điếm làng hoặc nhà dân. Nhiều lớp học 2-3 ca/ ngày. Nhiều cụ cao tuổi sức yếu vẫn say sưa với công việc (37% giáo viên từ 45 tuổi trở lên, 21 % giáo viên là những ông đồ, phần lớn không qua đào tạo nhưng có tâm có tín). Từ khi có quan hệ sản xuất mới, phong trào bình dân học vụ, xoá nạn mù chữ càng đi vào chiều sâu chất lượng. “Nhà nhà đi học, người người đi học”, khắp làng trên xóm dưới, khu phố, toàn dân tham gia với tinh thần “Chống giặc dốt như chống ngoại xâm…” Phong trào đã xuất hiện nhiều cá nhân và địa phương tiên tiến, 14 xóm có gần 100% người đi học, 89 xóm có từ 50-85%, trung bình 40-50%… Xã Hoàng Thanh, 1 trong 4 xã thanh toán xong nạn mù chữ – trước kế hoạch Nhà nước 2 tháng 10 ngày, được nhận Bằng khen của Chính phủ. Kết quả đến 1960 có 80% giáo viên được tỉnh và huyện khen thưởng, nhận huy hiệu “Chiến sỹ diệt dốt”, 3 giáo viên được Bộ Giáo dục và Chính phủ  khen. Về học viên, có 93,8% được cấp chứng nhận thoát nạn mù chữ, 40% ra được lớp 1 phổ thông, 37% được cấp bằng lớp 4 Bổ túc văn hoá.

Cùng với  học văn hoá, Huyện uỷ chỉ đạo các xã, các ngành tăng cường mở nhanh những lớp đào tạo quản lý kinh tế – xã hội cho cán bộ đảng viên và  quần chúng. Từ 1958 đến 1960 huyện mở tập trung 25 lớp gồm 970 học viên, chủ yếu là cán bộ HTX, 182 lớp tại xã cho hơn 2000 lượt người theo học các lớp ngắn hạn từ 3-5 ngày cho cán bộ thôn xóm, tổ đổi công và đoàn thể. Mặc dù học viên phải tự túc toàn bộ nhưng ý thức và kết quả học tập tốt. Việc học tập trở thành nhu cầu của mọi người. Hiệp Hoà được tỉnh ghi nhận là huyện khá về công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở.

Về  ngành học phổ thông – là mũi nhọn của sự nghiệp giáo dục, hạt nhân đào tạo và nâng cao dân trí, được Đảng và nhân dân đầu tư cao nhất. Đến năm 1960, 100% số xã có trường phổ thông cấp I (lớp 1 đến lớp 4), gồm 89 lớp, 195 giáo viên, trên 7000 học sinh. Nhân dân các xã đã đóng góp hơn 149.000 cây tre, gỗ nứa, 18.960 ngày công, 17.500 đồng… để làm trường lớp. 8 xã có trường phổ thông cấp II. Qua 2 lần thực hiện cải cách giáo dục, trường lớp ngày một to đẹp, chất lượng đào tạo nâng lên rõ rệt. Phong trào “Thi đua 2 tốt” (Dạy tốt, học tốt) là động lực và mục tiêu hàng đầu của thày và trò. Trường phổ thông cấp I Hoàng Thanh là đơn vị tiên tiến nhiều năm liền của tỉnh. Trường phổ thông cấp II Hiệp Hoà là lá cờ đầu của ngành giáo dục huyện và tỉnh Bắc Giang, quyết tâm đuổi kịp và vượt trường Bắc Lý (tỉnh Hà Nam). Ngày 5/9/1960 trường vinh dự  đón đồng chí Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên về thăm – “Con chim đầu đàn của ngành Giáo dục, khoẻ mạnh, vỗ cánh bay cao bay xa hơn nữa trong bầu trời XHCN” (*). Tổng kết năm học có  6 giáo viên là chiến sỹ thi đua cấp tỉnh, 21 ở cấp huyện,  4 tổ lao động XHCN – là những bông hoa đẹp trong sự nghiệp “Trồng người”, cho “Hoa thơm trái ngọt những mùa sau”.

Phong trào  văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao và y tế, mang tính xã hội rộng rãi từ nhà trường đến nông thôn. Huyện có 1 tổ văn nghệ, mỗi xã có 1 ban văn hoá, 25 đội văn nghệ cơ sở, 2 đội chiếu bóng lưu động. Các đội văn nghệ xã Đức Thắng, Đông Lỗ, Hợp Thịnh, Hoàng Thanh… thường xuyên biểu diễn. Đội bóng đá của huyện (chủ yếu ở Thị trấn) là đội mạnh. Các xã có 18 đội bóng đá, 16 đội bóng chuyền.

Để chăm sóc sức khoẻ toàn dân, bệnh viện huyện đã có 15 y bác sỹ, cơ sở vật chất được cải tạo nâng cấp, mở rộng, hàng năm khám chữa bệnh từ 9400 đến 12000 ca. Mạng lưới y tế cấp xã đã khá hoàn chỉnh (21 trạm xá, 15 y sỹ, 6 dược sỹ sơ trung cấp, gần 150 y tá viên, 62 tủ thuốc đông tây y…) Phong trào phòng bệnh  vệ sinh thân thể, làng xóm, khu phố diễn ra liên tục, từng bước loại trừ những bệnh lây lan như ho gà, sởi, cúm… ở người hoặc ở những dịch bệnh của  gia cầm gia súc.

