Trang chủ Tin TứcQuê hương Hiệp HoàNgười Hiệp Hòa Giới thiệu sách: LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP HOÀ (1938-2010) phần tiếp theo…

Giới thiệu sách: LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ HUYỆN HIỆP HOÀ (1938-2010) phần tiếp theo…

Đăng bởi HiephoaNet

Tượng đài truyền thống

Ảnh: HươngGiang

III. CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ QUÊ HƯƠNG, XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG VỮNG MẠNH GÓP PHẦN ĐƯA CUỘC KHÁNG CHIẾN ĐẾN THẮNG LỢI (7/1949 – 7/1954)

Trong ba năm kháng chiến, “ta càng đánh càng mạnh”, trong khi đó “Pháp càng đánh càng suy nhược”, “tương quan lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi” (*) có lợi cho ta. Để cứu vãn tình thế, thực dân Pháp đưa ra kế hoạch Rơ-ve nhằm mở rộng phạm vi chiếm đóng ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, coi đây là chiến trường chính. Từ tháng 4 năm 1949 đến 5-1950, địch liên tiếp mở 8 chiến dịch lớn ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ.

Từ giữa năm 1949, thực dân Pháp bắt đầu nhòm ngó Hiệp Hoà và chuẩn bị lực lượng càn quét, đánh chiếm. Để thực hiện âm mưu đó, chúng đã cho máy bay ném bom bắn phá một số vùng của Hiệp Hoà, gây nhiều tội ác với nhân dân ta. Đặc biệt, ngày 09-5-1949, ba máy bay địch bất ngờ đến ném bom, bắn phá chợ Thắng giữa lúc chợ đang họp rất đông, làm hàng trăm người chết và nhiều người bị thương. Cả khu chợ và các làng quanh chợ bị tàn phá. Tội ác dã man này đã ghi sâu lòng căm thù cao độ của quân và dân trong huyện, càng nâng cao tinh thần cảnh giác và mài sắc ý chí quyết tâm “biến đau thương thành hành động” của quân và dân trong huyện. (*) Huyện uỷ và uỷ ban kháng chiến hành chính huyện đã họp và nghiêm khắc kiểm điểm, đề ra các biện pháp giải quyết hậu quả.

Nhiệm vụ hết sức quan trọng lúc này là động viên nhân dân và lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, sẵn sàng đánh địch càn quét, bảo vệ từng tấc đất của quê hương, tính mạng và tài sản của nhân dân.

Ngày 29-7-1949, Tỉnh uỷ ra chỉ thị động viên tinh thần dân chúng giết giặc, kêu gọi toàn đảng, toàn dân, toàn quân hăng hái “giết giặc lập công, đuổi giặc ra khỏi Bắc Giang”, đồng thời, uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh mở hội nghị quân dân chính rút kinh nghiệm chống các cuộc tấn công của địch và phát động Tuần lễ chiến tranh nhân dân nhằm “tổng kiểm soát, canh gác, phòng gian, bắt bọn buôn lậu. Tập kích, quấy rối tất cả các vị trí của địch. Phá hoại các tuyến đường giao thông, sửa sang làng chiến đấu, đào hầm bí mật, tiếp tế cho bộ đội”.

Đầu tháng 8-1949 để bao vây cô lập vùng tự do Hiệp Hoà, địch cho xây một loạt vị trí, đồn bốt ở Con Voi, Mỏ Thổ (Việt Yên), ngã ba Xà, Chờ, Yên Phụ (Yên Phong) và núi Đôi (Đa Phúc). Một giải đất suốt từ Xuân Cẩm đến Châu Minh, Mai Đình, Đông Lỗ, Lương Phong bị địch luôn luôn càn quét, bắn phá, khống chế.

Cuối năm 1949, Tỉnh uỷ điều đồng chí Nguyễn Hữu Thanh về làm Bí thư Huyện uỷ thay đồng chí Nguyễn Văn Bổn. Tháng 2/1950 Đại hội lần thứ II, Đảng bộ huyện được tổ chức tại xã Ngọc Sơn. Có 63 đại biểu, đại diện cho hơn 900 đảng viên trong toàn Đảng bộ dự đại hội. Đại hội đề ra nhiệm vụ cơ bản là: Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, ra sức tăng gia sản xuất, ổn định đời sống cho nhân dân, xây dựng lực lượng kháng chiến, giữ vững vùng tự do, đập tan âm mưu mở rộng vùng tạm chiếm của địch, cung cấp sức người, sức của cho cả nước để đánh thắng thực dân Pháp xâm lược.

Đại hội đã bầu Ban chấp hành gồm 13 đồng chí. 4 đồng chí trong Ban Thường vụ Huyện uỷ. Đồng chí Nguyễn Đình Trọng (Hoa) được bầu làm Bí thư Huyện uỷ.

