Trang chủ Tin TứcKinh tế Đến với Detrang fam Nông trại giáo dục của bà Ngô Thị Kim – quê Đại Thành

Đến với Detrang fam Nông trại giáo dục của bà Ngô Thị Kim – quê Đại Thành

Đăng bởi HiephoaNet

Nhận lời mời của bà Ngô Thị Kim một trong những Doanh nhân Câu lạc bộ người Hiệp Hòa tại Hà Nội vào ngày cuối tuần để đến thăm nông trại giáo dục Detrang farm,  nông trại giáo dục theo mô hình Working farm đầu tiên tại Việt Nam. Nông trại có diện tích hơn 12 ha, tọa lạc ngay dưới chân dãy núi Ba Vì mang đến niềm vui tuổi thơ, những trải nghiệm tự nhiên quý báu, giúp tăng thêm kiến thức về thiên nhiên, rèn luyện kỹ năng sống, trau dồi tìn yêu thương bằng các hoạt động vui chơi gần gũi với nông nghiệp, đơn giản nhưng mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc.

Xin giới thiệu cùng bạn đọc yêu Hiephoa.net, tỉnh Bắc Giang và tỉnh bạn một nơi nghỉ dưỡng vừa trải nghiệm vừa khám phá thiên nhiên kỳ thú này tại Thôn Ké Mới – Xã Tản Lĩnh – Huyện Ba Vì – TP. Hà Nội

Bạn có thể nghỉ ngơi ở những căn phòng bình dị sạch sẽ và đầy đủ tiện nghi này sau đi thăm quan trải nghiệm

  1. Điểm xuất phát Chợ quê

Detrang farm là bến đỗ của chiếc vé đi tuổi thơ  tìm về không gian nông thôn với cổng làng, cây đa, đàn trâu, chợ quê và đủ thứ gia cầm quý, là không gian xanh của vườn rau, vườn cây ăn quả và đầm sen

Chợ quê là không gian mà chủ đầu tư muốn tái hiện phảng phất vài nét về kiến trúc người việt ở đồng bằng, mang tính giáo dục, gợi nhớ về nguồn cội, gợi nhớ về quê hương

  • Cổng làng : Lấy cảm hứng từ làng cổ đường lâm được xây bằng đá ong lợp ngói di với tỷ lệ thu nhỏ. Qua 2 cánh cổng làng là cây đa, giếng nước, ao sen… được đặt trong một không gian sinh hoạt cộng đồng mang đậm bản sắc của một làng thuần nông và dấu ấn của một nền văn minh lúa nước.
  • Theo ý đồ của chủ đầu tư, bên cạnh giếng nước, ao sen sẽ có một ngôi nhà mái ngói theo kiến trúc thôn quê để trưng bày các hiện vật  làng quê cổ nhưng do thời gian gấp rút nên vẫn chưa thể hoàn thành, xin được lỗi hẹn với quý khách vào một tương lai gần nhất.
  • Không chỉ tái hiện khung cảnh làng quê qua cảnh vật mà quý khách còn được tìm về tuổi thơi với những trò chơi dân gian mang đậm nét truyền thống như nhảy dây, ô ăn quan, chơi chắt, hơi chuyền. Xa xa trên đồi trâu là hình ảnh chú bé đang thổi sáo thả diều và rừng trúc như một nghệ thuật sắp đặt của một góc ký ức tưởng chừng bị quên lãng
  • Ao cá : Du khách sẽ được chèo thuyền nan, tự tay câu cá về nướng
  • Nhìn xa xa đồi thả trâu là dãy núi Tản Lĩnh, Ba Vì, nơi có ngôi đền thượng linh thiêng thờ thánh Tản Viên hay còn gọi là Sơn Tinh. Người dân thập phương thường lui đến đây vào dịp đầu năm để cầu bình an và tài lộc
  • Đi qua chợ quê, dọc theo con đường dẫn lên chuồng ngựa là 2 hàng cây mít thái. Mít thái là cây cho quả sớm, chỉ sau khoảng gần 2 năm cây sẽ cho trái. Cây mọc khỏe phát triển nhanh, rất sai quả. Qủa thường nặng từ 6 – 12kg. Mít thái cho quả quanh năm, múi mọng và giòn ngọt.
  • Phía sau hàng mít thái là khu trượt cỏ. Detrang farm đang tiến hành cho xây dựng khu trượt cỏ phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí cho các bạn trẻ ưa thích sự năng động
  • Quanh nông trại có trồng các bãi cỏ ghine hay còn gọi là cỏ sữa. Cỏ ghine có khả năng chịu hạn và bóng râm, có thể trồng ven đường, xung quanh ao cá, vừa phủ đất chống xói mòn vừa tận xanh lấy cỏ chăn dê
  • Trong tương lai, Detrang farm sẽ cho dựng những chiếc cầu khỉ và bãi cỏ để các du khách vừa tham quan, vừa chụp ảnh lưu niệm, ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ.
  • Chụp ảnh lưu niệm bên cổng chợ quê
  1. Điểm tiếp theo Khu Ngựa, Đà Điểu, Bộ sưu tập gia cầm, thủy cầm
    • Khu chuồng Ngựa
  • Có 15 con ngựa, bao gồm ngựa đua, ngựa bạch, ngựa lùn pony
  • Công ty nuôi được 2 năm và đã chào đón thế hệ thứ 2
  • Có 3 chú ngựa cái được sinh vào tháng 3 – tháng của phái đẹp. sự ra đời của chúng được cả công ty vui mừng và hồi hộp chờ đợi
  • Chú ngựa lùn pony ra đời lúc 1h sáng ngày 08/03. Có một điều rất đặc biệt là bố chú màu đen, mẹ chú màu trắng nhưng chú lại giống bác hàng xóm màu nâu. Ngựa pony cao 0,9m – 1m, có những nơi họ nuôi như chó cảnh để chơi với trẻ con hay dắt người già qua đường
  • Để có được những chú ngựa đua ngoan ngoãn, kỷ luật và rất dễ gần như bây giờ, lãnh đạo công ty đã phải lên tận vùng núi phía bắc và trường đua phú thọ để tuyển chọn và mua về.
  • Theo quan niệm dân gian, xương ngựa bạch dùng để nấu cao có công dụng chữa bệnh về xương khớp. Ngựa Bạch là giống ngựa thuần chủng có nguồn gốc Tây Tạng của Trung Quốc. Nuôi ngựa bạch vừa dễ ở chỗ ngựa bạch ăn được tất cả các loại cỏ, bệnh tật rất ít, thường chỉ mắc các bệnh thông thường như đầy hơi, chướng bụng, hoàn toàn dễ chữa khỏi. Tuy nhiên chúng thích nghi với thời tiết mùa hè kém hơn nhiều so với trâu, bò, ngựa bạch là giống không chịu được trời quá nóng.
  • Lừa : là con vật tượng trưng cho sự nhẫn nhục, chịu đựng và hiền hòa. Không ồn ào, không xông xáo, và cũng không hiếu chiến
  • Nếu một con lừa đực giao phối với con ngựa cái, con của chúng sẽ là con la. Con la có sức khỏe và sức đề kháng bệnh tật rất tốt nhưng vì ngựa có 64 NST, lừa có 62 NST nên la sẽ có 63 NST. Con số lẻ này không cho phép các NST phân chia thành cặp, do đó la  thường không có khả năng sinh con, hay còn gọi là vô sinh. Nếu có thì rất hiếm gặp. Ngược lại nếu 1 con lừa cái giao phối với con ngựa đực, con của chúng sẽ là con booc đô, con này cũng không có khả năng sinh sản
    • Chuồng đà điểu
  • Có thể đặt câu hỏi : giống chim nào to nhất thế giới?
  • Đà điểu châu Phi là một loàichim chạy, có nguồn gốc từ châu Phi. Chúng rất khác biệt về hình thể với cổ, chân dài và có thể chạy với tốc độ lên đến 65 km/giờ (40 dặm/giờ). Đà điểu được xem là loài chim còn sống lớn nhất và được chăn nuôi trên khắp thế giới. Tên khoa học của nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “Chim Lạc đà”.
  • Đà điểu châu Phi nặng từ 100 đến 130kg. Một số đà điểu trống đã được ghi nhận là có thể nặng đến 155kg. Đà điểu trống trưởng thành có lông chủ yếu là màu đen với một vài điểm trắng ở cánh và đuôi. Đà điểu mái và con non có màu xám nâu nhạt với vài đốm trắng. Đà điểu trống dùng đôi cánh nhỏ dothoái hóa của nó để múa gọi bạn tình và che chở cho đà điểu con. Bộ lông của chúng mềm và khác biệt so với lông vũ của loài chim bay. Cặp chân khỏe của chúng không có lông. Chân có hai ngón với một ngón lớn hơn trông giống như móng ngựa. Điểm độc đáo này giúp cho khả năng chạy của đà điểu. Với lông mi rậm và đen, cặp mắt của đà điểu lớn nhất trong các loài động vật trên cạn còn sống.
  • Ở độ tuổi trưởng thành (2 – 4 năm), đà điểu trống cao 1,8 – 2,7m, đà điểu mái 1,7 – 2m. Trong năm đầu tiên, đà điểu con tăng cao 25cm mỗi tháng. Một năm tuổi đà điểu đạt trọng lượng 45 kg.
  • Đà điểu châu Phi trưởng thành hoàn toàn ở độ tuổi 2 – 4 năm, con trống chậm hơn con mái khoảng 6 tháng. Mùa sinh sản bắt đầu từ tháng 3 hay 4 đến tháng tháng 8, tùy thuộc vào vùng địa lý.
  • Đà điểu châu Phi là loài đẻ trứng. Trứng nặng từ 1,3 – 1,4 kg, dài 15 cm, rộng 13 cm, là loại trứng lớn nhất và có phôi lớn nhất, nhưng lại là nhỏ nhất nếu so sánh tương đối với kích thước của đà điểu. Mỗi tổ có từ 15 – 60 trứng màu trắng nhạt và bóng láng. Con cái ấp trứng vào ban ngày còn con trống thì vào ban đêm, bởi vậy chúng có màu lông khác nhau để tránh bị phát hiện khi đang ấp trứng. Quá trình ấp từ 35 – 45 ngày và con trống thường đón chào con con mới nở. Tuổi thọ của đà điểu châu Phi là từ 30 – 70 năm, trung bình là 50 năm.
  • Đà điểu con mới nở đã mở mắt và trong vòng 1, 2 tiếng chúng đã có thể chạy nhảy được rồi. Hầu như những loài chim không bay, con của chúng mở mắt lúc mới chào đời và có lớp lông tơ bảo vệ, thân hình của đà điểu con cũng không ngoại lệ. Còn những loài biết bay, thì hầu như con của chúng không có lông và không mở mắt, chúng phải nhờ vào mẹ hay bố tìm mồi. Đà điểu con rất hiếu động, bố mẹ chúng phải tập họp chúng lại như một nhà trẻ di động. Chúng chạy lung tung và trong vòng nửa năm đầu đà điểu con rất dễ chết vì những lí do khác ngoài thiên nhiên, nhưng sau đó chúng lớn rất nhanh
  • Đà điểu có giá trị thương phẩm rất cao. Thịt đà điểu thuộc loại thịt đỏ, có mùi vị trung gian giữa thịt động vật ăn cỏ và gia cầm.Hàm lượng axit béo Omega 3 cao 8% có tác dụng giảm nguy cơ mắc chứng bệnh tim mạch, cần thiết cho quá trình sinh trưởng, phát triển trí tuệ con người, đồng thời đặc hiệu chống đông máu, viêm cơ. Tất cả các bộ phận cơ thể đà điểu đều có giá trị kinh tế, tất cả các bộ phận của đà điểu không có gì là bỏ đi. Ngoài thịt có giá khá cao khoảng 200.000 đồng/kg thì da, lông, vỏ trứng, móng vuốt đều được dùng làm đồ mỹ nghệ, trang sức có giá trị kinh tế cao. Do da đà điểu có một loại mỡ đặc biệt nên bền hơn cả da cá sấu, giá bán trên thị trường 1m2 da đà điểu khoảng 400USD.
  •  
  • Cho Đà Điểu ăn 
  • Chuồng gia cầm, thủy cầm

