Home Tin TứcQuê hương Hiệp HoàNgười Hiệp Hòa Chuyện kể về nguyên mẫu trong bài thơ ” Gọi chồng” của Trịnh Quang Minh

Chuyện kể về nguyên mẫu trong bài thơ ” Gọi chồng” của Trịnh Quang Minh

by HiephoaNet

Vừa mới đây, Hiephoa.net đã đăng tải lại lần 2 bài thơ Gọi chồng của Trịnh Quang Minh cùng với những lời bình sâu sắc của BTV Hương Giang. Bài thơ ấy đã chạm đến trái tim của biết bao độc giả bởi sự thủy chung son sắt, bởi sự hy sinh lặng thầm của người vợ liệt sĩ vẫn “ gọi chồng”, vẫn đợi chồng suốt 40 năm :

Bốn mươi năm hết chiến tranh
Sao mình vẫn phải hành quân chưa về?
Mỗi chiều nắng tím ven đê
Thẫn thờ vẫn ngóng mình về, mình ơi!

Người vợ liệt sĩ thủy chung son sắt ấy không phải là một hình tượng được hư cấu trong thơ ca mà là một con người thực . Bà tên là Phạm Thị Nhoẻn, sinh năm 1946, hiện đang sống cùng vợ chồng người con gái duy nhất của mình ở thôn Hương Câu, xã Hương Lâm. Sáng nay, tôi đã được tác giả của bài thơ đưa đến gặp bà .
Nhà bà ở xóm Trại. Trước mặt nhà bà là cánh đồng rộng mênh mông. Nhìn xa là những xóm làng ven con sông Cầu lơ thơ nước chảy. Có một con đường nhỏ nối xóm nhà bà với trung tâm xã. Chồng bà, ông Ngô Văn Túc đã chia tay vợ con, lên đường ra trận theo con đường ấy. Cho đến tận bây giờ, bà vẫn thường ra ngõ, nhìn về phía cuối con đường để chờ đợi ngóng trông ông.
Trước bàn thờ của người liệt sĩ, hai anh em tôi thắp một tuần nhang tưởng nhớ rồi nói chuyện với bà. Trong khói hương thơm ngát bay khắp 3 gian nhà cấp 4, bà lặng lẽ kể chuyện mình cho chúng tôi nghe. Bà bảo : ông ấy đi bộ đội những hai lần. Lần đầu là mùa hè năm 1965. Sau đó ông xuất ngũ, về quê và xây dựng với bà. Ngày 8/2/1968 ông bà sinh ra một cô con gái. Mong sau này đời con bớt khổ, ông đặt tên con là Sung, Ngô Thị Sung. Ghép với tên bố thì sẽ thành Sung Túc. Con bé chưa kịp bén hơi cha thì bố nó lại lên đường tái ngũ . Thời đó, chả như bây giờ . Đi là đi, không biết ở đâu. Có gửi thư thì hàng tháng trời cũng chẳn có thư đáp lại. Kể chuyện với chúng tôi mà bà vẫn thảng thốt nhìn ra ngoài ngõ. Bà nhìn ra con đường ngoằn ngoèo, hun hút về phía xã. Bà nhớ ông? Bà nhớ ngày xưa? Tôi ám ảnh bởi gương mặt bà lúc ấy. Gương mặt có những nếp nhăn đã hằn sâu biết bao trăn trở, lo toan , thương nhớ bộn bề.
Tôi gợi chuyện : từ khi ông tòng quân có được về phép không bà ? Bà bảo : có! Ông ấy được về phép đúng một lần. Chắc là về để chuẩn bị đi B. Đó là một ngày mùa Đông cuối năm 1968 âm lịch. Lần ấy, ông ở nhà được hơn một tuần thì phải . Con bé Sung chưa đầy một tuổi, thỉnh thoảng lại cam sài, dặt dẹo. Ông ấy lên đường đúng ngày 23 cháng Chạp. Ngày Tết Ông Công, Ông Táo. Bà bảo ông ở nhà ăn với vợ con cái Tết mọn này. Ông không ở được . Trước lúc đi, ông dúi vào tay bà mấy trăm đồng và bảo : “có mấy đồng tôi dành dụm được, mình cầm lấy, ở nhà lo cho con khi sài đẹn, ốm đau. Coi như có tôi ở bên, để cho con khỏi tủi…” và “ tôi ra trận, chẳng biết khi nào về cả, mình ở nhà cố gắng nuôi dạy con, cho nó nên người “. Thế rồi ông ấy khoác ba lô lên và theo con đường kia, đi mãi ! Kể cho chúng tôi nghe những chuyện xảy ra cách đây đã ngót 50 năm mà bà bảo vẫn còn nhớ y nguyên như mới xảy ra vài bữa trước. Bà vẫn hình dung ra gương mặt và giọng nói của ông khi ấy. Bà bảo rằng: bà chẳng thể nào quên!
Kể từ sau ngày ông đi, bà ở nhà lo phụng dưỡng bố mẹ chồng và nuôi con nhỏ. Gần hai năm sau, có một người đồng đội của chồng bà tìm đến thăm. Ông ấy quê ở Phúc Linh, gần làng bà. Ông ấy mang đến cho mẹ con bà cái tin sét đánh : ông Túc đã hy sinh ngoài mặt trận . Bà bảo : khi ấy bà đã chết lặng đi . Miếng nước nghẹn lại giữa chừng. Rụng rời, tan nát cõi lòng, nhưng nhìn thấy đứa con thơ ngây mới ba bốn tuổi. Bà không khóc được. Con gái hỏi cha đâu? Bà vẫn bảo con : cha con đi đánh giặc chưa về. Mãi đến đầu năm 1974, gia đình bà mới chính thức nhận được tin báo tử. Ông hy sinh ngày 26/12/1969 tại mặt trận phía Nam. Đó là một ngày đen tối. Địa phương đã làm lễ truy điệu cho ông. Từ ngày đó bà đã có biết bao đêm không ngủ. Nhớ ông. Thương ông . Bà dồn lại để chăm con khôn lớn . Ngày đó bà chưa đến 30 tuổi . Nhiều người khuyên bà tái giá. Nhưng bà không thể bước đi . Bà đứng vậy làm chỗ dựa cho con. Bà đứng vậy để đợi chờ một điều kỳ diệu. Bà không tin , không thể nào tin: chồng bà đã phải hy sinh.