Ngày 02-9-1949, đại đội bộ đội địa phương huyện được thành lập (phiên hiệu 529) gồm 3 trung đội bao gồm 125 cán bộ chiến sĩ, được trang bị 60 súng trường, mìn, lựu đạn đầy đủ, được tỉnh đội đánh giá là đại đội mạnh của tỉnh. Như vậy, lực lượng vũ trang huyện lúc này được xây dựng và tổ chức hoàn chỉnh bao gồm hai lực lượng: bộ đội địa phương và dân quân du kích, có mối quan hệ khăng khít với nhau, sự chỉ huy thống nhất từ trên xuống dưới. Sau khi thành lập, bộ đội địa phương được giao nhiệm vụ bảo vệ địa bàn huyện thay thế cho các đại đội độc lập bộ đội chủ lực rút lên trên để xây dựng các đơn vị quy mô lớn.

Mở đầu tuần lễ chiến tranh nhân dân, đêm 3-9-1949, lực lượng bộ đội địa phương Hiệp Hoà phối hợp với bộ đội địa phương Việt Yên quấy rối vị trí Con Voi, chặn đánh nhiều cuộc càn quét của địch lên xã Lương Phong, phá nhiều đoạn đường 19 (quốc lộ 37). Ngày 05-01 ta lại tiếp tục quấy rối vị trí Con Voi, diệt 6 tên địch, rải 200 tờ truyền đơn, đốt cháy 200 mét hàng rào tre. Những xã bị địch khống chế như Mai Đình, Châu Minh, Lương Phong, huyện đội đã lãnh đạo du kích và nhân dân đào hầm bí mật, đào hào, làm chướng ngại vật, cạm bẫy, xây dựng các đội du kích bí mật, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu khi bị địch càn quét.

Đầu năm 1950, theo chủ trương của Liên khu ủy Việt Bắc, Bắc Giang tiến hành đợt tổng phá tề, diệt bảo an trong toàn tỉnh từ ngày 02-2-1950 đến ngày 28-02-1950. Trong đợt hoạt động này, quân và dân Hiệp Hoà được giao nhiệm vụ:

– Phối hợp với bộ đội địa phương Việt Yên đánh làng tề Dĩnh Sơn.

– Phổ biến chủ trương phá tề rộng rãi trong đảng và ngoài quần chúng.

– Thành lập quỹ cứu tế giúp đỡ đồng bào tản cư, thành lập uỷ ban đón tiếp đồng bào tản cư từ vùng tạm chiếm lên.

– Vận động các đoàn thể quần chúng và nhân dân viết thư thăm hỏi đồng bào vùng bị địch kiểm soát.

– Phát thanh hưởng ứng khi các huyện Việt Yên, Yên Thế (*) phá tề.

– Bố trí lực lượng du kích ở những nơi xung yếu như Lương Phong, Đoan Bái, Đức Thắng đề phòng địch từ vị trí Mỏ Thổ, Con Voi lên càn quét.

Thực hiện âm mưu càn quét, cướp bóc vùng tự do, ngày 11-01-1950, lực lượng của địch gồm 400 lính Pháp và 400 lính nguỵ từ các vị trí Mỏ Thổ, Con Voi tiến lên càn quét các xã Lương Phong, Đoan Bái…

Ngày 20-3, địch lại huy động một lực lượng lớn gồm 5000 quân từ các vị trí Con Voi, Mỏ Thổ, Đáp Cầu, Chờ, Yên Phụ, Núi đôi, có máy bay, tàu chiến yểm hộ, mở một trận tổng càn quét lên Hiệp Hoà nhằm phá hậu phương kháng chiến của ta, chụp bắt các cơ quan tỉnh Bắc Ninh, làm lung lạc tinh thần kháng chiến của nhân dân. Chúng đã bắn chết 14 người, hai người bị thương, đốt cháy 267 nóc nhà, cướp đi 22 con trâu bò, hàng trăm tạ thóc. Do có chuẩn bị từ trước nên các cơ quan và lực lượng vũ trang của ta đã bảo toàn được lực lượng. Bộ đội địa phương sát cánh cùng bộ đội chủ lực, kiên quyết chiến đấu chặn đánh địch ở Đức Thắng, Danh Thắng, Lương Phong… gây cho địch nhiều thiệt hại.

Ngoài hai trận càn quét lớn trên đây, trong 3 tháng đầu năm 1950, địch còn tổ chức 5 trận càn quét với lực lượng từ 100 đến 500 tên vào địa phận Hiệp Hoà.

Ngày 04-3-1950, chúng càn vào khu vực Chợ Gió (Lương Phong) bắn chết 8 người, bị thương một người, đốt 40 nóc nhà, cướp đi 2 con trâu và hàng trăm nồi thóc. Dân quân du kích đã chiến đấu rất dũng cảm để bảo vệ làng, tiêu diệt một tên sĩ quan và một lính Pháp.

Ngày 23-3, địch từ các vị trí thuộc huyện Yên Phong, càn quét sang các xã Châu Minh, Mai Đình. Dựa vào hào, luỹ tre, chướng ngại vật và trận địa bố phòng từ trước, dân quân du kích kết hợp cùng với nhân dân, dũng cảm chiến đấu, kiên quyết giữ làng, gây cho địch nhiều thương vong.