Hiện tại bộ sưu tập bao gồm : chim xít, bồ câu pháp, chim công, trĩ bảy màu, ngỗng trời, sâm cầm, le le, vịt trời, ngỗng nhà, ngan đen, gà ri, gà Hoàng gia, gà hơ mông, gà rừng, gà tây, gà mía và gà hồ.

  • Chim xít : câu hát : một bầy tang tình con xít, một bầy tang tình con nhện. Chim xít là loài chim lớn thuộc họ Gà nước. Ở miền Bắc gọi là chim xít, miền Nam gọi là chim trích. Xít phân bố ở Nam Thái Lan, Lào, Mã Lai, Việt Nam. Ở Việt Nam, chim xít có ở khắp các vùng đồng bằng  và trung du nhưng tập trung nhiều ở Bắc Bộ và Nam Bộ. Ở chim trưởng thành: Trước mắt và xung quanh mắt trắng phớt  xám. Đỉnh đầu và hai bên đầu xám thẫm. Phần sau cổ, hai bên cổ và lưng  xanh xám. Cánh xám lẫn xanh lục. Phía trước má xám phớt lục. Phía trước cổ và diều lục xám. Bụng, sườn, đùi đen phớt xanh. Đuôi đen hơi  phớt xanh, dưới đuôi trắng.  Loài này thường làm tổ trong một đám cờ sậy đan xen, một khối  lượng các loại rác cỏ trôi nổi hoặc giữa lau sậy bện trên mực nước trong đầm lầy. Mùa sinh sản của chúng từ tháng 4 đến tháng 6, mỗi năm chúng  đẻ làm ba đợt. Đợt đầu đẻ thường 5 – 6 trứng, đợt hai 3 – 4 trứng, đợt ba 2  trứng. Khi đẻ, nên lót ổ tròn lớn như ổ gà. Loài chim này ấp từ 23 – 27  ngày, được thực hiện bởi cả chim trống và chim mái. Chim non mọc lông  sớm với lông đen và có thể rời khỏi tổ ngay sau khi nở, nhưng thường sẽ vẫn trong tổ trong một vài ngày. Chim con được nuôi dưỡng bởi cha mẹ của nó từ 10 – 14 ngày, sau đó nó bắt đầu tự ăn. Nuôi 3 – 4 tháng chim mới đổi màu, thời gian này người nuôi phân biệt được con trống và con mái: con trống thường lớn hơn, nhỏ hơn là con mái.
  • Chim trĩ bảy màu là loại đặc hữu tại vùng núi phía tây và miền trung của Trung Quốc. Trĩ bảy màu thuộc dòng trĩ đuôi dài, chiều dài toàn thân của con trống dao động từ 100cm – 120cm, phần đuôi thường có chiều dài từ 80 – 90cm tùy cá thể. Trĩ mái có chiều dài đuôi ngắn hơn hẳn và toàn thân được bao phủ bởi lớp lông màu nâu xám vằn rất khó phát hiện trong tự nhiên. Sải cánh của trĩ bảy màu đạt 70cm và cân nặng trung bình từ 600g – 700g. Do có cấu trúc cơ thể nhẹ, sải cảnh lớn nên trĩ bảy màu có khả năng bay khá tốt. Trĩ đạt độ tuổi sinh sản sau 1 năm nhưng chỉ sinh sản thuần thục khi bước qua năm thứ hai. Bộ lông của trĩ trống hoàn thiện sau 18 tháng. Thời gian sinh sản bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, đối với những nước có khí hậu lạnh thì mùa sinh sản thường bắt đầu vào tháng 5. Đến mùa sinh sản, trĩ trống thường phát ra tiếng kêu rất vang để gọi mái, đồng thời chúng có màn chào hỏi rất ấn tượng như xù bộ lông tuyệt đẹp trước những cô trĩ mái. Trĩ mái đẻ 2 lứa, mỗi lứa từ 10 – 15 quả, trứng nở sau 23 – 25 ngày ấp. Về thức ăn và môi trường sống: thức ăn ưa thích của trĩ bảy màu là các loại hạt, sâu và côn trùng nhỏ. Nhu cầu về protein của trĩ bảy màu không cao, tuy nhiên vẫn cần phải bổ sung vào mùa sinh sản. Môi trường ưa thích của trĩ bảy màu là những khu rừng với nhiều cây bụi thấp và tán cây. Dù đa phần kiếm ăn dưới mặt đất nhưng chúng có thói quen ngủ trên cây cao vào ban đêm.
  • Ngỗng trời có chân màu hồng hay da cam và mỏ màu hồng, da cam hay đen. Chúng có lông bụng và mặt trên lông đuôi màu trắng. Cổ, thân, cánh có màu xám hay trắng, với lông bay chính màu đen hay ánh đen. Ngỗng trời là động vật ăn cỏ ở các vùng đất lầy lội, với khả năng bơi lội tốt nhờ các chân màng, mặc dù chúng cũng tích cực gặm cỏ tại các vùng đất khô. Khi kiếm ăn trong nước, chúng thường lặn cắm đầu xuống để tìm kiếm các loài cỏ mọc ngầm dưới nước. Các cặp sinh sản thường là chung sống cả đời. Tổ của chúng thường gần với ao hồ hay các nguồn nước khác, phổ biến nhất trên các đảo nhỏ để có sự bảo vệ tốt hơn. Tổ được lót khá dày bằng lông vũ mềm, được con mẹ rỉa ra từ ngực và bụng. Mỗi lần chúng đẻ từ 3 đến 8 trứng và ấp trong vòng 21 – 30 ngày. Ngỗng con được bố mẹ nuôi trong vòng 40 – 60 ngày. Ngỗng non thuần thục sinh học khoảng sau 2 năm tuổi và có thể sinh sản ở tầm tuổi này.
  • Ngỗng nhà hay ngỗng nuôi là những con ngỗng đượcchăn nuôi như một loại gia cầm để lấy thịt, trứng và lông, ngoài ra người ta còn nuôi chúng để giữ nhà, canh gác khá hiệu quả. Chúng đã được thuần hóa ở châu Âu, Bắc Phi và châu Á. Ngỗng nhà châu Âu được thuần hóa từ ngỗng xám và ngỗng nhà châu Á cùng một vài ngỗng nhà châu Phi có nguồn gốc từ ngỗng thiên nga.Ngỗng nhà là loại gia cầm dễ nuôi, hay ăn, chóng lớn, ít mắc bệnh. Nuôi ngỗng có nhiều thuận lợi với đặc thù của ngỗng là có thể sử dụng rất hiệu quả thức ăn xanh và các loại phụ phẩm nông nhiệp. Con ngỗng được ví như một cỗ máy xén cỏ, khả năng vặt cỏ của ngỗng tốt hơn bò, ngỗng có thể vặt tận gốc cây cỏ, cả phần củ rễ, ngỗng ăn tạp các loại cỏ và không chê cỏ non, cỏ già, cỏ dại từ cỏ tranh đến lục bình ngỗng đều ăn được. Ngỗng ăn cỏ, ăn rau là chính, ít dùng lương thực. Nuôi trong 4 – 8 tháng ngỗng đã cho thu hoạch 4 – 7 kg. Có nhiều giống ngỗng cao sản như ngỗng trắng, ngỗng xám vằn,loại chân thấp, chân cao. Ngỗng là loại gia cầm có khả năng tăng trọng rất nhanh, chỉ sau 10 – 11 tuần nuôi, khối lượng cơ thể đã tăng gấp 40 – 45 lần so với khối lượng cơ thể lúc mới nở. Sau khi nuôi 3 – 4 tháng, ngỗng choai lớn lên thường đạt trọng lượng 4 – 4,5 kg, những giống ngỗng ngoại nhập có thể cao hơn, đạt 4,5 – 5 kg. Nếu ngỗng được nuôi dưỡng chăm sóc tốt ngay từ đầu thì thời gian có thể rút ngắn không tới 3 – 4 tháng nuôi.
  • Thăm chuồng nuôi Lạc Đà
  • Vịt trời là loài vịt hoang dã sống ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới tại châu Mĩ, châu Âu, châu Á, châu Úc và New Zealand. Vịt trời là tổ tiên của vịt nhà.Vịt trời trưởng thành có sải cánh rộng, loài vịt này có thể bay như chim. Chúng có lông đuôi nâu đen ánh và viền lâu nhạt, lông bao cánh nhỏ và nhỡ xám. Lông bao cánh lớn xám chì với một dải vằn đen trắng gần cuối lông. Thức ăn chủ yếu là lúa, ngô và các phụ phẩm nông nghiệp khác. Ưu điểm của vịt trời là khỏe mạnh, sức đề kháng tốt, ít bệnh tật, ăn ít…. Vịt trời làm tổ trên mặt đất, bằng cỏ khô trên các bụi gần bờ nước hay ở các cồn đất giữa sông. Mùa sinh sản vào tháng 5, mỗi lứa đẻ 10 –15 trứng. Trọng lượng trung bình đạt 800g – 1kg/con
