Trang chủ Quảng cáo Lịch sử Đảng bộ Hiệp Hòa – Giai đoạn 1976- 2010

Lịch sử Đảng bộ Hiệp Hòa – Giai đoạn 1976- 2010

Đăng bởi HiephoaNet

Chương I: 10 NĂM XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG, GÓP PHẦN BẢO VỆ TỔ QUỐC (1976-1985)

Năm 1975 cắm một mốc trọng đại trên tiến trình lịch sử Việt Nam nói chung và Hiệp Hoà nói riêng.

Với thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nước ta bước vào một thời kỳ mới-cả nước độc lập, thống nhất cùng thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

I. THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ II (1976-1980) VÀ GÓP PHẦN BẢO VỆ TỔ QUỐC.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà tập trung trí tuệ, sức lực khai thác mọi tiềm năng, thuận lợi, vượt qua những khó khăn, thử thách, từng bước đi lên, xây dựng quê hương ngày càng ấm no, giầu đẹp.

Ngày 15-10-1975, Huyện uỷ tổ chức hội nghị “Mừng công báo công” trong toàn huyện-gồm có 240 đại biểu-đại diện cho các ngành quân – dân – chính – đảng, có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong 30 năm (1945-1975). Hội nghị đã khẳng định “Nhìn lại chặng đường 30 năm đã qua, Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà đã thu được những thành tích rất to lớn trên các mặt trận bảo vệ, giữ gìn an ninh Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tài sản XHCN, bảo vệ tài sản tập thể và tính mạng còn trong điều kiện hết sức khó khăn cho đến thời kỳ cải tạo và xây dựng CNXH ngày nay. Thành tích ấy, công lao ấy trước hết thuộc về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, thuộc về Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà chúng ta…

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện uỷ, với truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng, trong giai đoạn cách mạng sắp tới, nhất định chúng ta sẽ phát huy những thành tích to lớn đã đạt được, kiên quyết khắc phục những khuyết nhược điểm, tiến lên hoàn thành những nhiệm vụ mới, góp phần thiết thực vào công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu dấu”.

1. Xây dựng hệ thống chính trị:

Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ – Đại hội đại biểu Đảng bộ Hiệp Hoà lần thứ XIII tổ chức vào tháng 5 năm 1977. 177 đại biểu đại  diện  cho 3.539 đảng viên  đang  sinh  hoạt  tại 54 chi, đảng bộ trực thuộc, đã về dự.  Đại  hội  đầu tiên  sau ngày giải  phóng  hoàn  toàn  miền  Nam, được chuẩn bị và tổ chức trong không khí tưng bừng phấn khởi của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân Hiệp Hoà. Sau lễ tưởng niệm những người con ưu tú của quê hương đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc, Đại hội đã nghe “Bản báo cáo tóm tắt thành tích của quân và dân Hiệp Hoà trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước”.

Đại hội kêu gọi: “Toàn Đảng, toàn dân Hiệp Hoà hăng hái tiến lên trong giai đoạn cách mạng mới”- đã khẳng định “Chưa bao giờ Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà được rèn luyện thử thách và trưởng thành vững mạnh như thời gian qua… Cách mạng Việt Nam đã sang trang sử mới, nhân dân Hiệp Hoà dù trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, kiên trì sáng tạo và tích cực thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng…”.

Về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trong phương hướng nhiệm vụ, Đại hội XIII đề ra là: “…Trước hết đảng bộ phải mạnh, bộ máy nhà nước phải mạnh, các đoàn thể phải mạnh. Mạnh về mọi mặt, từ tư duy, tình cảm đến việc làm, biện pháp, biến quyết tâm của Đảng thành sức mạnh của quần chúng”.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành khoá XIII (nhiệm kỳ 2 năm) gồm 29 đồng chí, trong đó Ban Thường vụ 9 đồng chí. Đồng chí Trần Cúc được bầu làm Bí thư Huyện uỷ.

Để thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đại hội, Đảng bộ luôn coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng  cho cán bộ đảng viên.

Ngày 10-10-1976, Tỉnh uỷ đã ra nghị quyết số 13 “Đẩy mạnh công tác giáo dục chính tr, nâng cao trình độ cho cán bộ, đảng viên từ nay đến năm 1980”. Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, Huyện uỷ đề ra mục tiêu đến năm 1980 toàn Đảng bộ phấn đấu:

– Đại bộ phận cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý cao cấp và trung cấp phải học xong chương trình lý luận cao cấp.

– Đại bộ phận cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý sơ cấp phải học xong chương trình lý luận trung cấp.

– Tất cả cán bộ sơ cấp phải học xong chương trình lý luận sơ cấp và một bộ phận học xong chương trình trung cấp.

– Tất cả đảng viên thường đến hết năm 1977 đều phải học xong chương trình cơ sở, sau đó học xong chương trình sơ cấp. Từ nay trở đi mỗi đảng viên sau khi vào Đảng 2 năm đều phải học xong chương trình cơ sở.

Thực hiện chủ trương trên, nhiều cán bộ chủ chốt huyện và một số ban ngành được cử đi học Trường Nguyễn Ái Quốc và Trường Đảng tỉnh. Trường Đảng huyện đã bồi dưỡng cho hàng nghìn cán bộ, công nhân viên các cơ quan, xí nghiệp và đảng viên cơ sở. Qua học tập và công tác, trình độ lý luận, năng lực công tác của cán bộ, đảng viên được nâng lên một bước.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, Đảng bộ Hiệp Hoà tiến hành đợt sinh hoạt “Tự phê bình và phê bình trong Đảng, báo công lập công trong quần chúng”. Đã có trên 90% đảng viên trong đảng bộ tham gia đợt sinh hoạt. Những khuyết điểm, yếu kém của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong đảng bộ như thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, né tránh, hữu khuynh, tiêu cực, chỉ lo vun vén cá nhân, nghỉ ngơi, bảo thủ… đã bị phê phán nghiêm khắc. Sau đợt sinh hoạt “chuyển biến khá tốt trong Đảng và ngoài quần chúng”, “mỗi đảng viên và tổ chức Đảng đều đã đề ra được những phương hướng, mục tiêu phấn đấu sửa chữa vươn lên của mình”(*).

Thực hiện Thông tri số 22/BBT của Ban Bí thư Trung ương “Tiếp tục đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng” và Chỉ thị số 73/BBT của Ban Bí thư Trung ương về việc phát thẻ đảng viên, Huyện uỷ đã đề ra những biện pháp cụ thể để củng cố  tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên. Qua đợt bình xét, đảng bộ đã có gần 90% đảng viên đủ tư cách nhận thẻ và nhiều, chi đảng bộ được nhận cờ “Chi bộ vững mạnh”.