Ngày 29-6-1950, tiểu đoàn 89 (*) phối hợp với bộ đội địa phương Hiệp Hoà chống địch ở xã Đông Lỗ, giữ được thóc lúa của dân không bị chúng cướp đi và bắt được gần 200 tề phản động. Chiến thắng này đã làm cho nhân dân vùng tự do cũng như vùng tạm chiếm rất phấn khởi và tin tưởng. Bọn tề điệp, chỉ điểm hoảng sợ.

Cuối năm 1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên Giới nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở đường giao thông với Trung Quốc và phe dân chủ, đại hậu phương của ta, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Liên khu uỷ giao cho quân và dân Bắc Giang tổ chức tuần lễ thi đua giết giặc lập công, nghi binh phô trương thanh thế, phao tin làm cho địch hoang mang, tích cực phá tề và củng cố cơ sở, đề phòng địch đánh lên vùng tự do Hiệp Hoà, Yên Thế.

Ngày 21-9-1950 Tỉnh uỷ phát động tuần lễ thi đua giết giặc lập công phối hợp với chiến dịch Biên Giới. Trong đợt hoạt động này, bộ đội địa phương huyện và dân quân du kích các xã tổ chức diễn tập chiến đấu thường xuyên, đào thêm 748 hố cá nhân tránh máy bay, củng cố lại các làng chiến đấu, chuẩn bị 212 chiếc thuyền vượt sông, phối hợp với bộ đội địa phương Việt Yên liên tục quấy rối địch ở vị trí Con Voi.

Bị thất bại ở Biên giới, quân Pháp liều lĩnh huy động 5 tiểu đoàn mở trận càn quét đánh lên Hiệp Hoà, nam Thái Nguyên (*) nhằm đánh phá vùng tự do của ta, phá hoại mùa màng, củng cố tinh thần binh lính sau những thất bại liên tiếp của chúng trong tuần lễ “thi đua giết giặc lập công” của ta.

Quân khu chỉ thị cho quân, dân Bắc Giang phải đánh mạnh vào quân Pháp, “tiêu diệt sinh lực địch. Nếu chúng bảo toàn được lực lượng là một thất bại quan trọng của ta”.(**)

Tháng 5/1951, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III được tổ chức thành công trong điều kiện kháng chiến ác liệt. Đại hội đề ra nhiệm vụ cơ bản là: Thực hiện đường lối kháng chiến, kiến quốc, phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá mới trong nhân dân, huy động mọi nguồn lực cho kháng chiến thắng lợi.

Có 98 đại biểu tiêu biểu trong phong trào chiến đấu và sản xuất về dự đại hội. Đại hội đã bầu BCH gồm 13 đồng chí, 3 đồng chí trong Ban Thường vụ Huyện uỷ. Đồng chí Hoàng Thế được bầu làm Bí thư Huyện uỷ.

Ngày 29-9-1950, địch tiến công lên Hiệp Hoà. Theo sông Cầu, chúng đổ bộ một số quân lên bến Vát, Hà Châu, đồng thời từ vị trí Mỏ Thổ, Con Voi, quân địch đánh lên Đức Thắng, Đoan Bái, Đông Lỗ, Trung Định…

Các đơn vị tiểu đoàn 61 của tỉnh đã phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích các xã Đông Lỗ, Bắc Lý, Đức Thắng… đã anh dũng chiến đấu đánh địch, gây cho chúng nhiều thương vong. Ngày 02-10 ta chặn đánh 300 tên địch từ Đức Thắng càn lên vùng chợ Dĩnh, diệt hàng chục tên, thu một số vũ khí và ngày 03-10 lại tiếp tục tấn công tiêu diệt địch ở Đồi Cờ, diệt 15 tên. Từ tháng 10 năm 1950 đến tháng 12-1950 địch còn mở nhiều trận càn quét vào huyện ta, nhưng đều bị quân và dân trong huyện chặn đánh, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Tháng 7-1951, địch tiến hành xây dựng phòng tuyến “Boong-ke” ở tỉnh ta để ngăn cách giữa vùng tạm chiếm và vùng tự do. Ở Hiệp Hoà, địch cho quân đuổi dân, dồn làng để lập một vành đai trắng suốt từ Mai Đình đến Châu Minh, Đông Lỗ làm cho hàng nghìn mẫu ruộng phải bỏ hoang, nhân dân phải tản cư sang các xã thượng huyện. Địch từ các vị trí Con Voi, Can Vang, Yên Phụ, Lương Tân, ngã ba Xà… thường xuyên càn quét, o ép, bắn phá, ném bom, chà đi sát lại ba xã này rất khốc liệt. Cuộc đấu tranh phá vành đai trắng của quân và dân ta càng trở nên gay go, quyết liệt.