  • Ngan đen là một trong các giống ngan nội địa của Việt Nam.Chúng có nguồn gốc xa xưa từ Nam Mỹ, được nhập vào Việt Nam từ lâu, được nuôi nhiều ở nhiều nơi thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng. Ngan đen hay gọi là ngan trâu. Ngan đen còn rất ít, không được nuôi rộng rãi, vì hầu hết đã bị pha tạp. Giống ngan này toàn thân màu đen tuyền, có tầm vóc to, thô, dáng đi nặng nề, tỷ lệ phôi thấp, nuôi con vụng. Ngan con sau khoảng 3 tháng nuôi, con đực có thể đạt 3 – 3,5kg, con cái đạt 2 – 2,2 kg. Sau 5 tháng ngan bắt đầu đẻ. Một năm đẻ 3 – 5 lứa, năng suất trứng 50 – 75 quả/năm. Khối lượng trứng 65 – 67 g/quả. Thức ăn cho ngan chủ yếu là thóc, ngô, cám gạo, các loại rau xanh. Về kinh nghiệm nuôi ngan: Phải chọn con giống tốt, con mái phải có mào đỏ, trọng lượng 2,2 – 2,5kg, thân hình thanh gọn, cân đối, bụng mềm. lỗ huyệt ướt, lông sáng bóng, áp sát vào thân, vùng xương chậu nở rộng. Con trống thì phải to khỏe, trọng lượng 4 – 5kg, mào đỏ, có phản xạ tốt khi được kiểm tra giao cấu. Với ngan sinh sản, phải cho chúng ăn với chế độ riêng. Thức ăn phải đủ dinh dưỡng, đủ lượng calo, hàm lượng đạm cao. Cần tăng cường chất khoáng, đặc biệt là canxi và photpho.
  • Bồ câu pháp : Bồ câu Pháp là một giống bồ câu nhà có nguồn gốc từ nước Pháp. Chúng xuất xứ tại vùng Đông Nam nước Pháp (Carneau) và Đông Nam nước Bỉ từ những con bồ câu sống tự do. Loại chim này đã được lai tạo và chọn giống qua nhiều năm để hình thành nên một giống bồ câu thịt và đây là giống bồ câu có kích thước lớn nhất để sử dụng vào mục đích chăn nuôi lấy thịt bồ câu. Chim bồ câu Pháp con trống to hơn con mái, đầu thô, có phản xạ gù mái lúc thành thục, khoảng cách giữa 2 xương chậu hẹp những con chim mái thường có khối lượng nhỏ hơn, đầu nhỏ và thanh, khoảng cách giữa 2 xương chậu rộng. Chỉ sau khoảng 4 tháng nuôi, chim đến tuổi sinh sản, trọng lượng bình quân mỗi con từ dưới 650 – trên 800g. Bồ câu Pháp có đặc điểm sinh trưởng nhanh và tuổi sinh sản kéo dài 4-5 năm, mỗi năm đẻ 8 – 10 lứa, bồ câu cái Pháp đẻ liên tục trong năm, vừa ấp nở vừa đẻ trứng, một cặp bồ câu có thể sinh sản trong 5 năm, nhưng sau 3 năm đẻ, khả năng sinh sản giảm.Bồ câu mái sau 4 -5 tháng tuổi bắt đầu đẻ lứa đầu, mỗi lứa đẻ 2 trứng. Sau khi ấp 16 – 18 ngày sẽ nở. Chim con sẽ được giao cho chim trống nuôi dưỡng. Chim mái nghỉ dưỡng sau 7- 10 ngày thì đẻ lứa tiếp theo và diễn tiến như vậy, cứ một cặp bồ câu bố mẹ sau 1 năm cho ra đời 17 cặp con cháu. Chim bồ câu thường đẻ trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 giờ chiều. Giống bồ câu Pháp đẻ nhiều, tiêu thụ thức ăn ít, phù hợp khí hậu nhiệt đới, ít dịch bệnh, có sức đề kháng cao, thích ứng tốt với điều kiện nuôi nhốt nên không mất nhiều công chăm sóc, chi phí nuôi thấp, hiệu quả kinh tế cao. Chim bồ câu Pháp dễ hơn nuôi các loạigia cầm khác và lợi nhuận cao hơn nuôi gà. Nuôi bồ câu Pháp không cần mặt bằng rộng, cần chú ý vệ sinh chuồng trại tốt và tránh những tác nhân xấu từ môi trường thì bồ câu sẽ không bị bệnh tật và phát triển tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao, thu hồi vốn nhan. Bồ câu Pháp là giống chim không quá kén ăn, nguồn thức ăn cho chim dễ tìm kiếm, chủ yếu là các loại gạobắp,đậu… chúng có thể cho ăn thêm thức ăn công nghiệp nhằm tăng cường chất dinh dưỡng để kích thích chim chóng lớn hoặc thức ăn cho loài chim này là cám tổng hợp và gạo lức để tránh bệnh về tiêu hóa đồng thời thức ăn, nước uống cho chim phải sạch sẽ mỗi ngày chúng ăn 2 lần vào bữa sáng và bữa tối.
  • Giống gà H’Mông là giống gà quý có nguồn hốc từ các tỉnh miền núi Tây Bắc do bà con dân tộc H’mông chăn nuôi. Gà H’mông thuần chủng có đặc điểm chân đen có 4 ngón, màu đen, da đen, nội tạng đen, xương đen. Gà H’Mông có tác dụng bồi bổ cơ thể và chữa suy nhược cơ thể.
  • Gà hoàng gia : Loại gà này ngoài đặc điểm của gà cơ bản nó còn  khả năng chống chịu kháng bệnh  mạnh mẽ dễ chăm sóc  tăng trưởng nhanh, với bản chất thích nghi tốt rất  thích hợp cho các mô hình nuôi của người dân cũng như để chơi cảnh.
  • Gà hồ : Nhìn bên ngoài, gà Hồ khá giống vớigà Đông Tảo (Hưng Yên) nên người dân lấy việc quan sát đôi chân là cách tốt nhất để phân biệt. Chân gà Hồ to, có vảy mịn, bản tròn, cao trường. Chân gà Đông Tảo ngắn, xù xì và sờ vào có phấn ở tay. Người làng cho biết, đây là giống gà quý, xưa kia được chọn làm sản vật của làng dâng lên vua chúa nên gà Hồ còn được gọi là gà tiến vua. Gà được nuôi theo phương pháp dân dã, tự nhiên, chủ yếu bằng thóc gạo nên thịt hồng, thơm ngon, có giá trị kinh tế cao.
  • Gà mía : Đây là giống gà có nguồn gốc ở Thị xã Sơn Tây. Ngoại hìnhgà mía hơi thô: Mình ngắn, đùi to và thô, mắt sâu, mào đơn, chân có 3 hàng vảy, da đỏ sắc lông gà trống màu tía, ga mái màu nâu xám hoặc vàng. Nói chung màu lông gà Mía tương đối thuần nhất. Tốc độ mọc lông chậm, đến 15 tuần tuổi mới phủ kín lông ở gà trống. Khối lượng gà mái trưởng thành 2,5 -3 kg; trống 3,5 – 4 kg. Sản lượng trứng 50 – 55 quả/mái/năm,
  • Gà tây : Hay còn gọi gà Lôi, là loài gia cầm có nguồn gốc từ châu Mỹ, hiện được nuôi nhiều ở nước ta. Gà tây có nhiều ưu điểm: có khả năng sử dụng tốt các loại thức ăn thô xanh, tiết kiệm được lương thực, có thể trọng lớn, thời gian tăng trưởng dài, phẩm chất thịt ngon, chất lượng tốt. Thức ăn của gà tây cũng giống như gà ta. Nó cũng ăn ngũ cốc, đậu đỗ, cám bã. Ngoài ra, nó ăn tới 30-40% là rau xanh, cỏ lác. Vì vậy, người nuôi gà tây thường chăn thả trên những bãi cỏ, những cánh đồng hoặc nuôi nhốt trong những sân chơi rộng. Điều quan trọng là nó cần nơi cao ráo, thoáng mát, không ẩm thấp. Nó rất sợ tiết trời âm u, ướt át, lạnh lẽo. Kiểu thời tiết đó rất dễ sinh bệnh. Ta không cho gà ra ngoài vào những lúc đó. Gà tây tự ấp, mỗi lứa đẻ 10-12 quả,tỷ lệ ấp nở 65-70%, tỷ lệ nuôi sống 60-65%, sản lượng trứng 70-80 quả/mái/năm…