Cũng qua những đợt sinh hoạt, một bộ phận đảng viên không đủ tư cách đã bị đưa ra khỏi Đảng, một số chi, đảng bộ yếu kém, Huyện uỷ tập trung củng cố.

Đại hội XIV của Đảng bộ Hiệp Hoà được tiến hành trong 3 ngày (3, 4, 5 tháng 11 năm 1979), nhiệm kỳ (1979-1982) có 163 đại biểu đại diện cho 3.751 đảng viên trong huyện về dự. Đại hội diễn ra trong bối cảnh đất nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó khăn trên nhiều mặt. Báo cáo chính trị ghi rõ “Vận mệnh Tổ quốc đang có những thử thách ghê gớm, đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà một lần nữa nguyện đoàn kết một lòng, đem hết sức mình chi viện cho biên giới, giữ vững địa bàn, đánh thắng kẻ thù nếu chúng liều lĩnh tiến vào…”

Ban chấp hành khoá XIV có 31 đồng chí  (2 đồng chí là  huyện uỷ viên dự khuyết), Ban thường vụ Huyện uỷ 10 đồng chí, đồng chí Nguyễn Xuân Nghiễn được bầu làm Bí thư Huyện uỷ.

Chính quyền các cấp, từ huyện đến xã sau các cuộc bầu cử đều được chấn chỉnh. Nhiều đồng chí cấp uỷ có phẩm chất, năng lực đã được phân công làm công tác chính quyền. Hầu hết cán bộ chủ chốt xã đều được bồi dưỡng kiến thức quản lý kinh tế, quản lý xã hội.

Mặt trận Tổ quốc các cấp được kiện toàn tổ chức và từng bước đổi mới nội dung hoạt động. Mặt trận đã tổ chức cho đông đảo quần chúng tham gia ý kiến vào các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, xây dựng khối đoàn kết, xây dựng Hội bảo thọ, tham gia phong trào giữ gìn trật tự trị an, phong trào đền ơn đáp nghĩa và xây dựng nếp sống văn hoá…

Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh với phong trào “Ba xung kích làm chủ tập thể” đã thu hút đông đảo thanh niên tham gia sản xuất, phát triển kinh tế ở địa phương, góp phần bảo vệ Tổ quốc.

Hội phụ nữ các cấp tích cực vận động chị em phụ nữ tham gia các phong trào sản xuất nông nghiệp, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội… Dù ở bất cứ ngành nào, vị trí nào, chị em cũng khắc phục khó khăn, hăng hái lao động, học tập, công tác để cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Tổ quốc, của quê hương.

Đội thiếu niên nhi đồng đã hăng hái tham gia phong trào “Làm theo 5 điều Bác Hồ dạy” và phong trào “Làm nghìn việc tốt”.Hội nông dân đã tích cực vận động bà con nông dân đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn và tham gia vào các hoạt động xã hội khác, đạt nhiều kết quả.Hoạt động của các đoàn thể quần chúng đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội của huyện trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai.

2. Phát triển kinh tế:

Thực hiện Nghị quyết 61/CP của Hội đồng Chính phủ, Chỉ thị 208 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết 13 của Tỉnh uỷ Hà Bắc, Huyện uỷ đã có nghị quyết mở cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý nông nghiệp. Cuộc vận động được làm thí điểm ở 13 HTX (7 HTX toàn xã, 5 HTX liên thôn, 1 HTX nhỏ), sau đó Huyện uỷ rút kinh nghiệm mở rộng ra các HTX trong toàn huyện.

Sau khi tổ chức lại sản xuất, cải tiến một bước quản lý, nhiều HTX đã từng bước phát huy tác dụng tích cực trên nhiều mặt, nhất là quản lý tư liệu sản xuất, quản lý lao động, thực hiện các định mức lao động, phát triển ngành nghề thủ công trong nông nghiệp, thực hiện các quy trình sản xuất…

Gắn với tổ chức lại sản xuất, huyện đã chỉ đạo việc mở rộng quy mô HTX. Đầu năm 1976, Hiệp Hoà có 96% số hộ nông dân vào HTX nông nghiệp, với 111 HTX. Đến cuối năm 1979, từ 111 HTX hợp nhất thành 64 HTX, bình quân mỗi HTX có 200 ha canh tác, 362 hộ, trong đó có 11 HTX quy mô toàn xã, 13 HTX quy mô liên thôn, 40 HTX quy mô thôn. Phong trào tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý HTX của huyện chuyển biến chậm. Số HTX yếu kém tới 64%, số HTX trung bình chiếm 28%, số HTX khá chiếm 8%. Quy mô được mở rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng từng bước được tăng cường, hệ thống mương máng, đồng ruộng được cải tạo ngày một tăng, nhà chế biến được làm thêm, điểm giống lúa đi vào sản xuất cung cấp một phần giống thuần chủng cho HTX. Lực lượng sản xuất phát triển, sự phân công mới được hình thành, các đội chuyên khâu được thành lập, lao động chăn nuôi và các ngành nghề khác được tăng cường hơn trước. Sản xuất nông nghiệp của huyện trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp vẫn phát triển từ 19.270 ha gieo trồng năm 1976 đưa lên 24.898 ha năm 1979, hệ số sử dụng ruộng đất từ 1,6 lần năm 1976 lên 1,84 lần. Đặc biệt diện tích mầu lương thực tăng rất nhanh từ  2.744 ha năm 1976 đưa lên 5.187 ha năm 1979. Tổng sản lượng lương thực năm 1976 đạt 41.302 tấn, năm 1979 đạt 45.888 tấn.

Chăn nuôi được giữ vững. Tổng đàn lợn năm 1976 có 38.982 con; đàn trâu bò có 105.888 con, năm 1979 có 10.625 con.Nghĩa vụ đóng góp với nhà nước tăng: năm 1976, các HTX tích luỹ được 506.531 đồng, năm 1979 tích luỹ được 716.545 đồng.Đời sống nhân dân ổn định, một số mặt được cải thiện.

Tuy nhiên, việc hợp nhất mở rộng quy mô HTX còn máy móc, gò bó, chưa có đủ những điều kiện cần thiết, do đó có một số HTX sau khi hợp nhất, các mặt  hoạt động đều giảm, có mặt giảm nghiêm trọng.Việc sửa chữa khuyết điểm trong công tác quản lý còn chậm. Tình trạng lấn chiếm ruộng đất, nợ dây dưa còn xảy ra ở hầu hết các HTX. Việc thanh toán, kiểm  kê tài sản, công khai tài chính thực hiện chưa nghiêm túc, đặc biệt công tác quản lý tư liệu sản xuất, quản lý lao động còn lỏng lẻo, rong công, phóng điểm, năng suất thấp ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của xã viên.