Tại Mai Đình, chi bộ họp quyết định phương hướng hành động: “Giặc mạnh, ta đánh, giặc sơ hở, ta đánh, vừa chiến đấu, vừa sản xuất”. Trung đội du kích Mai Đình kiên trì bám đất, bám dân, lập ụ chiến đấu, những đường hào độc đạo xuyên qua những lớp tường dày, nối từ nhà nọ sang nhà kia, hầm bí mật phát triển. Ở Mai Thượng, xã Mai Đình là nơi diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch. Có lần, địch ồ ạt tấn công vào làng, nhưng vẫn không chiếm nổi. Dân quân du kích chỉ với vũ khí thô sơ, kém hẳn địch, nhưng không sợ hy sinh, chiến đấu rất dũng cảm, gây cho địch nhiều thương vong, có trận bắt sống lính địch, thu vũ khí, làm nức lòng nhân dân trong xã. Đêm đêm, các chiến sĩ du kích bí mật bơi qua sông vào hàng rào bốt giặc, tháo gỡ hàng trăm quả mìn về làm vũ khí, tối đến, du kích, dân quân và những người được cử ở lại làng xóm vẫn tăng gia sản xuất, vì vậy nhân dân vẫn có đủ thóc ăn, đóng thuế nông nghiệp và còn có thóc dự trữ để nuôi bộ đội và du kích.

Để phá hoại từ trong lòng hậu phương của ta, địch còn dùng thủ đoạn tung gián điệp, biệt kích để chỉ điểm cho máy bay bắn phá và do thám vùng tự do Hiệp Hoà, đặc biệt là vùng Hoàng Vân, Đức Thắng địch rất chú ý. Từ đầu năm 1951 đến năm 1953, địch thường xuyên cho máy bay ném bom, bắn đại bác vào các vùng đông dân, cơ quan kho tàng của huyện và các huyện bạn sơ tán sang. Việc thực hiện chính sách thuế nông nghiệp, giảm tô, giảm tức… bị địch phản tuyên truyền gây cho ta nhiều khó khăn. Những con đường đưa người và vận tải hàng hoá từ vùng tạm chiếm ra vùng tự do bị địch bắn phá, phục kích nhiều lần.

Để triệt phá những ổ nhóm gián điệp, phản động, bảo vệ an toàn hậu phương, tỉnh uỷ và uỷ ban kháng chiến hành chính đã mở cuộc vận động phòng gian bảo mật sâu rộng trong nhân dân. Khẩu hiệu “3 không” (không nghe, không biết, không thấy), nội quy phòng gian, bảo mật được phổ biến đến từng người dân. Các cơ quan huyện đã xây dựng và củng cố ban bảo vệ, duy trì tất cả các biện pháp bảo vệ nội bộ. Từ giữa năm 1951, các xã đều thành lập Ban công an, do một đồng chí chi uỷ viên phụ trách. Huyện và xã đều đặt các trạm kiểm soát công khai những người lạ mặt ra vào địa phương, kiểm soát bất chợt những chỗ đông người, theo dõi, kiểm tra những người nghi vấn.

Được sự chỉ đạo của ngành chuyên môn, công an huyện đã khám phá được nhiều ổ nhóm gián điệp nguy hiểm, điển hình là vụ bắt tên Cai Sửu, một tên do thám lợi hại của Phòng nhì Pháp từ Đáp Cầu lên Hiệp Hoà hoạt động. Một số tên trộm cướp, cờ bạc, buôn lậu chuyên nghiệp cũng bị bắt giữ tập trung cải tạo.

Thắng lợi trên mặt trận quân sự của quân và dân Hiệp Hoà đã góp phần tiêu hao một phần sinh lực địch, thi đua cùng với chiến trường chính, phá vỡ kế hoạch mở rộng vùng chiếm đóng của chúng, bảo vệ vững chắc hậu phương kháng chiến của ta.

Cuối năm 1951, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai đã đề ra ba nhiệm vụ lớn cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong giai đoạn mới, trong đó xây dựng và củng cố hậu phương là một nhiệm vụ hết sức quan trọng.

Về kinh tế tài chính, Trung ương chỉ rõ phải ra sức phát triển nền kinh tế kháng chiến đủ đáp ứng yêu cầu vừa cung cấp lương thực, thực phẩm… cho chiến trường, vừa bước đầu cải thiện đời sống nhân dân, bồi dưỡng sức kháng chiến lâu dài.

Tháng 1/1952 đồng chí Trương Công Đồng được Tỉnh uỷ điều về làm Bí thư Huyện uỷ thay đồng chí Hoàng Thế về tỉnh công tác.

Tháng 4/1952, Tỉnh uỷ điều động đồng chí Mai Văn Kiện (tức Thanh Sơn) làm Bí thư Huyện uỷ thay đồng chí Trương Công Đồng.