  • Gà ri : là giốnggà địa phương có từ lâu đời trên đất nước ta và được nuôi phổ biến ở khắp mọi miền đất nước. Trong đó, phổ biến nhiều nhất ở vùng đồng bằng trung du Bắc bộ và trung Nam Bộ. Ưu điểm nổi bật nhất của gà Ri là gà mọc lông, thịt trứng thơm ngon, thích nghi với khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới, ít mẫn cảm đối với bệnh cầu trùng, bạch lỵ, đường hô hấp. Nhưng tầm vóc bé, trứng bé, sản lượng trứng thấp và tính đòi ấp cao. Vì vậy, gà Ri thích hợp với chế độ nuôi quảng canh theo hướng cả thịt và trứng ở từng hộ gia đình. Trong tương lai, khi mà trên đại trà ngành gà nuôi các giống gà cao sản, nuôi thâm canh thì gà Ri sẽ được coi là một đặc sản.
  • Gà rừng : Gà rừng có thân hình khá giống với gà Ri, tuy nhiên trọng lượng nhỏ hơn nhiều, trung bình một con gà rừng trưởng thành nặng khoảng 0,8 – 1 kg. Một đặc điểm rất dễ nhận thấy là tai gà rừng có màu trắng. Tai gà mái cũng có nhưng thường nhỏ hơn gà trống
  1. Khu chuồng Dê, Cừu
    • Dê : Hiện nay Detrang Farm có 3 loại dê : Dê Sanen, dê bách thảo và dê cỏ
    • Du khách thưởng thức sưa dê, pomat…
  • Dê sanen Dê Sanen là giống dê chuyên dụng cho sữa dê có nguồn gốc ở Thụy Sĩ. Nó được nuôi ở Pháp và nhiều nước châu Âu. Dê Sanen có tầm vóc lớn, sản lượng sữa cao, đặc tính cho sữa tốt, hiền lành, trầm lặng, dễ dạy nên dược nuôi phổ biến để sản xuất sữa. Đây là giống dê có tầmlớn nhất của Thụy Sĩ có thể sản xuất đến 4 – 6 lít sữa/ngày vào lúc cao điểm. Chu kỳ tiết sữa của nó kéo dài 8 – 10 tháng và cho sản lượng sữa từ 800 – 1.000 lít, năng suất sữa từ 1.000 – 1.200 lít/chu kỳ 290 – 300 ngày.
  • Dê Bách Thảo Thảo là giống dê có nguồn gốc ở Ấn Độ Đây là giống dê to con, có lông đen, tai cụp và là giống dê kiêm dụng sữa và thịt. Dê Bách Thảo được nuôi nhiều ở các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Từ nhiều năm gần đây giống dê này đã được phát triển ở nhiều tỉnh ở Việt Nam. Dê Bách Thảo cho nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế và y học. Với khả năng sinh trưởng, sinh sản, cho sữa của dê bách thảo khá tốt, hơn hẳn dê cỏ, nên dùng giống dê này để cải tạo khả năng sản xuất các giống dê khác, thông thường cho tạp giao với dê cỏ.
  • Nhìn chung dê bách thảo có bộ lông mượt sáng, phần lớn có hai dải lông trắng song song trên mặt, trắng ở bốn chân. Điển hình của dê Bách Thảo là sống mũi dô, đầu dài trán lồi, tai to rủ cúp xuống, có hoặc không có sừng, miệng rộng và thô, phần lớn không có râu cằm. Đầu thô, dài, phần lớn dê không sừng, một số có sừng thì sừng nhỏ, chếch ra hai bên và chĩa về phía sau, nhiều con có hai mấu thịt ở cổ gọi là hoa tai.
  • Loại dê này dễ nuôi và nhanh sinh sản lại chủ động được thời gian chăn thả nên việc chăn nuôi, phát triển không khó. Đối với dê Bách Thảo, trung bình 1 con cái đẻ một năm 2 lứa, mỗi lứa từ 2 – 3 con, nuôi khoảng 6 tháng đạt trọng lượng từ 25 – 35 kg là bán thương phẩm. Chuồng nuôi phải cách mặt đất hơn 1m, thoáng mát, sạch sẽ, đảm bảo được nhiệt độ phù hợp mỗi mùa. Không để phân đọng lại trên nền chuồng, trong chuồng phải có máng ăn, máng uống nước để bổ sung thêm thức ăn cho dê. Đối với loại dê bách thảo thường cho ăn kèm với một ít muối hạt để tăng sức đề kháng cũng như hạn chế các dịch bệnh xuất hiện. Lúc chuyển mùa, thời tiết thay đổi, hoặc vào chu kỳ sinh sản dê thường mắc bệnh hô hấp rất khó phát hiện. Dê Bách Thảo có thể chăn chả ban ngày, tối về chuồng ăn thêm cỏ, lá cây. Nuôi nhốt tại chuồng, vận động tại sân chơi. Đảm bảo hàng ngày có thức ăn khô ráo, không hôi mốc, sạch không lẫn đất cát, uống thỏa mãn nước sạch, nền, sân chuồng, máng ăn sạch sẽ. Cách ly con đau ốm và không thả chung đàn. Chăm sóc dê hậu bị từ khi cai sữa đến khi phối giống cần cho ăn 2 – 5 kg lá cây, cỏ xanh non và từ 0,1 – 0,4 kg thức ăn tinh/ngày. Chỉ chăn thả hoặc vận động khi trời đã tan sương. Tách riêng dê đực 4 tháng tuổi ra nơi khác. Cho dê cái phối giống lần đầu ở 7 – 8 tháng tuổi, nặng 19 – 20 kg trở lên. Trong thời gian chửa cần chăn thả dê gần chuồng, nơi bằng phẳng tránh dồn đuổi, đánh đập, tránh xa dê đực giống để tránh nhảy dê chửa, dễ sảy thai.
  • Dê cỏ : Dê cỏhay còn gọi là dê nội, dê ta hay dê địa phương là một giống dê nhà nội địa có nguồn gốc ở Việt Nam, Đây là loài dê thịt phổ biến nhất ở Việt Nam . Dê cỏ nhỏ con, cho ít thịt dê, nuôi không lợi nhiều nhưng nhiều vùng đến nay nhiều người Việt Nam vẫn chuộng nuôi dê này vì chúng sinh sản nhanh, nuôi con giỏi, ít bệnh tật vì thích nghi tốt với thổ nhưỡng của Việt Nam Nhìn chung, Dê cỏ rất dễ nuôi, thịt của chúng lại ngon nên người Việt nuôi nhiều.Người ta thường chọn những đặc điểm của dê cỏ là đầu to, trán giô, cổ dài, ngực to, lưng phẳng, bụng to vừa phải, hông rộng, lông bóng mịn, bộ phận sinh dục nở nang, bốn chân cứng cáp và thẳng đứng, bầu vú nở rộng với 2 núm vú dài và đưa về phía trước, có nhiều tĩnh mạch nổi trên bầu vú. Đối với dê đực thì có ngoại hình to, khỏe. Con dê đực được chọn làm giống có đầu ngắn và rộng, đôi tai to cân đối và dày, cổ to, ngực nở, bốn chân cứng cáp, 2dịch hoàn to và đều đặn, khả năng phối giống đạt tỷ lệ thụ thai cao. Một con dê đực tốt có thể phối giống cho 5-10 con dê cái. Dê cỏ ăn nhiều loại cỏ, lá và cành non của nhiều loại cây đặc biệt là cây họ đậu, các loại củ quả và hạt ngũ cốc, các phụ phẩm nông nghiệp. Trước khi dê cái đẻ 10-15 ngày. cần phải giảm lượng thực ăn tinh và thay bằng thức ăn thô (cỏ, lá tươi). Khi dê đẻ cần được hỗ trợ cho nó dễ đẻ. Đẻ xong cho dê uống nước muối hoặc nước đường pha nhạt hơi ấm để dê khỏi khát và ăn nhau con. Cần làm vệ sinh chuồng khi dê đẻ xong. Đối với dê cái đang nuôi con và vắt sữa hàng ngày cần tăng thêm khẩu phần thức ăn thêm trong chuồng về chiều và đêm cho dê, tăng thêm tỉ lệ chất đạm thô trong thành phần thức ăn (cám bột và các loại đậu, lạc), cho dê uống nước đủ sạch.