Ngành tiểu thủ công nghiệp gặp nhiều khó khăn về nguyên liệu nhưng đã có nhiều cố gắng để duy trì và mở rộng sản xuất, góp phần phục vụ sản xuất nông nghiệp, xây dựng và đời sống. Giá trị tổng sản lượng năm 1980 so với 1976 bằng 155%, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 11%. Những sản phẩm chủ yếu là gạch, ngói, cát, sỏi, diệp cày, mũi cày, dao, cuốc… phát triển, nhất là nhóm sản xuất vật liệu xây dựng. Ở một số HTX đã thành lập tổ cơ khí  sửa chữa nông cụ, có xã đã hợp nhất những tổ cơ khí trong cả xã thành lập một tổ. Do ngành tiểu thủ công nghiệp của huyện phát triển còn chậm nên chưa giải quyết số lao động dôi thừa trong hợp tác xã nông nghiệp.

Ngành giao thông vận tải đã có sự kết hợp với thuỷ lợi, quốc phòng, trong quy hoạch đồng ruộng và xây dựng các tuyến đường… Huyện đã chỉ đạo việc làm thuỷ nông gắn với giao thông ở một số hợp tác xã. Các đường Thắng-Gầm, Thắng-Hoà Sơn, Thắng-Vát được nâng cấp. Hầu hết các hợp tác xã đã có đường ô tô vào đến khu trung tâm. Các đường trục xã và liên thôn đã được xây dựng, thuận tiện cho việc vận chuyển từ trong làng ra đồng, từ ngoài đồng về sân kho hợp tác xã, mặt đường  được rải  cấp phối… Toàn huyện có 2 hợp tác xã thuyền buồm là Mai Đình và Hợp Thịnh với 300 tấn phương tiện. Các loại xe cải tiến, xe trâu bò kéo phát triển khá mạnh, từ 6-8 ha ruộng canh tác có một tấn phương tiện; 42% số hợp tác xã có tổ, đội vận tải chuyên hoặc bán chuyên.

Ngành thương nghiệp đã khắc phục khó khăn trong thu mua, phân phối, đảm bảo phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Nhiều cửa hàng thương nghiệp tổ chức đưa hàng hoá đến tận cơ sở sản xuất để phục vụ người lao động. Trong công tác cải tạo tiểu thương, quản lý thị trường, từ năm 1976 đến năm 1980 đã vận động được trên 100 hộ buôn bán chuyển sang sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.

Ngành tài chính hàng năm đã hoàn thành kế hoạch thu chi ngân sách, bảo đảm đúng nguyên tắc, chế độ. Thuế công thương nghiệp hàng năm đạt trên 90% kế hoạch. Thuế nông nghiệp đạt từ 95% đến 100% kế hoạch.

Ngành ngân hàng đã tập trung cho tập thể và cá nhân vay để phát triển sản xuất và phục vụ đời sống. Năm 1980, ngân hàng đã cho các cơ sở vay vốn để sản xuất tăng 12% so với năm 1976. Song song với việc cho vay, ngân hàng tích cực vận động nhân dân gửi tiền tiết kiệm nhằm huy động vốn phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.

3. Văn hoá xã hội:

Trong điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, nhưng sự nghiệp giáo dục của huyện vẫn phát triển.

Nhà trẻ đã được các cấp uỷ đảng và chính quyền quan tâm hơn trước. Năm 1977 có 4.908 cháu, năm 1980 có 8.078 cháu. Đến năm 1980, khối nông thôn thu hút được 43%, khối cơ quan được 39% số cháu ở độ tuổi vào nhà trẻ.

Lớp mẫu giáo trong những năm 1976 -1980 phát triển khá. Đến năm 1980, toàn huyện đã mở được 234 lớp với 8.076 cháu, đạt 65% số cháu trong độ tuổi đến lớp. Những xã có phong trào khá là Đức Thắng, Danh Thắng, Xuân Cẩm, Đông Lỗ…

Giáo dục phổ thông vẫn tiếp tục phát triển. Năm 1977, số học sinh cấp I, II có 29.228 em, năm 1980 có 33.726 em. Chất lượng giảng dạy và học tập từng bước được nâng lên: Thi hết cấp II năm học 1975-1976 đỗ 92%, năm học 1976-1977 đỗ 82,2%, năm học 1977-1978 đỗ 90%, năm học 1978-1979 đỗ 63,7%. Cơ sở vật chất từng bước được tăng cường. Đến năm 1980, đã có 78% số phòng học, nhà làm việc, nhà tập thể của giáo viên đã  ngói hoá. Hầu hết các trường đã có vườn sinh địa, phòng thí nghiệm, thư viện phục vụ cho việc giảng dạy và học tập.

Công tác bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân đã được các cấp uỷ đảng, chính quyền và ngành y tế coi trọng. Ngày 20-2-1976, Ban chấp hành Đảng bộ đã ra chỉ thị “Về việc tăng cường sự lãnh đạo của đảng, đẩy mạnh công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân”, đề ra những nhiệm vụ cụ thể cho các cấp, các ngành trong việc chăm lo, bảo vệ sức khoẻ  nhân dân.

Mạng lưới y tế ở cơ sở đã tăng cường. Công tác cấp cứu, khám chữa bệnh nhanh chóng, kịp thời.

Cùng với việc khám bệnh chữa bệnh cho nhân dân, ngành y tế đã tập trung vào công tác vệ sinh phòng bệnh, xây dựng ba công trình vệ sinh (giếng nước, nhà tắm, hố xí), phòng trừ dịch bệnh theo mùa, ngăn chặn không để dịch bệnh xảy ra. Các ngành văn hoá – thông tin, truyền thanh, phát hành sách báo đã tập trung cổ vũ phong trào lao động sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá mới đã được phát động rầm rộ trong toàn huyện, dấy lên thành những phong trào thi đua sôi nổi.

4. Quốc phòng, an ninh:

Sau khi kết thúc sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cách mạng nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới. Thi hành các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ Hà Bắc về tăng cường công tác quân sự địa phương trong giai đoạn mới; ngày 18/8/1976, Ban chấp hành Đảng bộ huyện đã ra Nghị quyết số 31/NQ-HU “Về nhiệm vụ công tác quân sự địa phương và giữ gìn trật tự an ninh trong tình hình mới” của huyện. Sau 3 năm thực hiện nghị quyết, công tác quân sự địa phương của huyện đã có nhiều chuyển biến.