Đầu năm 1952, Trung ương đề ra những nhiệm vụ cụ thể, trong đó sản xuất, tiết kiệm là một trong những công tác trọng tâm. Ngày 17-3-1952, Đảng và Chính phủ tổ chức lễ phát động phát triển sản xuất và tiết kiệm trong toàn quốc. Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi nhân dân cả nước hăng hái tham gia cuộc vận động sản xuất và tiết kiệm, động viên toàn dân hăng hái thi đua tăng gia sản xuất với khí thế “Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”. Chấp hành chủ trương đó, ngày 30-3-1952 tỉnh uỷ và Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh đã đề ra kế hoạch và xác định công tác sản xuất là nhiệm vụ trung tâm, nhất là nền sản xuất nông nghiệp, thực hành tiết kiệm.

Đầu tháng 4-1952, Huyện uỷ và uỷ ban kháng chiến hành chính huyện đã mở hội nghị phát động phong trào thi đua sản xuất và tiết kiệm trong mỗi người, mỗi gia đình, mỗi đoàn thể và đề ra mức phấn đấu tăng sản lượng lương thực năm 1952 là 15% so với năm 1951.

Từ khi địch lập vành đai trắng, ở các xã phía đông nam của huyện thường xuyên bị địch càn quét, cướp phá, uy hiếp tinh thần nhân dân, bắn giết trâu bò, hàng nghìn mẫu ruộng bị bỏ hoang, chúng phá kè thác Huống, làm cho không có nước cày cấy, thả côn trùng phá hoại mùa màng của ta…

Để khắc phục những khó khăn đó, đảm bảo sản xuất, huyện đã tổ chức tuần lễ toàn dân canh tác vào đầu tháng 2 năm 1952, vận động nhân dân trồng màu, cấy thêm lúa chiêm, mở chiến dịch tăng gia sản xuất từ ngày 01 đến 30 tháng 3, tổ chức ngày tăng gia sản xuất Chúc thọ Hồ Chủ tịch, in lời hiệu triệu tăng sản xuất của Hồ Chủ tịch gửi về các thôn, xóm, phát động phong trào thi đua học tập anh hùng Hoàng Hanh và chiến sĩ thi đua Trịnh Xuân Bái. (*) Ở các xã Châu Minh, Mai Đình, Đông Lỗ, đảng bộ đã vận động nhân dân trở về làng xóm làm ăn, phục hoá, vỡ rậm đất đai bằng nhiều hình thức. Lực lượng bộ đội địa phương, dân quân du kích ngày đêm có mặt trên vành đai bảo vệ nhân dân sản xuất, bảo vệ mùa màng. Đây là cuộc chiến đấu gian khổ, ác liệt và lâu dài. Nhiều đồng bào và chiến sĩ đã đổ máu, hy sinh để giữ từng tấc đất. Đảng bộ và chính quyền các cấp còn lãnh đạo nhân dân chuyển hướng canh tác, làm nhiều công trình thuỷ lợi nhỏ để lấy nước tưới cho lúa và hoa màu. Những cố gắng đó đã đem lại kết quả thiết thực. Tính đến cuối năm 1952 toàn huyện đã cấy được 2014 mẫu lúa ba giăng và lúa chiêm, vượt kế hoạch 215 mẫu, trồng 4215 mẫu hoa màu, góp phần đảm bảo đời sống nhân dân và đóng góp cho kháng chiến.

Trên mặt trận đấu tranh kinh tế với địch, do vị trí tiếp giáp với vùng tạm chiếm và là cửa ngõ đi lên Việt Bắc nên Hiệp Hoà là đầu mối buôn bán từ vùng tạm chiếm ra vùng tự do. Để ngăn chặn không cho hàng hoá của địch (chủ yếu là hàng xa xỉ phẩm), huyện đã tăng cường thêm nhân viên kiểm soát ở chợ Chã, Trại Cờ, Đức Thắng, đặt thêm trạm gác ở Bến Gầm, Mai Thượng, tổ chức các cuộc tổng kiểm soát, vây bắt bọn con buôn, đồng thời ta phát triển thu mua sản phẩm nông, lâm nghiệp và bán hàng hoá tiêu dùng, nguyên vật liệu cho sản xuất, mở cuộc vận động nhân dân dùng hàng nội hoá. Khuyến kích một số cơ sở sản xuất tiểu thủ công (do đồng bào tản cư lập ra) như sản xuất cày bừa, chảo gang, làm giấy, thuỷ tinh… Tuy sản phẩm không nhiều nhưng cũng phục vụ cho nhu cầu của nhân dân. Song chúng ta còn nhiều thiếu sót, chưa triệt để, vì “các đồng chí chúng ta còn coi nhẹ đấu tranh về kinh tế và tài chính với địch”. (*)

Việc đón tiếp các cơ quan và đồng bào tản cư đến Hiệp Hoà cũng là một đóng góp và cố gắng lớn. Từ đầu năm 1947, Đảng bộ và nhân dân trong huyện đã đón tiếp hàng chục cơ quan của Trung ương, của tỉnh Bắc Ninh, huyện Yên Phong, Từ Sơn và hàng vạn đồng bào từ các vùng tạm chiếm, có chiến sự chuyển đến. Do có sự chuẩn bị tốt từ trước nên các cơ quan chuyển đến đều nhanh chóng ổn định chỗ ăn, ở, làm việc… đảm bảo an toàn bí mật. Nhân dân không những sẵn sàng nhường nhà cửa, giúp đỡ phương tiện sinh hoạt mà còn san sẻ lương thực, vườn ruộng tìm công ăn, việc làm để giải quyết đời sống cho đồng bào tản cư, vận động họ vào các tổ chức quần chúng để góp phần mở mang kinh tế và tiếp tục tham gia kháng chiến.