Về tập tính sinh sản : Dê con sau khi vừa được đẻ ra cần được lau khô mình và cắt rốn cho nó rồi đặt trên ổ rơm cạnh mẹ cho bú đủ ấm áp. Thời gian 10 ngày đầu cần có nhiều chất dinh dưỡng và các kháng thể rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của dê con, tránh cho dê con suy dinh dưỡng và một số bệnh đường tiêu hóa. Dê con từ ngày thứ 11 trở đi ngoài sữa mẹ cần tập dần cho ăn thức ăn chăn nuôi tổng hợp. Dê con theo mẹ bú sữa ban ngày, nhốt riêng và ăn thức ăn tổng hợp ban đêm. Khi dê cái mang thai cần tăng thêm lượng thực ăn cho dê vào ban đêm và không để dê đực chăn thả hay nhốt chung với những con đang có chửa.

  • Để có được một con dê cái tốt làm giống phải chọn từ đời ông bà, bố mẹ rồi đến cá thể làm giống theo các đặc điểm ngoại hình, sức lớn và sản lượng sữa. Chọn những con dê cái có những đặc điểm để trực tiếp sản xuất sữa, thịt vừa làm giống. Không nên chăn thả, nuôi dê đực giống chung với cả đàn dê mà nên nuôi nhốt riêng. Một con dê đực giống tốt, được nuôi dưỡng tốt có thể phối giống cho 10-15 con dê cái.
  • Dê có 8 răng cửa hàm dưới và hàm, không có răng cửa hàm trên. Dê đẻ 5 – 10 ngày đã có 4 răng cửa sữa, sau 3 – 4 tháng thì có đủ 8 răng cửa sữa. Răng sữa nhỏ hơn răng vĩnh viễn và trắng, nhãn, răng vĩnh viễn có thể to gấp rưỡi hoặc gấp đôi răng sữa, màu hơi vàng và có những vạch đen ở mặt trước. Người ta có thể xem răng dê để xác định tuổi.