Công tác củng cố, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vẫn được các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành, các đoàn thể chú ý đúng mức, bảo đảm cho lực lượng dân quân tự vệ thường xuyên có đủ số lượng, chất lượng. Đối với những xã đã hợp nhất theo quy mô hợp tác và quy mô liên thôn, lực lượng dân quân được sắp xếp lại cho phù hợp với  cơ cấu của tổ chức sản xuất. Công tác tuyển quân, liên tục từ năm 1975 đến 1978 đều hoàn thành. Đã xây dựng được nền nếp giao quân một ngày,  nhanh, gọn.

Công tác trật tự trị an sẵn sàng chiến đấu có tiến bộ, đã xây dựng được lực lượng công an trên 200 người. Ở nhiều địa phương, dân quân tự vệ đã kết hợp với lực lượng công an làm tốt công tác  kiểm tra canh gác, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các vụ việc xảy ra, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tài sản Nhà nước, tập thể và nhân dân, phát huy vai trò nòng cốt xung kích xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ nông, cải tạo đất… phát triển sản xuất.

Từ đầu năm 1979, các thế lực thù địch đã gây cho nhân dân ta nhiều khó khăn mới,  đồng thời đặt ra cho chúng ta những yêu cầu rất lớn về quốc phòng. Trước tình hình đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ mới. Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng và thi hành lệnh  tổng động viên của Quốc hội, Hiệp Hoà đã kịp thời chuyển hướng công tác, tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ  vừa xây dựng vừa sẵn sàng chiến đấu, phát động phong trào “Xây dựng quốc phòng, bảo vệ an ninh”. Công tác củng cố quốc phòng, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu được tiến hành khẩn trương. Công tác tuyển quân với khối lượng lớn hơn những năm trước về cơ bản đã hoàn thành. Huyện đã xây dựng một trung đoàn du kích cơ động,  mỗi xã xây dựng một đơn vị du kích cơ động. Huyện huy động gần 3000 dân quân xây dựng phòng tuyến của tỉnh và huyện với khí thế sôi nổi, hăng hái, đạt năng suất cao, trong đó đại đội dân quân xã Hoà Sơn đã được tỉnh tặng bằng khen. Việc xây dựng huyện, làng, xã thành pháo đài chiến đấu, được tiến hành  khẩn trương. Các kế hoạch cụ thể phục vụ chiến đấu, phòng không sơ tán… bước đầu đã được chuẩn bị chu đáo. An ninh chính trị được giữ  vững.

Những kết quả và thành tích đạt được trong kế hoạch 5 năm 1976-1980 đã nói lên sự cố gắng phấn đấu không mệt mỏi của Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà trong hoàn cảnh còn rất nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội, kẻ thù gây chiến tranh ở Biên giới tây Nam và phía Bắc Tổ quốc.

II. THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ III (1981-1985)

Tháng 3 năm 1982, diễn ra Đại hội lần thứ V của Đảng. Đại hội nhấn mạnh, 5 năm (1976-1980) là một thời kỳ đấu tranh oanh liệt của toàn dân ta trên hai mặt trận: Vừa chiến đấu chống lại những âm mưu, hành động phá hoại và xâm lược của nhiều loại kẻ thù, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng một cuộc sống mới trong những điều kiện vô cùng khó khăn. Đại hội đã phân tích tình hình, rút ra những bài học kinh nghiệm, đề ra phương hướng của kế hoạch 5 năm (1981-1985) và những năm tiếp theo.

Dưới ánh sáng nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, trong các ngày 5-6-7 và 8 tháng 1/1983, Đại hội đảng bộ huyện Hiệp Hoà lần thứ XV đã họp, kiểm điểm những kết quả đạt được trong nhiệm vụ xây dựng kinh tế – xã hội năm 1981, 1982 và đề ra nhiệm vụ chủ yếu những năm 1983-1985.

Về dự Đại hội có 183 đại biểu thay mặt cho 3.901 đảng viên trong huyện. Ban chấp hành khoá XV có 31 đồng chí   trong đó Ban thường vụ có 9 đồng chí. Đồng chí Đặng Ngoạn được bầu làm Bí thư Huyện uỷ.

Tư tưởng hành động xuyên suốt do Đại hội đảng bộ lần thứ XV đề ra là “Tăng cường công tác xây dựng đảng, đặc biệt là củng cố cơ sở đảng gắn liền với việc củng cố hợp tác xã, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương”.

Nhằm từng bước đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp để giải phóng sức sản xuất, ngày 13-1-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 100 “Khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động”.

Trước khi Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ra đời, ở  Hiệp Hoà hầu hết các hợp tác xã, nhất là những hợp tác xã quy mô toàn xã, hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả. Trình độ, năng lực của cán bộ hợp tác xã không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Công tác quản lý hợp tác xã bị buông lỏng, ruộng đất bị lấn chiếm tới 110 ha, người lao động không gắn bó với sản xuất tập thể, có nơi lúa chín không có người gặt. Tình hình quản lý tài vụ lỏng lẻo, chỉ có 5 trong tổng số 64 hợp tác xã lên được kế hoạch tài vụ, 59 hợp tác xã không khoá được sổ sách, việc thanh quyết toán thường kéo dài dây dưa. Số hợp tác xã dư nợ ở trong xã viên tới 60/64 hợp tác xã với số tiền 1.176.167 đồng, 477 tấn thóc không thu được. sản xuất phát triển chậm, đời sống của xã viên gặp nhiều khó khăn. Tư tưởng muốn chia tách hợp tác xã có quy mô lớn thành các hợp tác xã có quy mô nhỏ xuất hiện ở một số nơi. Để thực hiện Chỉ thị 100 có hiệu quả, huyện chỉ đạo chia các hợp tác xã quy mô lớn nhưng sản xuất kinh doanh hiệu quả thấp thành hợp tác xã nhỏ. Đến năm 1982, toàn huyện có 95 hợp tác xã, trong đó có 5 hợp tác xã quy mô toàn xã là Danh Thắng, Thường Thắng, Hoà Sơn, Hoàng Thanh, Thái sơn, 13 hợp tác xã quy mô liên thôn và 77 hợp tác xã quy mô thôn. Đội sản xuất cũng được tổ chức lại, từ 449 đội thành 724 đội.