Bà Phạm Thị Nhoẻn( ngồi giữa) và vợ chồng cô con gái.

( ảnh đầu trang: Bà Phạm Thị Nhoẻn kể chuyện ngày xưa )

Kể cho chúng tôi nghe đến đấy thì vợ chồng cô con gái cũng vừa về. Bà giới thiệu khách. Hai em chào chúng tôi và cùng ngồi nói chuyện . Bà lại kể : khi con Sung lớn . Tôi gả chồng cho em nó. Chồng nó đây . Quê em nó cùng ở xã này. Sau khi lấy nhau, vợ chồng nó thương tôi nên ở lại đây từ bấy đến giờ ! Chúng nó sợ tôi buồn các anh ạ ! Nói rồi bà nhoẻn cười như cái tên của bà. Một nụ cười hiếm hoi mà từ lúc vào đến giờ tôi mới gặp. Trong khi hai con bà bận tìm giấy tờ của bố, chúng tôi hỏi về các cháu của bà . Bà vui mừng cho biết : bà có hai thằng cháu ngoại, tuổi cũng đã mười tám, đôi mươi. Thằng lớn đã học xong, đi làm. Thằng nhỏ đang học cao đẳng trên Thái Nguyên. Ơn trời, hai đứa nó đều ngoan. Chịu khó làm ăn, chịu khó học hành. Nghe bà kể, chúng tôi đều mừng cho bà và các em . Tôi thấy một cuộc sống mới ấm áp hơn đang đến với bà, người phụ nữ đã gần hết một đời héo hon, vất vả.
Trước lúc chia tay, tôi nắm chặt tay bà, chúc bà nhiều sức khỏe, sớm hoàn thành những mơ ước của mình.. Bà nhìn tôi và buột miệng bảo rằng : “ điều ao ước lớn nhất của tôi trong mấy chục năm rồi là mong sao tìm thấy và đưa ông ấy về gần vợ, gần con”! Cả nhà bỗng lặng hẳn đi. Khói hương bay phảng phất. Em Sung nhìn ra ngoài đồng bãi, nơi có con đường nhỏ ngoằn ngoèo chạy xa tít tắp. Tôi tìm cách an ủi bà :” bà ơi, đất nước mình vẫn còn nhiều lắm những người như ông, đi mãi không về. Bà có tuổi rồi, không đi được nữa, thì sau này hai em đây chắc chắn sẽ tìm thấy bố, phải không các em ?” Vợ chồng em Sung lặng lẽ gật đầu . Tôi hiểu rằng cái gật đầu ấy là để yên lòng mẹ, chứ các em cũng biết : chẳng dễ gì để hoàn thành được ước mong này của người mẹ kính yêu.
Tôi và Trịnh Quang Minh chia tay bà và hai em khi trời đã gần trưa. Qua một đêm mưa, ngày hôm nay lại nắng. Cái nắng chói chang cuối hè đã hong khô con đường nhỏ ngoằn ngoèo từ nhà bà về xã. Tôi nhìn theo con đường về phía xa xăm mà ước ao có một phép nhiệm màu. Có một người lính, đội mũ tai bèo, lưng đeo ba lô, đang xăm xăm bước về nơi xóm Trại !

TRẦN THANH

Related Articles

Leave a Comment