Tâp tính sinh hoạt : Có thể nuôi dê nhốt tại chuồng hoặc chăn thả trên đồi núi. Chúng hiền lành ít phá hoa màu, ăn tạp, thức ăn chủ yếu là các loại lá cây, cỏ, thậm chí rơm rạ và các phế phụ phẩm nông nghiệp khác. Dê bách thảo tận dụng rất tốt các loại thức ăn thô xanh để chuyển hoá thành sản phẩm có giá trị. Dê có khả năng chịu đựng kham khổ và chống đỡ bệnh  tật tốt, dễ nuôi, ít ốm đau, ít mắc những bệnh hiểm nghèo, thích ứng rộng rãi với nhiều vùng. Dê Bách Thảo còn có tính nết hiền lành, sạch sẽ, dễ gần, thích đùa dờn với người nuôi, có thể nuôi nhốt hoàn toàn mà không hề phá phách.

  • Cừu

Cừu Phan Rang là một giống cừu có nguồn gốc từ Phan Rang, Ninh Thuận. Giống cừu Phan Rang có thể coi là giống cừu duy nhất ở Việt Nam hiện nay. Giống cừu này được hình thành hơn 100 năm, trải qua những điều kiện khí hậu nắng nóng gần như quanh năm, dưới sự tác động của chọn lọc tự nhiên và nhân tạo, giống cừu Phan Rang đã thích nghi cao với điều kiện sinh thái của Ninh Thuận. Cừu ở Phan Rang được nuôi theo bầy đàn, chúng dễ nhận ra vơi những cái tai dài và cụp xuống, mắt cũng cụp xuống theo tai, chúng rất nhát con người.

Giống cừu này là cừu thịt xuất xứ từ vùng nhiệt đới, cừu Phan Rang có tầm vóc lớn, lông thô màu trắng (70%), lông màu nâu và lông màu trắng vá nâu hoặc vá đen (30%) Toàn thân cừu phủ một lớp lông, lông phần hông nơi dài nhất từ 11 – 12 cm, lông phần lưng nơi ngắn nhất khoảng 8 cm. Lông nhỏ mịn và không xoăn, lông cừu đực khô hơn cừu cái nhưng không rõ rệt như ở dê.

Đầu nhỏ, trán gồ, tai cụp, không sừng, đuôi ngắn trên khuỷu chân. Đầu cổ cừu ngắn, mũi dô, không sừng, không có râu cằm, thân hình trụ, ngực sâu và nở, bụng to gọn, mông nở, 4 chân nhỏ và khô, móng hở, vú nhỏ và treo, núm vú ngắn (2 cm). Cừu đực trưởng thành có chiều cao vây 50 – 60 cm; khối lượng 39 – 45 kg. Tuổi sử dụng phối giống 8 – 9 tháng. Cừu cái trưởng thành có chiều cao vây 53 – 59 cm; khối lượng 34 – 38 kg. Thành phần dinh dưỡng của thịt cừu Phan Rang gồm hàm lượng đạm 21,8%, béo 1,8%, và khoáng 0,9% và nước 75,5%.

Sinh sản: Tuổi động dục lần đầu 5,5 – 6 tháng; tuổi phối giống lần đầu 7 tháng; chu kỳ động dục 18 – 21 ngày; thời gian mang thai 148 – 151 ngày; khoảng cách giữa 2 lứa đẻ 208 – 262 ngày, mỗi lứa đẻ 1 – 2 con. Sinh đơn 66,67%, sinh đôi 26,19% và sinh ba 7,14%. Nếu chọn lọc những cừu đực và cái từ những bố mẹ đẻ đôi, ba và cho sữa nhiều làm giống, thì sẽ nâng cao được tỷ lệ đẻ đôi, ba và tăng đàn nhanh chóng. Tuổi trưởng thành bình quân con cái nặng 39 kg, con đực 43 kg. Khoảng cách lứa đẻ 8 tháng (3 lứa trong 2 năm)

Là loại gia súc sớm thành thục về sinh dục. Cừu đực 5 tháng tuổi đã có biểu hiện phối giống, nhưng người ta thường sử dụng lúc 10 tháng tuổi. Cừu cái 6 tháng đã động dục và tuổi phối giống đầu tiên thường vào lúc 9 – 10 tháng. Thời gian mang thai khoảng 150 ngày, chu kỳ động dục từ 16 – 17 ngày, mùa dộng dục không rõ rệt nhưng vào các tháng mùa xuân mát mẻ thường động dục nhiều và lý lệ thụ thai cao. Cừu cái mang thai lại rất khỏe, nuôi con giỏi hơn dê, do đó tỷ lệ hao hụt cừu con rất thấp. Cừu con sau 4 tháng đã đạt trọng lượng 14 kg, có thể xuất chuồng làm giống.