Trước khi thực hiện Chỉ thị 100, Huyện uỷ đã tổ chức thăm dò ý kiến của trên một  vạn cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tuyệt đại bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đều nhiệt liệt hoan nghênh chủ trương của Trung ương. Ban nông nghiệp huyện đã tổ chức học tập Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết 5 của Tỉnh uỷ Hà Bắc về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động. Từ đầu năm 1981, các hợp tác xã nông nghiệp tiến hành giao đất, giao sức kéo cho xã viên, tập thể chủ yếu làm nhiệm vụ điều hành các khâu làm đất, thuỷ lợi, bảo vệ cây trồng, vật nuôi và quản lý sản phẩm theo mức khoán. Đã có 55 hợp tác xã khoán trâu, 1 hợp tác xã bán trâu cho xã viên.

Nhờ động lực khoán và sự đổi mới, bước đầu chính sách giá cả, nghĩa vụ lương thực, chính sách phân phối trong nội bộ hợp tác xã nên sức sản xuất trong các hộ nông dân và hợp tác xã được giải phóng. Đất đai, sức lao động được sử dụng một cách hợp lý, sản xuất kịp thời vụ, một số biện pháp kỹ thuật được thực hiện, nhờ vậy, trong hai năm đầu thực hiện Chỉ thị 100, sản xuất nông nghiệp của Hiệp Hoà có bước phát triển: Diện tích gieo trồng năm 1981 đạt 23.454 ha, năm 1982 đạt 24.180 ha, sản lượng lương thực năm 1981 đạt 47.017 tấn, năm 1982 đạt 47.645 tấn, riêng thóc năm 1981 đạt 30.409 tấn, năm 1982 đạt 33.240 tấn. Chỉ riêng vụ chiêm xuân năm 1980-1981, vụ đầu tiên thực hiện Chỉ thị 100, so với vụ đông xuân 1979-1980, diện tích lúa tăng 234 ha, năng suất tăng 4,4 tạ một ha, tổng sản lượng lương thực (quy thóc) tăng 2.392  tấn. Lần đầu tiên từ nhiều năm nay huyện đã tự trang trải nhu cầu tối thiểu về lương thực. Mức ăn bình quân 1 người 1982 là 282,3 kg, tăng 6% với năm 1980.

 

Năm

1983

1984

1985

Diện tích gieo trồng (ha)

23.092

21.151

20.159

Tổng sản lượng lương thực (tấn)

36.595

35.085

41.210

Từ năm 1983, sản xuất nông nghiệp của Hiệp Hoà bắt đầu giảm sút cục bộ:

Việc giảm sút do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là những nguyên tắc trong cơ chế quản lý hợp tác xã về cơ bản còn bao cấp, cứng nhắc, phân phối theo công điểm, hợp tác xã còn bị ràng buộc trong tổng thể cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thu nhập từ kinh tế tập thể thấp, mức khoán không ổn định, tệ quan liêu, mệnh lệnh và tình trạng tham ô lãng phí trong hợp tác xã không những không giảm mà có chiều hướng tăng, nhân dân chịu nhiều khoản đóng góp, tổng mức huy  động tăng, người lao động chỉ còn hưởng từ 18% đến 20% sản lượng khoán. Động lực do Chỉ thị 100 tạo ra đang dần dần bị hạn chế. Người nông dân thiếu yên tâm phấn khởi sản xuất, tình trạng khê đọng sản phẩm tăng lên, đã có nơi xã  viên trả bớt ruộng khoán, lương thực Nhà nước huy động giảm.

Từ thực trạng trên đây ở Hiệp Hoà, một lần nữa khẳng định phải tiếp tục điều chỉnh, đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, đổi mới chính sách của Nhà nước đối với hợp tác xã và nông dân mà Chỉ thị 100 mới chỉ là bước khởi đầu. Đi đôi với chỉ đạo giải quyết vấn đề lương thực, huyện đã chú trọng chỉ đạo phát triển cây công nghiệp và cây xuất khẩu, bố trí lại cơ cấu cây trồng theo hướng tăng diện tích cây công nghiệp và cây xuất khẩu nhằm tạo ra sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện. Chỉ tính riêng năm 1982, diện tích trồng cây công nghiệp và cây xuất khẩu đạt 2.274 ha, vượt 20,1% kế hoạch, đáng chú ý là cây đậu tương tăng gấp hai lần năm 1981,  diện tích đậu tương hè đạt trên 1000 ha, đang hình thành một công thức luân canh mới: Lúa – đậu tương – lúa, rất thích hợp trên đồng đất bạc mầu của huyện. Các cây xuất khẩu  có giá trị kinh tế cao đang phát triển như tỏi,  ớt, dâu tằm, bạc hà…

Chăn nuôi có phát triển, nhưng chưa mạnh và chưa đều:

Loại gia súc

1981

1982

1983

1984

Lợn

41894

34876

46557

44380

Trâu

8017

8478

8376

7648

1009

2035

2807

2850

Sau khi có Chỉ thị 100, 52 hợp tác xã khoán trâu cho xã viên, 18 hợp tác xã bán trâu cho xã viên. Đàn lợn chủ yếu của gia đình xã viên, đàn lợn tập thể chỉ còn 2 hợp tác xã với 183 con (Danh Thắng, Ngọc Sơn). Chất lượng đàn lợn khá hơn, lợn lai kinh tế chiếm trên 70% tổng đàn lợn, trọng lượng xuất chuồng trung bình trên 60 kg/con, cá biệt có hợp tác xã, lợn xuất chuồng bình quân đạt 90kg/con như hợp tác xã Trung Tâm (Hợp Thịnh).

Đặc biệt đàn bò phát triển mạnh,  năm 1984 tăng gần 3 lần năm 1981, một phần sử dụng làm sức kéo, một phần  nuôi sinh sản.Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng của huyện còn rất nhỏ bé, tập trung chủ yếu vào sản xuất vật liệu xây dựng (cát sỏi, gạch, ngói) và công cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp (cuốc, liềm, mũi cày, diệp cày…). Do thiếu nguyên vật liệu, ngành tiểu thủ công nghiệp của huyện sản xuất cầm chừng và giảm sút mạnh vào cuối những năm 70. Từ năm 1982, huyện đã xác định được phương hướng, kế hoạch sản xuất cho xí nghiệp mỳ mầu, cơ khí Quang Trung-Đại Thắng. Xí nghiệp mỳ mầu chuyển sang sản xuất và chế biến lương thực, thực phẩm đã sản xuất thành công nước chấm, thức ăn gia súc.

Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp (sửa chữa công cụ, chế biến nông sản…) chưa đáp ứng được yêu cầu. Vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp, tiểu thu công nghiệp hàng năm đều tăng nhưng hiệu quả của đồng vốn đầu tư còn thấp.Thủ công nghiệp, tiểu thủ  công nghiệp trong nông thôn phát triển kém nên chưa tận dụng được lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp.