Trước những yêu cầu và nhiệm vụ mới, từ năm 1950, vấn đề đặt ra đối với Đảng ta là phải tăng cường hơn nữa công tác củng cố xây dựng Đảng để đủ sức lãnh đạo cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Những năm 1948, 1949, số lượng đảng viên phát triển rất mạnh, nhưng chất lượng chưa được chú ý. Nhiều đảng viên mới không nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng. Trình độ nhận thức và khả năng tổ chức còn thấp… đó là những trở ngại lớn trong công tác lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến đang ở giai đoạn gay go, quyết định. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng chủ trương tiến hành cuộc vận động “đào tạo cán bộ, học tập lý luận”, “phê bình và tự phê bình” trong Đảng. Tháng 9-1950, Trung ương quyết định tạm ngừng phát triển Đảng để củng cố.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, Đảng bộ Hiệp Hoà đã mở nhiều lớp học cho cán bộ, đảng viên bằng nhiều hình thức (tập trung hoặc phân tán) theo từng chi bộ. Tài liệu học tập chính là cuốn “Sửa đổi lề lối làm việc” của Hồ Chủ tịch, “Cách mạng dân chủ mới” của đồng chí Trường Chinh và một số tài liệu về chủ trương, đường lối của Đảng. Phương châm học tập và lý luận liên hệ với thực tiễn. Cán bộ, đảng viên lấy những điều đã học để xem xét ưu khuyết điểm của mình trong việc chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và chính phủ, đồng thời triển khai cuộc vận động “phê  bình và tự phê bình” tiến hành củng cố Đảng theo chủ trương của Trung ương.

Tháng 10/1950, Tỉnh uỷ cử một đoàn hướng dẫn xuống Hiệp Hoà phối hợp cùng làm ở 4 xã: Toàn Thắng (*), Mai Đình, Tiên Tiến (**), Ngọc Sơn. “Những chi bộ này hiện xảy ra tình trạng chia bè phái, tham lam, cầu an, thủ công nghiệp, biển thủ công tác”. (***) Từ đầu năm 1951, cuộc vận động đã được tiến hành ở hầu hết các chi bộ. Những đảng viên yếu kém, nhu nhược, mất phẩm chất bị khai trừ ra khỏi Đảng. Các chi uỷ cũng được kiện toàn theo quy định. Theo chủ trương của Trung ương: Coi trọng củng cố hơn là phát triển, trong thời gian này, công tác phát triển Đảng ở các chi bộ được tiến hành rất thận trọng. Đảng viên mới kết nạp ít, nhưng đảm bảo chất lượng. Đó là những người ưu tú, đã có nhiều thành tích trong chiến đấu, công tác và lao động, học tập.

Thông qua những đợt củng cố và xây dựng Đảng, đội ngũ đảng viên đã được chọn lọc, nâng cao hiểu biết về quan điểm, đường lối kháng chiến của Đảng, xác định được nhiệm vụ và phẩm chất, đạo đức cách mạng, chống các biểu hiện quan liêu, cục bộ, bè phái, xa rời quần chúng, cơ sở Đảng được củng cố, sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng lên.

Tháng 6/1953, Tỉnh uỷ điều động đồng chí Mai Văn Kiệm nhận công tác khác và phân công đồng chí Hoàng Mạnh Hải làm quyền Bí thư Huyện uỷ.

Từ năm 1953, do yêu cầu của cuộc kháng chiến ngày càng lớn, đặt ra những nhiệm vụ hết sức nặng nề về phát triển sản xuất, thực hiện người cày có ruộng, đem lại quyền lợi thiết thực cho nhân dân. Cho đến trước khi phát động giảm tô và cải cách ruộng đất, Hiệp Hoà đã thực hiện chính sách ruộng đất và từng bước thu được kết quả. Cuối năm 1950, toàn bộ ruộng đất của bọn thực dân Pháp, Việt gian, đồn điền vắng chủ trong huyện được chia cho nông dân.