Chúng chịu được điều kiện khô, nóng khốc liệt ở đây, chịu đựng với bãi chăn sỏi đá nghèo chất dinh dưỡng. Con cừu có một đặc tính hơn hẳn các loài khác, đó là sự chịu khó. Giữa cái nắng như đổ lửa, các loài khác đều tìm chỗ có bóng mát để trú thì đàn cừu vẫn tha thẩn trên đồng, trên những gò cát trơ trụi, nóng bỏng. Chúng cần mẫn gặm từng ngọn cỏ mới lún phún nhô lên. Vào mùa khô, khi không còn một loại cỏ nào có thể nhú lên được, cừu nhai cả các lá xương rồng to bằng bàn tay và chi chít gai, cây xương rồng vệ đường có gai mọc tua tủa, thi thoảng có vài con đói quá mặc kệ gai chọc vào cơ thể vẫn cố gắng ăn chút thức ăn bên cạnh cây xương rồng.

Tính cừu hiền lành chăm chỉ, trên đồng bãi cừu di chuyển chậm ăn miệt mài, gặm sát đất. Cừu ăn nhiều loại thức ăn, nhưng ăn cỏ và cây thấp là chủ yếu (khác với dê thích ăn lá trên cành). Phản xạ tính biểu hiện rõ, tuy không thể hiện mạnh như dê. Tính bầy đàn cao, chăn thả chung nhưng ít khi bị lạc đàn. Khi chăn nuôi, những chú cừu được lùa lên núi vì đàn cừu số lượng lớn, những bãi cỏ nhỏ xung quanh chuồng không đủ cho chúng ăn.

Nữ Ủy viên Hội đồng quản trị Ngô Thị Kim giới thiệu về khu trải nghiệm trong nông trại

  1. Chuồng trâu, bò, lợn
    • Trâu Murrah (phát âm tiếng Việt: Trâu Mu-ra) là một giống trâu có nguồn gốc từ Ấn Độ, đây là một giống trâu chuyênchăn nuôi để lấy sữa. Trâu Murrah có sừng xoắn khác với trâu thường có sừng vòng cung,đây cũng là giống trâu cho nhiều sữa, một con trâu Murrah ở Ấn có thể cho đến 3.000 lít sữa/năm. Trâu  Murrah là món quà của Thủ tướng Ấn Độ –  India Gandhi tặng Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào những năm 60 của thập kỷ trước. Ấn Độ tặng Việt Nam 502 con trâu Mura (trong đó tặng riêng cho Phạm Văn Đồng 2 con), Phạm Văn Đồng đã giao đàn trâu này lại cho Hồ Giáo, ông Giáo đã chọn được 3 con trâu cho sữa ngay và 2 con khác đang mang thai đưa về Quảng Ngãi. Hồ Giáo đã chăm sóc đàn trâu Mura sinh sôi, nảy nở đến 30 con, rồi chuyển giao cho nhân dân các huyện, chỉ giữ lại 4 con để chăm sóc. Đến nay ở VN chỉ còn lại 8 con trâu murrah và lãnh đạo công ty đã phải rất khó khăn mới xin được 2 con mang về nuôi. Mục đích phát triển đàn trâu Mura là sức kéo và sữa. Nhưng với giống trâu chuyên lấy sữa thì sức kéo lại là một vấn đề khó khăn ( giống như không thể bắt cô công chúa ra đồng cấy lúa )  Các nhà khoa học đã cố gắng cho lai tạo trâu Murrah với trâu ta để nghé con sinh có thể thích nghi và mang những đặc tính của mẹ nhưng do chúng có số lượng BNST chẵn nên nghé con sinh ra mang Bộ NST lẻ không thể phân ly, không phát triển thế hệ kế tiếp được. Việc phát triển đàn trâu Murrah không còn phù hợp nữa.
  • Trâu trắng: Trong thành ngữ Việt Nam có câu : Trâu trắng đi đâu, mất mùa đến đấy. Người xưa quan niệm, trâu trắng mang lại điềm xui xẻo, mất mùa, thịt trâu trắng ăn rất độc mà cũng hiếm thấy loài trâu này. Vì vậy trâu trắng mất dần trong dân gian. Chủ đầu tư cố ý sưu tầm để tái hiện lại hình ảnh…
  • Trâu lấy sức kéo: Trâu, bò trước đây được nuôi để lấy thịt và lấy sức kéo. Dần dần, với sự phát triển của khoa học công nghệ, hình ảnh những chú trâu và chú bò trên cánh đồng không còn xuất hiện nhiều nữa = > nét đẹp quê hương đậm chất nhân văn, thân thương đang dần bị mất đi

4.2. Lợn

  • Lợn Móng Cái là giống lợn có nguồn gốc từ khu vực phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Tổ tiên của loài Lợn Móng Cái cũng là một loại lợn rừng. Lợn Móng Cái có đầu lớn, đen, giữa trán có một điểm trắng hình tam giác hay bầu dục; có cổ khoang chia thân lợn ra làm hai phần. Nửa trước màu đen kéo dài đến mắt, nửa sau màu trắng kéo dài đến vai làm thành một vành trắng kéo dài đến bụng và bốn chân. Lưng và mông màu đen, mảng đen ở hông kéo dài xuống nửa bụng bịt kín mông và đùi có hình yên ngựa. Đường ranh giới giữa khoang đen và trắng rộng 3 – 4 cm, trên có da đen, còn lông thì trắng. Lợn Móng Cái rất mắn đẻ (2 lứa/năm), mỗi lứa đẻ từ 10 – 16 con, khéo nuôi con. Giống lợn này rất phàm ăn, chịu đựng kham khổ tốt. Lúc 4 – 5 tháng tuổi nặng 30 – 35kg, 6 – 7 tháng tuổi nặng 45 – 50kg, 12 tháng tuổi nặng 60 – 65kg.
  • Lợn Mán là một giống lợn nhỏ được lai giữa lợn nhà và lợn rừng xuất phát từ miền Trung Việt Nam. Lợn mán là giống lợn nhà, có khối lượng vừa và nhỏ. Lợn Mán được nuôi thả, mỗi con chừng 10 – 15kg, lưng cong, bụng ỏng, thịt săn chắc, rất thông minh và thích sạch sẽ, có thể dùng làm vật nuôi, thú cảnh hoặc làm nguyên liệu cho nhiều món ăn ngon. Loài lợn này có sức chịu đựng rất giỏi, chúng tìm củ, rễ cây rừng, lá cây là có thể sống được. Lợn mới đẻ có thể chạy nhảy và kiếm ăn ngay được, chúng chỉ theo bố mẹ vài ngày rồi tự tách ra. Điều đặc biệt là loài lợn này tuy tự kiếm sống trong rừng, song chúng không bao giờ đi xa, chỉ quanh quẩn ở một khoảng cách nhất định
  • Lợn rừng : Lợn rừnghay còn được gọi là lợn lòi là một loài lợn sinh sống ở lục địa Á – Âu, Bắc Phi, và quần đảo Sunda lớn. Con người đang làm cho phạm vi phân bố của chúng rộng thêm, làm chúng trở thành một trong những loài động vật có vú có phạm vi phân bố lớn nhất. Và có thể coi lợn rừng là tổ tiên của lợn nhà.

