Home Tin TứcQuê hương Hiệp HoàGiới thiệu Hiệp Hòa Có một nghề như đi trên thang dây

Có một nghề như đi trên thang dây

by HiephoaNet

Phóng sự của Nguyễn Hoàng Sáu

Họ là những giáo viên mầm non ở một vùng thuần nông. Hầu hết đều là những cô giáo “bán nông nghiệp”. Chuyện tôi kể về họ là chuyện mắt thấy tai nghe ở chính quê tôi: xã Thường Thắng (Hiệp Hoà- Bắc Giang), một ngôi trường mầm non nơi hai đứa con tôi đã từng được các cô dạy dỗ từ lớp mẫu giáo 3 tuổi. Mỗi chuyện như một lát cắt với bao nỗi niềm…

1. Những nông dân có “nghề phụ” là… giáo viên!

Sáng nào cũng vậy, cô giáo Nguyễn Thị Hạnh lại tất bật đến lớp học mẫu giáo nằm ở giữa thôn Hồng Phong để nhận học sinh vào lớp. Bây giờ đang là ngày mùa, các phụ huynh ai cũng muốn gửi con sớm, nên cô giáo Hạnh lại càng phải đến sớm và về muộn hơn thường lệ. Thấm thoắt, cô Hạnh đã làm nghề giáo viên mẫu giáo được gần hai chục năm.

Cô giáo Hạnh là một trong số những người có thâm niên cao nhất của trường Mầm non xã Thường Thắng. Tốt nghiệp trường trung học sư phạm mẫu giáo tỉnh từ mấy năm trước, đến năm 1990, cô mới được nhận vào dạy lớp mẫu giáo của xóm. Nhận rồi mà vẫn trăn trở mãi, một mình làm những hơn 5 sào ruộng khoán, con còn nhỏ, chồng lại đi công tác xa, bây giờ dạy học mẫu giáo phải đi cả ngày, biết có gánh vác nổi không. Nhưng vì muốn có một cái nghề để “mỗi khi chồng về đỡ cảm thấy nhếch nhác, thì mình lại cố gắng theo vậy”- Cô Hạnh bộc bạch. Lúc ấy chưa có trường mầm non, lác đác có xóm tổ chức được lớp, xóm không có phải học ghép. Lớp học tạm bợ trong những gian nhà kho cũ của xóm. Đến cái cánh cửa cũng không được hẳn hoi, cửa sổ không chấn song, trẻ con có thể ra vào qua đó mà không cần qua cửa chính. Để có học sinh, cô giáo phải đi đến từng nhà, vận động phụ huynh cho con đến học. Nhìn cái cơ ngơi ấy, lại chưa biết hiệu quả của việc dạy dỗ thế nào, không ít phụ huynh còn e dè: “Từ trước nay có phải học mẫu giáo đâu, trẻ con vẫn cứ vào luôn lớp Một bình thường. Bây giờ học thêm mẫu giáo, lại từ ba tuổi, mất mấy năm đóng góp tốn kém lắm!”. Bao khó khăn chồng chất, cô giáo Hạnh và các chị em trong tổ vẫn cố công vận động  được tối thiểu là hai chục học sinh mỗi lớp để có thể vào học được. Khi có lớp, có học sinh rồi, lại lo chuẩn bị từ cái chổi quét đến những cái đồ dùng học tập, vui chơi như bức tranh, hình con vật, đồ chơi… Tất cả đều phải tự làm.

Bao vất vả nhọc nhằn như vậy, nhưng thù lao của cô giáo mẫu giáo chỉ vỏn vẹn có 160 kg thóc/năm. Mà số thóc đó thu được cũng đâu có dễ dàng. Đến ngày mùa, nếu gia đình nào “biết điều” còn mang đến tận nhà gửi cho, còn lại thì cô giáo phải đi thu gom rất phiền hà. Mấy năm sau, hình thức đóng góp chuyển từ thóc sang tiền, mỗi cháu thu 5.000 đồng/năm, số tiền ít ỏi đó để trả “lương” cho cô… Gần chục năm sau kể từ ngày mới mở lớp, khi các phòng học đã được củng cố tốt hơn, lớp mẫu giáo từ học nửa ngày chuyển sang học hai buổi/ngày, rồi bán trú. Công việc của giáo viên càng nặng nề hơn.

– Phụ cấp hiện tại của giáo viên hợp đồng là bao nhiêu?- Tôi hỏi, cô giáo Văn Thị Nguyệt, Hiệu trưởng trả lời giọng buồn buồn:

– Bằng mức lương tối thiểu, tức là 540.000 đồng/tháng anh ạ. Với số tiền học phí trên quy định là 15.000 đồng/cháu/tháng, dùng để trả phụ cấp cho giáo viên không đủ, thiếu bao nhiêu thì ngân sách nhà nước bù đủ. Nếu tính giá trị ngày công của giáo viên mầm non chỉ ba chục ngàn, thấp hơn lao động thủ công nhiều.