Việc cung cấp nguyên, nhiên liệu còn bị động, khó khăn. Các chế độ ràng buộc người lao động như lương thực, thực phẩm, vải… chưa được giải quyết thoả đáng. Những điều này đã hạn chế một phần đến sự phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện. Đánh giá ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện, Huyện uỷ nhận định: “Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp  và phát triển ngành nghề còn có nhiều mặt trì trệ”. Công tác xây dựng cơ bản có nhiều tiến bộ:

 

Năm

1981

1982

1983

1984

Vốn thực hiện

75.000đ

2.918.000đ

3.218.000đ

6.921.000đ

Với vốn của nhà nước và vốn tự có của địa phương, huyện đã thực hiện có kết quả phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong xây dựng các công trình Nhà nước và công trình phúc lợi tập thể như trạm bơm Ngọ Khổng, Bệnh viện huyện, Nhà lưu niệm Hoàng Vân, Trạm bảo vệ thực vật, Nhà sản xuất dược…

Các địa phương cũng đã vận dụng tốt phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong xây dựng trường học, trạm xá, làm đường giao thông… chỉ tính riêng năm 1982 đã huy động gần 2 triệu đồng, bằng 70% vốn nhà nước cấp.

Tuy có đạt được những kết quả đáng kể nhưng công tác xây dựng cũng mắc phải những khuyết điểm, thiếu sót không nhỏ: Một số công trình xây dựng kéo dài thời gian, gây lãng phí tiền vốn, vật tư (trạm bơm Ngọ Khổng, bệnh viện…), việc quản lý còn lỏng lẻo, dẫn đến “chất lượng công trình kém, tình trạng lãng  phí, tham ô còn xảy ra”(*). Vốn đầu tư xây dựng trong các ngành hành chính sự nghiệp lớn, trong khi vốn xây dựng có hạn. Một số công trình trực tiếp phục vụ sản xuất chưa xây dựng được hoặc xây dựng dở dang và thiếu vốn hoặc đầu tư không thích đáng.

Ngành giao thông vận tải đã tập trung tu sửa và mở rộng giao thông nông thôn, nhiều hợp tác xã đã kết hợp làm thuỷ nông gắn với giao thông. Nhiều bờ vùng trở thành đường giao thông phục vụ sản xuất. Các trục đường giao thông chính trong huyện đã được rải cấp phối. Một số cầu, cống xuống cấp được sửa chữa và xây dựng mới. Huyện đã tu sửa đoạn đường Thắng-Thái Sơn và  làm đoạn đường vào xã Đồng Tân phục vụ khai thác cát, sỏi, hàng chục tổ xe bò, xe ngựa được thành lập để phục vụ vận chuyển, lưu thông.

– Năm 1984, vận tải thuỷ đạt 1.522.000 tấn/ km, vận tải bộ đạt 2.500.000 tấn/ km.

Công tác phân phối lưu thông bước đầu có chuyển biến tích cực. Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Huyện uỷ đã có những biện pháp tích cực, tăng cường lãnh đạo nhằm từng bước lập lại trật tự trên mặt trận phân phối lưu thông.Việc thu mua nắm nguồn hàng có nhiều cố gắng, hàng năm đều hoàn thành nghĩa vụ lương thực, thực phẩm với Nhà nước. Trong 4 năm (1981-1984), huyện đã nhập kho Nhà nước 20.663 tấn thóc thuế nông nghiệp, bán nghĩa vụ 2.550 tấn lợn hơi, 2623 tấn lạc vỏ.

Hệ thống thương nghiệp quốc doanh và HTX mua bán được củng cố và mở rộng. Chỉ tính riêng năm 1984, doanh số bán ra đạt 171,8 triệu, bằng 297% năm 1983, doanh số mua vào đạt 130,39 triệu đồng, bằng 240% năm 1983. Nhiều mặt hàng phục vụ sản xuất (đạm, kali, thuốc trừ sâu, cày, bừa, vôi…) và đời sống nhân dân (muối, dầu, vải, sách vở học sinh…) đã cung cấp đầy đủ và đúng đối tượng. Nhiều cửa hàng thương nghiệp và HTX mua bán  tổ chức đưa hàng hoá đến tận cơ sở sản xuất để phục vụ người lao động, đồng thời tổ chức thu mua nông sản, thực phẩm của nông dân.Công tác xuất khẩu từng bước được đẩy mạnh. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là lạc vỏ, lợn hơi, ớt, tỏi, tơ tằm.. Năm 1981, kim ngạch xuất khẩu đạt 345.000 đồng, năm 1982 đạt 8,6 triệu đồng, năm 1983 đạt 9,7 triệu đồng, năm 1984 đạt 28,6 triệu đồng. Ngoại thương của huyện đã bước đầu khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương. Một khối lượng lớn vật tư, thiết bị, hàng tiêu dùng… thông qua con đường ngoại thương để đưa về tham gia cân đối, sử dụng trên địa bàn huyện.

Song, mặt trận phân phối lưu thông còn nhiều tiêu cực. Trong 3 năm 1981, 1982, 1983, đã có 132 vụ xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa với số tiền 1.364.835 đồng. Việc quản lý giá cả thị trường chưa chặt chẽ, còn nhiều sơ hở. Một bộ phận cán bộ, nhân viên của ngành đã thoái hoá biến chất “…ngang nhiên sống xa hoa, phè phỡn”.

Công tác tài chính, ngân hàng tuy gặp nhiều khó khăn nhưng cũng đạt được những kết quả nhất định, đã phấn đấu cân bằng thu chi ngân sách, đặc biệt năm 1982 và 1984, thu vượt chi. Năm 1984, tổng thu tiền mặt đạt 150% kế hoạch, tăng 89% so với năm 1983, bội thu tiền mặt cả năm là 8,5 triệu đồng.

Năm 1984, tổng dư tiết kiệm đạt 107% kế hoạch, tăng hơn năm 1983 là 68%, nâng số dư tiết kiệm bình quân đầu người từ 53 đồng năm 1983 lên 83 đồng năm 1984, riêng xã Hoàng Vân có dư tiết kiệm bình quân đầu người cao nhất huyện (200 đồng).Phong trào Hội vui tuổi già đã góp 29,8% tiền gửi trong tổng số  kết dư tiết kiệm, với sự tham gia của 19.800 cụ. Do hoạt động tích cực, ngân hàng đã cân đối được tiền tệ, đáp ứng được tiền mặt cho mọi nhu cầu thường xuyên, đồng thời đã tập trung đầu tư thích đáng cho vay vốn ngắn hạn, dài hạn để thâm canh tăng năng suất, trồng cây xuất khẩu. Công tác quản lý kinh tế đã có những đổi mới. Thực hiện nghị quyết của Trung ương về xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, trong các xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã đã tổ chức và sắp xếp lại sản xuất, tinh giản bộ máy, thực hiện cân đối thu chi ở các cơ sở sản xuất và dịch vụ.