Phần lớn lợn rừng có màu da lông đen hoặc lông xám, lông gáy dài và cứng. Lợn đực khi trưởng thành có răng đen rất phát triển. Lợn rừng thường có từ 8 đến 10 vú, hiếm thấy có lợn trên 12 vú. Và cũng như lợn nhà, lợn rừng cái từ 6 – 7 tháng tuổi khoảng 20 – 27kg đã bắt đầu động dục. Thời gian mang thai cũng tương tự như lợn nhà: từ 112 – 116 ngày. Do sống hoang dã mà lợn rừng có tốc độ lớn chậm hơn so với lợn nhà.

Ở rừng, lợn đực thường ưa sống một mình, mỗi con đực ở tuổi trưởng thành có một lãnh địa riêng. Còn lợn cái thường sống thành từng đàn khoảng 20 – 30 con.

4.3.Bò vàng:

  • Giống bò vàng củaViệt Nam có nguồn gốc từ nhiều giống bò của các nước lân cận như Lào, Campuchia, Mianma, Ấn Độ và Trung Quốc nhưng chủ yếu được hình thành từ hai giống bò Trung Quốc và Ấn Độ. Qua nhiều đời tạp giao giữa các giống bò trên đã hình thành nên giống bò vàng Việt Nam. Đó là kết quả của quá trình chọn lọc và thích nghi tự nhiên. Bò vàng Việt Nam thuộc nhóm bò thịt, dùng để lấy thịt bò và dùng lấy sức kéo. Giống bò vàng Việt Nam có chung màu lông vàng, song cũng biểu thị sự đa dạng về ngoại hình như màu sắc lông, tầm vóc cơ thể và được nuôi ở hầu hết các địa phương trên cả nước. Đặc điểm chung nhất của giống là sắc lông màu vàng, da mỏng, lông mịn, tầm vóc nhỏ bé: trọng lượng bò cái là 160 – 200kg và bò đực là 250 – Kết cấu thân hình cân đối, bò cái trước thấp hậu cao, bò đực tiền cao hậu thấp. Đầu bò cái thanh hơn bò đực, sừng nhỏ, ngắn, trán phẳng hoặc hơi lõm; ở bò đực mõm ngắn, mạch máu nổi rõ, mắt to nhanh nhẹn. Cổ bò cái thanh, nhưng cổ bò đực to, dày. Yếm kéo dài từ hầu đến vú, cổ có nhiều nếp nhăn nhỏ. Giống bò vàng Việt Nam có một số ưu điểm nổi bật: chịu đựng tốt với điều kiện nhiệt đới nóng ẩm, thích nghi được với phương thức chăn nuôi tận dụng, đầu tư ít; bò thành thục sớm, mắn đẻ. Song, bò có nhược điểm lớn nhất là không đáp ứng với yêu cầu chăn nuôi thâm canh và hiệu quả kinh tế thấp vì sinh trưởng chậm, năng suất thịt và sữa rất thấp, tỷ lệ thịt xẻ thấp. Với những đặc điểm nêu trên, giống bò vàng Việt Nam được sử dụng chủ yếu cho cày kéo. Khả năng cày kéo của bò tốt, có thể làm việc được ở nhiều địa hình khác nhau. Đồng thời, bò còn được sử dụng làm nguồn lực kéo xe ở hầu hết các vùng nông thôn trong cả nước.
  • Du khách trải nghiệm trên lưng ngựa
  1. Khu thanh trùng sữa và sản xuất pho – mát
  • Sữa thanh trùng là một trong những sản phẩm sữa có quy trình đơn giản. sản phẩm có thể đựng trong hộp giấy, chai nhựa hoặc chai thủy tinh. Sản phẩm được bảo quản ở nhiệt độ 5 – 7 độ C. Trong điều kiện không mở bao bì thì sản phẩm có thể để được từ 5 – 7 ngày
  • Quy trình thanh trùng sữa : Đun nóng sữa ở nhiệt độ cao trong khoảng 30 phút, đó là phương pháp chậm và gián đoạn nhưng có ưu điểm là không làm thay đổi các đặc tính của sữa, đặc biệt là thành phần albumin và globutin không bị đông tụ và trạng thái vật lý của các cầu béo không thay đổi. Thiết bị than trùng sữa gồm hai thùng. Một thùng sữa để làm nóng lên và một thùng để làm lạnh trước khi đóng chai.
  • Một phần sữa dê được thanh trùng và đóng chai bán ra thị trường và một phần được giữ lại để sản xuất pho – mát. Lãnh đạo công ty đã sang Châu Âu một tháng để học hỏi công nghệ làm pho – mát. Trên thế giới có rất nhiều nước sản xuất pho-mát như Hà Lan,Ý, Hy Lạp, Hoa Kỳ pho-mát Pháp vẫn nổi tiếng nhất. Đó là do Pháp có đến hơn 1000 loại pho-mát, trong số đó có hơn 700 loại được bày bán trongcác cửa hàng hay siêu thị… Pho-mát ở Pháp được phân loại theo vùng, nghĩa là mỗi địa phương lại có 1 loại pho-mát nổi tiếng cho riêngmình.
  • Cột nước đèn màu trong khu nông trại khi đêm về
  1. Khu hội trường
  • Nơi tổ chức các trò chơi tập thể, teambuilding
  • Trên đường vào hội trường, 2 bên đường trồng 2 hàng cây trám và cỏ ghine làm thức ăn cho dê và trâu bò.
  1. Vườn thanh long
  • Để có được vườn cây thanh long như thế này, chủ đầu tư và nhân viên của nông trại đã phải đầu tư rất kỹ lưỡng về thời gian và công sức. giám đốc công ty là người giám sát và trực tiếp chăm bón, tỉa cành, dựng trụ, lót rơm rạ cho vườn cây.
  • Từ tháng 8 đến tháng 10 là khoảng thời gian thanh long chín rộ. Du khách có nhu cầu mua sẽ được tự tay hái thanh long và đưa về cửa hàng thực phẩm sạch để thanh toán.
  • Bể bơi trong Detrang Fam

Sẵn sàn phục vụ khách ẩm thực trong khuôn viên Detrang Fam

  • Lưu giữ khoảng khắc với Detrang Fam

Các bạn có thể liên hệ: Nông trại thôn Ké Mới – Xã Tản Lĩnh – Huyện Ba Vì – TP. Hà Nội

Văn phòng chính: Công ty DOK Việt Nam Số 44 Hàm Tử Quan, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Điện thoại: (04) 2242 6868 | Hotline: 0942 133 919 – 0965 039 706

Mail: detrangfarm@gmail.com | Website: detrangfarm.vn

 Hương Giang & Út Kim

 

Related Articles

Gửi bình luận