Nhiệm vụ của nhân dân miền Bắc lúc này là xây dựng miền Bắc vững mạnh cả về chính trị – kinh tế và quân sự, nhất là trong hoàn cảnh đất nước đang bị chia cắt, kẻ thù đang tìm mọi âm mưu thủ đoạn chống phá thành quả lao động của nhân dân.  Tháng 11-1958  Trung ương ra chỉ thị số 119 về công tác quân sự địa phương. Huyện uỷ Hiệp Hoà  chỉ đạo cơ quan quân sự huyện mở nhiều đợt quán triệt tuyên truyền, giáo dục cán bộ đảng viên nhân dân về tình hình nhiệm vụ cách mạng, tăng cường lực lượng quốc phòng, trước hết là lực lượng dân quân du kích tự vệ địa phương. Cơ quan quân sự  (Huyện đội) được bổ sung cán bộ. Ban xã đội các xã xây dựng và thành lập các đơn vị theo thôn xóm. Những thanh niên từ 18 đến 32 tuổi được biên chế và quản lý, huấn luyện chính trị, quân sự để sẵn sàng bổ sung cho quân thường trực. Năm 1959 Luật nghĩa vụ quân sự  được  ban hành. Nhân dân được học tập càng phấn khởi tin tưởng vào đường lối quân sự của Đảng, có điều kiện cho thanh niên đóng góp sức mình vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Kết hợp với công an xã, tình hình an ninh trật tự chính trị xã hội được đảm bảo.

Tệ nạn xã hội giảm hẳn, những hủ tục lạc hậu  được ngăn cấm. Thực hiện  việc “Lồng ghép” cán bộ dân quân tự vệ  vào các ban quản trị, đội trưởng đội phó sản xuất đem lại  hiệu quả tốt. Cuối năm 1959 tổ chức phản cách mạng “Đại nam quốc dân” , “Mặt trận cứu quốc”… do Dương Quang Tuân, Dương Quang Nghiễn cầm đầu hoạt động ở Ngọc Sơn và một vài nơi tuy có lôi cuốn được một số người nhẹ dạ và đốt kho thóc Đồng Dù ở Phú Bình (Thái Nguyên) nhưng đã bị trừng trị – ta  bắt và gọi hàng hơn 40 tên cùng những tang vật, xử án tại Hiệp Hoà.

Sau vụ Tuân, Nghiễn, một số tên ở Tân Trung (Đồng Tân), cấu kết với bọn xấu ở Quảng Ninh hoạt động chống phá cách mạng cũng bị ta bắt. Sự ngoan cố chống đối của những tên địa chủ, phản động càng làm cho quân và dân ta đề cao cảnh giác, tích cực tham gia bảo vệ Tổ quốc. 100% dân quân tự vệ đăng ký khám sức khoẻ và nhập ngũ: Đợt đầu tiên thực hiện luật nghĩa vụ quân sự (thay cho chế độ tình nguyện) có gần 200 đồng chí vinh dự lên đường bảo vệ Tổ quốc.

Để làm tốt công tác quân sự địa phương, nghiêm chỉnh thực hiện đường lối quốc phòng  của Đảng, Huyện uỷ có 1 ban đón tiếp – chính sách nhằm giải quyết chế độ với  những quân nhân, cán bộ kháng chiến trở về địa phương.

Trong 3 năm, có 141 đồng chí phục viên xuất ngũ đã được tiếp nhận chu đáo. Phong trào kết nghĩa, đỡ đầu, giao ước thi đua, giúp đỡ bộ đội, giao tiếp văn hoá, tham gia lao động giúp dân… đã làm cho mối quan hệ quân dân càng  thêm thắm thiết.

Do làm tốt công tác quân sự địa phương, có 121 chiến sỹ dân quân tự vệ được nhận khen thưởng của huyện, tỉnh. 2 xã được tỉnh công nhận đơn vị mạnh. 21 cán bộ xã  đội là “Lao động tiên tiến, cán bộ gương mẫu”.

Trong 3 năm (1958-1960) tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, các lĩnh vực kinh tế-văn hoá- xã hội và an ninh quốc phòng đều chuyển biến tích cực, quan hệ sản xuất XHCN được xác lập, cơ sở hạ tầng ngày một khá, đời sống nhân dân lao động được nâng lên, các tổ chức chính trị từ huyện đến xã đã hoàn chỉnh(*).

Bước vào giai đoạn mới, thế và lực của cách mạng Việt Nam trên đà đi lên. Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà càng có điều kiện đóng góp nhiều hơn nữa vào sự nghiệp xây dựng CNXH và giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Kỳ sau đăng tiếp….

II. HIỆP HOÀ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ( 1961-1965)…..

BBT HH.net

Bài liên quan

Gửi bình luận