Để hậu phương tiếp tục được củng cố, động viên các chiến sĩ ngoài mặt trận hăng hái chiến đấu tiêu diệt địch, cần phải giải quyết một vấn đề căn bản làm động lực là toàn bộ ruộng đất phải về tay dân cày. Hội nghị trung ương lần thứ tư (1-1953) đã quyết định “Thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng, tiêu diệt chế độ sở hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của bọn đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ sở hữu của địa chủ Việt Nam và ngoại kiều, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân”. Trong năm 1953 phải “phát động quần chúng nông dân triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, chia lại công điền, chia hẳn ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian cho nông dân”. (*)

Tháng 4-1953, Liên Khu uỷ Việt Bắc ra nghị quyết phát động quần chúng giảm tô ở những vùng tự do. Từ ngày 25-4 đến ngày 12-5-1953, Tỉnh uỷ họp Hội nghị cán bộ đề ra công tác trọng tâm là phát động quần chúng theo Nghị quyết của Trung ương và Liên Khu ủy. Sau hội nghị, Tỉnh uỷ mở lớp huấn luyện cho một số cán bộ chủ chốt của các huyện để về hướng dẫn cơ sở học tập. Tháng 6-1953, huyện uỷ Hiệp Hoà đã mở một lớp cho cán bộ các cơ quan huyện, 30 lớp cho cán bộ xã, một lớp cho bộ đội địa phương với tổng số người học là 683 người. Đầu tháng 7-1953, huyện tiến hành giảm tô đợt I thí điểm ở hai xã Hoà Sơn và Quyết Tiến. Từ cuối năm 1953 và đầu năm 1954, các xã trong huyện lần lượt tiến hành giảm tô.

Song song với công tác phát động quần chúng đòi giảm tô, huyện cũng tiến hành chấn chỉnh tổ chức. Các cơ sở Đảng đã loại 32 người ra khỏi các Ban chi uỷ (bao gồm 3 địa chủ, 11 phú nông, 18 trung nông) bổ sung vào các ban chi uỷ 21 đồng chí thành phần trung nông và 11 đồng chí là thành phần bần nông).

Sau hơn một năm phát động nông dân giảm tô, bộ mặt nông thôn trong huyện đã có những thay đổi đáp ứng được nguyện vọng của nông dân. Sức sản xuất bước đầu được giải phóng. Cuộc đấu tranh giai cấp ở nông thôn đã có những chuyển biến quan trọng. Thắng lợi này đã có tác dụng củng cố hậu phương thêm vững mạnh, nhân dân trong huyện hăng hái sản xuất, đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến, tạo thành động lực to lớn cho bộ đội chiến thắng quân thù.

Tình hình quân sự năm 1953 trong phạm vi toàn quốc có nhiều thay đổi quan trọng. Ở các chiến trường chính, quân đội ta luôn giành được ưu thế về binh lực và giữ quyền chủ động tiến công. Trong khi đó, thực dân Pháp lâm vào tình thế rất nguy ngập. Những thất bại liên tiếp của chúng về quân sự và những khó khăn về kinh tế đã làm nhụt ý chí xâm lược của giới cầm quyền Pháp. Thực tế đã đặt nước Pháp trước nguy cơ bị thua trận. Để cứu vãn tình thế, tháng 5-1953, chính phủ Pháp cử tướng Na-va làm tổng chi huy quân đội Pháp ở Đông Dương. Tháng 7-1953, kế hoạch Na-va ra đời với ý đồ của cả Pháp và Mỹ định giải quyết gọn vấn đề Đông Dương trong vòng 18 tháng.

Tháng 9-1953, Bộ chính trị Trung ương Đảng thông qua kế hoạch tác chiến đông xuân 1953-1954, quyết tâm giữ vững quyền chủ động đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch trong phạm vi cả nước và phối hợp trên toàn chiến trường Đông Dương. Nghị quyết của Bộ chính trị được quán triệt tới tất cả các cấp uỷ Đảng và ban chỉ huy các đơn vị bộ đội.

Đầu tháng 2-1954, Tỉnh uỷ triệu tập Hội nghị mở rộng để nghiên cứu Nghị quyết của Bộ chính trị và nhiệm vụ của tỉnh trong Đông Xuân 1953-1954.

Căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, huyện uỷ Hiệp Hoà xác định nhiệm vụ chính là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi để bảo vệ vùng tự do và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến.

Từ đầu năm 1954, nhất là khi quân ta đánh Điện Biên Phủ (13-3-1954), địch từ các vị trí ở Việt Yên, Yên Phong liên tiếp càn quét, đánh phá vùng vành đai, không cho nhân dân sản xuất… Chúng tung gián điệp để điều tra, theo dõi các hoạt động của ta. Chúng rải truyền đơn xuyên tạc chính sách thuế nông nghiệp, xuyên tạc chiến thắng Tây Bắc, Thượng Lào, đề cao đế quốc Mỹ, tuyên truyền cuộc sống no đủ trong vùng địch kiểm soát. Máy bay địch ngày đêm bắn phá đường giao thông, làng xóm, cơ quan, kho tàng nơi đông người như Đức Thắng, Trại Cờ… giết hại nhiều dân thường.

Theo chủ trương của tỉnh, bộ đội địa phương huyện phối hợp cùng bộ đội chủ lực và dân quân du kích các xã bố trí chặn đánh các cuộc cán quét của địch, đào thêm hố tránh máy bay, rào làng, củng cố các trạm gác dọc đường giao thông, phát động nhân dân đề cao cảnh giác, phòng gian bảo mật. Những nơi địch thường xuyên càn quét bắn phá, ta vận động nhân dân đi sơ tán, cất giấu thóc lúa, của cải, nông cụ sản xuất không cho địch cướp bóc phá hoại.