Trong hợp tác xã nông nghiệp, đã từng bước hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm theo Chỉ thị 100 của Ban bí thư Trung ương Đảng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, ruộng đất được quản lý và sử dụng tốt hơn. Hợp tác xã ổn định. Quan hệ sản xuất được giữ vững. Một số tổ dịch vụ được xây dựng.

Cùng với những thành tựu đạt được trên mặt trận kinh tế, trong kế hoạch 5 năm 1981 – 1985, Hiệp Hòa cũng đã giành được những thành tựu nhất định trên lĩnh vực văn hóa – xã hội.

Sự nghiệp giáo dục được duy trì và giữ vững. Bình quân hàng năm số học sinh phổ thông các cấp có trên 33.000 em, mẫu giáo có trên 8.000 cháu. Cơ sở  vật chất dạy và học được tăng cường. 97% số lớp học đã lợp ngói. Phong trào thi đua “Hai tốt” trong các trường học vẫn được đẩy mạnh. Trường phổ thông cơ sở Đức Thắng nhiều năm vẫn giữ được phong trào khá mọi mặt.

Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đã được các cấp uỷ Đảng và chính quyền quan tâm. Huyện đã căn bản hoàn thành 3 công trình vệ sinh (giếng nước, nhà tắm, hố xí hai ngăn). Mặc dù còn nhiều khó khăn về kinh tế nhưng các cơ sở y tế của huyện vẫn được củng cố và tăng cường về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ thầy thuốc, thuốc chữa bệnh… Tính đến cuối năm 1984, huyện có một bệnh viện, mỗi xã có một trạm xá với tổng 472 giường bệnh, trong đó bệnh viện có 150 giường, các trạm xá xã có 322 giường. Cũng năm này đã có 913.720 người đến khám bệnh, 14.400 người nằm điều trị.

Phong trào trồng và chế biến thuốc nam bước đầu đạt được một số kết quả. Việc khám chữa bệnh theo phương pháp y học cổ truyền đã được tiến hành ở bệnh viện huyện và một số trạm xá xã.

Cuộc vận động nếp sống văn minh, gia đình văn hóa mới có nhiều tiến bộ. Hội đồng nhân dân huyện khoá XI (1981- 1983) đã thông qua quy ước xây dựng nếp sống văn minh gia đình văn hóa mới.  Huyện đã chọn xã Hoà Sơn và hợp tác xã Trung Hưng để xây dựng điển hình về nếp sống mới. Công tác văn hóa văn nghệ được đẩy mạnh. Một số đội văn nghệ nghiệp dư đã được thành lập ở các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã, biểu diễn hàng trăm buổi phục vụ nhân dân. Huyện có 3 đội chiếu bóng, trong 2 năm 1982, 1983 đã chiếu 1.101 buổi phục vụ cho 1.291.000 lượt người xem. Công tác thông tin tuyên truyền đã động viên phong trào quần chúng nhân dân phấn khởi, hăng hái tăng gia sản xuất, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị của huyện.

Công tác quốc phòng và an ninh, thực hiện Chỉ thị số 38 của Ban bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quân sự địa phương và Nghị định số 83 của Hội đồng Bộ trưởng về quân sự hoá toàn dân. Dân quân tự vệ được biên chế thành các đại đội, trung đội theo địa bàn dân cư và cơ sở sản xuất. Lực lượng cơ động chiến đấu có 8.144 người, trong đó đảng viên có 1.468 đồng chí; lực lượng phục vụ chiến đấu và chiến đấu tại chỗ có 9.930 người, trong đó có 637 đảng viên.

Lực lượng tự vệ ở một số cơ quan cũng được củng cố và hoạt động có nền nếp, nhiều năm đạt danh hiệu Quyết thắng như Trạm cải tạo đất, hạt giao thông 19, Trường cấp III số 2… Đã có 16/26 xã bố trí các đồng chí đảng viên làm xã đội trưởng, 22/26 đồng chí bí thư Đảng uỷ trực tiếp làm chính trị viên xã đội. Các đơn vị tự vệ trong các cơ quan cũng dần dần được bổ sung, các đồng chí thủ trưởng hoặc thủ phó cơ quan  trực tiếp làm trung đội trưởng hoặc chính trị viên trung đội tự vệ. Lực lượng dân quân tự vệ của huyện thường xuyên được bồi dưỡng và nâng cao về trình độ kỹ thuật và tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Công tác tuyển quân hàng năm đều được thực hiện nghiêm chỉnh, bảo đảm yêu cầu cả về số lượng và chất lượng.

Thực hiện Chỉ thị 92 của Ban Bí thư Trung ương về “Xây dựng phòng tuyến an ninh nhân dân trong tình hình mới”, Ban chỉ huy quân sự và Công an huyện đã phối hợp chặt chẽ, chỉ đạo lực lượng dân quân và công an làm tốt công tác trật tự trị an. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được đông đảo cán bộ và nhân dân tham gia, đã xây dựng 230  tổ an ninh nhân dân. Ngày 23/ 3/1983, Bộ Nội vụ ra Chỉ thị số 04/ BNV về “Phát động phong trào học tập, thấm nhuần sâu sắc và thực hiện nghiêm túc 6 điều dạy của Bác Hồ kính yêu đối với lực lượng công an nhân dân”. Sau khi xã Hoàn Sơn (huyện Tiên Sơn) có quyết tâm thư gửi đồng chí Bộ trưởng Bộ Nội vụ về thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy và đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ phát động phong trào thi đua trong lực lượng công an trong toàn tỉnh với công an xã Hoàn Sơn, ngày 21/ 4/ 1984, Huyện uỷ Hiệp Hòa ra Chỉ thị số 11 gửi đảng uỷ các xã lãnh đạo lực lượng công an thi đua với xã Hoàn Sơn phấn đấu thực hiện tốt 6 điều Bác Hồ dạy, xã Hợp Thịnh 3 năm liền đạt danh hiệu quyết thắng (1983, 1984, 1985); 9 lượt đồng chí được công nhận danh hiệu chiến sĩ thi đua, 271 lượt cá nhân được công nhận chiến sĩ xuất sắc. Tỷ lệ đảng viên trong lực lượng công an huyện ngày càng tăng: năm 1983 có 19% năm 1985 là 31%.

Công tác xây dựng Đảng tập trung vào 3 nội dung: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đảng bộ rất coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Trong 3 năm 1983 – 1985, đã bồi dưỡng cho gần một nghìn đảng viên học chương trình lý luận sơ cấp và trung cấp. Việc học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng được tổ chức chặt chẽ. Qua học tập, lập trường tư tưởng được củng cố, trình độ lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên được nâng lên. Tập trung củng cố cơ sở Đảng, nâng cao tư cách đảng viên, giải quyết chi bộ yếu và đảng viên không đủ tư cách, gắn chặt công tác củng cố với công tác phát thẻ đảng viên. Cấp ủy đảng từ huyện đến cơ sở qua mỗi kỳ đại hội đều được kiện toàn bảo đảm về số lượng và chất lượng, năng lực lãnh đạo được nâng lên. Những cơ sở đảng yếu kém được củng cố, những đảng viên không đủ tư cách kiên quyết đưa ra khỏi đảng. Công tác kiểm tra tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm là giữ gìn kỷ luật trong Đảng. Thường xuyên kiểm tra các tổ chức Đảng, đảng viên về việc chấp hành Điều lệ Đảng. Chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và mọi nghĩa vụ được giao. Những đảng viên hay tổ chức cơ sở đảng vi phạm đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước bị xử lý nghiêm minh.

Cuối năm 1984, đồng chí Đặng Ngoạn được tỉnh ủy điều động lên tỉnh công tác, đồng chí Nguyễn Văn Thăng được bầu làm Bí thư Huyện ủy.

Trong 5 năm 1981 – 1985  công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Hiệp Hòa cũng bộc lộ nhiều yếu kém. Phong trào thi đua xây dựng chi, đảng bộ vững mạnh chưa thực sự sôi nổi, đến cuối năm 1985 mới có 18,7% (12/64) chi đảng bộ được công nhận vững mạnh. Số cơ sở đảng yếu kém còn nhiều. Không ít chi bộ sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo quá yếu, sinh hoạt đảng thất thường. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt chưa được coi trọng. Việc củng cố Đảng gắn với việc củng cố chính quyền, đoàn thể, hợp tác xã tuy có làm nhưng hiệu quả còn thấp. Công tác phát triển đảng không được chú ý, trong 3 năm 1983 – 1985 cả đảng bộ chỉ kết nạp được 161 đảng viên.

Hoạt động của Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp đã có chuyển biến đáng kể. Chính quyền đã vươn lên trong việc quản lý, điều hành các mặt kinh tế, xã hội và thực hiện luật pháp. Chính quyền từ huyện đến xã được kiện toàn. Trong Hội đồng nhân dân xã, tỷ lệ đảng viên chiếm 52,3%, Hội đồng nhân dân huyện tỷ lệ này là 57%.  Các cấp ủy đảng phân công những đồng chí có năng lực sang làm công tác quản lý Nhà nước.

Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cũng được kiện toàn tổ chức, từng bước đổi mới hình thức và nội dung hoạt động.

Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã đẩy mạnh phong trào “Ba xung kích làm chủ tập thể”, “Hành quân theo bước chân những  người anh hùng”. Đoàn luôn coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đoàn viên. Tổ chức đoàn được củng cố, đã kết nạp hàng trăm đoàn viên mới,. Hàng năm đoàn đã giới thiệu cho Đảng hàng trăm đoàn viên ưu tú. Đoàn luôn luôn là lực lượng nòng cốt trong phong trào làm thủy lợi, làm đường giao thông và lao động sản xuất, sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ  quốc.

Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng được các cấp ủy và chính quyền coi trọng. Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh đã tham gia phong trào “Kế hoạch nhỏ”, “Công tác Trần Quốc Toản” và xây dựng chi đội vững mạnh, hàng năm có gần 40% các em đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”. Hội liên hiệp phụ nữ với phong trào thi đua “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” đã thu hút đông đảo chị em tham gia. Hội đã động viên chị em hăng hái lao động sản xuất, giúp đỡ nhau giống, vốn phát triển sản xuất, chăn nuôi. Hội đã động viên chồng, con, em làm nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần làm tốt công tác hậu phương quân đội. Công đoàn đã động viên công nhân viên chức  đẩy mạnh phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa, phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, góp phần hoàn thành kế hoạch Nhà nước, đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống, thực hiện tốt cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch.

Mặt trận tổ quốc các cấp được kiện toàn tổ chức và từng bước đổi mới nội dung hoạt động. Mặt trận đã tổ chức cho đông đảo quần chúng nhân dân tham gia ý kiến vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết, xây dựng hội bảo thọ, tham gia phong trào giữ gìn trật tự trị an, phong trào đền ơn đáp nghĩa, phong trào xây dựng nếp sống văn hóa.

Hội nông dân đã tích cực vận động bà con nông dân đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn và tham gia vào các hoạt động khác đạt nhiều kết quả.Hoạt động của các đoàn thể nhân dân đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội của huyện trong kế hoạch 5 năm 1981 – 1985.

Sau 10 năm cùng nhân dân cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc (1976 – 1985), Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa đã đạt được những thành tựu trên các mặt công tác, nhưng cũng đứng trước những khó khăn, thách thức không nhỏ: Tình hình kinh tế, xã hội vẫn chưa ổn định, nhiều vấn đề vừa cấp bách vừa cơ bản vẫn chưa được giải quyết; Tốc độ phát triển kinh tế còn chậm, lương thực, thực phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tối thiểu của nhân dân. Giá cả tăng nhanh, tiền lương thực tế giảm, thị trường rối loạn, đời sống của cán bộ công nhân viên chức và lực lượng vũ trang gặp nhiều khó khăn. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ kinh tế – xã hội còn thiếu. Tiềm năng to lớn về đất đai, sức lao động chưa được khai thác và sử dụng hợp lý. Kết cấu hạ tầng còn lạc hậu. Chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ cương xã hội chưa nghiêm, một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tệ tham nhũng, quan liêu có chiều hướng phát triển… Tất cả những điều đó đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hòa phải tiếp tục phấn đấu mạnh mẽ hơn, phát huy những thành tựu đã đạt được, vượt qua khó khăn thử thách, thực hiện thắng lợi các mục tiêu  nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới.

 

Kỳ sau đăng tiếp: Chương II

NHỮNG THÀNH TỰU CƠ BẢN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG (1986 – 2010)

 

Bài liên quan

Gửi bình luận