Đề phòng địch tấn công lên vùng tự do, thực hiện chủ trương của tỉnh, huyện đã chỉ đạo phá nhiều đoạn đường giao thông trên các tuyến Thắng đi Lữ, đi Vát, Mai Đình, Trại Cờ, Nhã Nam…, đồng thời thành lập ban bảo vệ đường giao thông, vận chuyển kho tàng theo hướng bố trí của ta ở cả huyện và các xã.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, thực hiện quyết tâm của Đảng “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng”. Hiệp Hoà đã cử 200 dân công cùng 200 xe đạp thồ đi phục vụ chiến dịch. Ngoài ra còn huy động hàng nghìn lượt dân công và thanh niên xung phong đi phục vụ tuyến đường đèo Cà, tu bổ các đoạn đường giao thông trong tỉnh bị địch phá hoại và phục vụ trên các mặt trận khác.

Ngày 07-5-1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt, quân ta đã đập tan kế hoạch Na-va. Chiến thắng lừng lẫy Điện Biên làm nức lòng quân dân cả nước và bè bạn khắp năm châu, đồng thời dồn địch vào tình thế vô cùng khốn quẫn.

Hoà nhịp với chiến thắng Điện Biên, quân và dân trong huyện liên tiếp tiến công địch. Dân quân du kích các xã vành đai ngày đêm tuyên truyền, gọi loa kêu gọi binh lính địch ở các vị trí Lương Tân, Ngã ba Xà… bỏ súng quay về với nhân dân, hưởng lượng khoan hồng của Đảng và Chính phủ. Trước thế mạnh áp đảo của ta, địch phải rút vào phòng ngự, co cụm để khỏi bị tiêu diệt, không dám càn quét ra vùng tự do.

Ngày 20-7-1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết và ngày 27-7-1954 toàn chiến trường Đông Dương ngừng bắn.

Ngày 04-8-1954, quân Pháp phải nhục nhã rút khỏi thị xã Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang được hoàn toàn giải phóng. Một nhiệm vụ mới, cấp bách nhưng rất phấn khởi là nhân dân Hiệp Hoà được đón các đơn vị bộ đội – những chiến sĩ giải phóng Điện Biên – những anh lính Cụ Hồ, những người con yêu quý của nhân dân đến đóng trên địa phương mình. Phong trào các hội mẹ chiến sĩ nhận “đỡ đầu” và chăm sóc từng chiến sĩ, phong trào kết nghĩa quân – dân, phong trào nhường cơm xẻ áo, nhường nhà để ở… đậm đà tình nghĩa quân dân cá nước. Cùng thời gian này Đảng bộ, UBHC kháng chiến huyện đã lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân tản cư nhanh chóng trở về quê hương, ổn định tình hình, bắt tay vào nhiệm vụ mới, đưa phong trào cách mạng của huyện hoà nhịp chung với phong trào của nhân dân trong tỉnh và nhân dân cả nước.

Sau hơn 9 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà đã vượt qua hy sinh gian khổ và giành được những thắng lợi có ý nghĩa to lớn.

Đảng bộ đã xác định đúng đắn và vận dụng linh hoạt đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh, đề ra những chủ trương, nhiệm vụ thích hợp với hoàn cảnh địa phương, vừa xây dựng, củng cố lực lượng, vừa dũng cảm, chiến đấu kiên cường đánh giặc để giữ từng tấc đất của quê hương, xây dựng hậu phương vững mạnh, đóng góp ngày càng nhiều sức người, sức của cho kháng chiến.

Nhân dân Hiệp Hoà đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước và cách mạng, đoàn kết một lòng trong khối đại đoàn kết toàn dân, trở thành bộ phận hữu cơ, hợp thành sức mạnh tổng hợp đưa sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc đến thắng lợi hoàn toàn.

*        *       *

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, Đảng bộ và nhân dân Hiệp Hoà đã trải qua chặng đường đầy gian lao thử thách, nhưng cũng đầy thắng lợi vẻ vang.

Từ cơ sở Đảng đầu tiên ra đời trong thời kỳ vận động cách mạng tháng Tám, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ Hiệp Hoà xứng đáng với trọng trách và vinh dự là đội tiên phong cách mạng, được tôi luyện dày dạn trong đấu tranh, thử thách, đã lãnh đạo nhân dân trong huyện góp phần cùng quân dân cả nước làm nên kỳ tích lịch sử: Lật đổ chính quyền thực dân, đánh bại chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Từ chỗ là người dân nô lệ, mất nước, nhân dân ta đã trở thành người làm chủ, cùng cả nước bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

(Kỳ sau đăng tiếp)…

BBT Hiephoa.net

Bài liên quan

Gửi bình luận