Tôi thật bất ngờ, vì có lẽ giáo viên mầm non ở quê là những người được trả công thấp nhất so với giáo viên ở các bậc học khác, kể cả so với nhiều nghề lao động đơn thuần trong xã hội. Bởi vậy mà trong số 20 cán bộ, giáo viên của trường mầm non Thường Thắng thì hầu hết chưa thoát ly khỏi làm ruộng. Ngay như cô giáo Bùi Thị Thuỷ, Phó Hiệu trưởng, hiện tại vẫn làm tới 8 sào ruộng và chăn nuôi lợn, gà… Nghề giáo viên mầm non ở đây không ít người hài hước ví nó như “nghề phụ”, còn thu nhập chính của họ vẫn phải trông cậy vào làm ruộng và chăn nuôi…

– Tất cả kinh tế đều trông cậy vào “ông xã” cả – Cô giáo Nguyệt nói tiếp- Nếu cô nào có chồng đi công tác, hay có nghề khác ngoài làm ruộng thì kinh tế khá, nếu chồng làm ruộng không nghề phụ thì cũng còn khó khăn lắm…

2. Một “nghề nguy hiểm” hay nghề… “đi trên thang dây”

Ngồi trong phòng khách của nhà trường, cô giáo Văn Thị Nguyệt, Hiệu trưởng và các cô giáo Bùi Thị Thuỷ, Nguyễn Thị Tuyết Thuý, Phó Hiệu trưởng kể cho tôi nghe nhiều chuyện buồn vui về nghề.

Năm nào cũng vậy, lớp mẫu giáo thường phải tổ chức học từ trước khai giảng theo quy định hơn một tháng để khi vào khai giảng mới ổn định. Vất vả nhất là những ngày đầu tiên, đặc biệt là các trẻ ở lớp 3 tuổi đến lớp thường khóc mòng cả mắt, bố mẹ anh chị đưa đến dỗ dành thế nào cũng không chịu, cho kẹo bánh cũng không nghe, đòi về bằng được. Có người thấy con khóc quá đành dắt về, lần hai lần ba thấy không ổn là… thôi luôn. Cô giáo phải dỗ em này, bế ẵm em kia, người cứ như chong chóng. Có lúc, dỗ học trò mãi không nín, thế là cả cô và trò đều khóc… Phải mất đứt một tháng trời như thế, lớp mới tạm thời ổn định, các cháu mới bớt khóc nhè. Rồi muôn vàn những tình huống đặt ra trong quá trình dạy trẻ. Có bé bị ốm từ nhà, phụ huynh vẫn đưa đến gửi, nếu biết thì họ bảo: “Vì cả nhà bận, cho uống thuốc  rồi, cứ đến gửi cô giáo mới yên tâm!”. Cô Thuý nhớ có lần một bé bị đi lỏng, khiến cô phải chăm sóc y như một y tá trong bệnh viện. Rồi chuyện ốm đau đột xuất, không ít lần cô phải gửi người trông lớp, đưa bé đến trạm xá cấp cứu, rồi nhắn phụ huynh lên chăm cháu, cô mới lại quay về lớp, mệt đến lả người…

– Thường thì các phụ huynh chỉ đưa đón con mỗi thời gian đầu, rồi vì không có thời gian hay chủ quan mà cứ để các cháu tự đi và về, nên rất nguy hiểm- Cô giáo Thuỷ nói-  Có nhiều chuyện hú hồn hú vía. Ví như có lần, sẩm tối không thấy con về, bố mẹ bé đến tận nhà cô giáo hỏi: “Tại sao con tôi chưa về?”. Cô giáo giật thót tim, vội vàng đi nhờ người phụ trách truyền thanh phát loa tìm trẻ. Lúc ấy mới vỡ lẽ, do ông ngoại đi qua đón cháu về lại không báo với bố mẹ chúng biết!

– Vậy nên nghề giáo viên mầm non mọi người bảo là “nghề nguy hiểm”, sơ xuất một chút là có thể dẫn đến hậu quả rất đau lòng, mà thực tế có nơi đã xảy ra việc trẻ bị chết đuối, tai nạn.v.v…- Cô giáo Nguyệt nói như khẳng định- Có người còn ví nghề này như những người đang đi trên chiếc thang dây, chòng chành lắm, dễ ngã lắm! Không ít người không trụ được đã phải bỏ nghề. Chị Nguyễn Thị Viện đã bỏ nghề chuyển sang làm công nhân công ty may. Hay như chị Nguyễn Thị Liên, người có thâm niên hơn 16 năm, cũng quyết xin nghỉ, nhận lại số tiền đóng bảo hiểm hơn 2 triệu đồng, rồi theo chồng vào Sài Gòn mở hiệu buôn bán. Mới đây chị Liên điện về thăm hỏi chị em, chị bảo: “Nếu mọi người được vào biên chế hết, mình cũng không tiếc!”…

3. Vẫn còn “những gánh cơm theo trẻ đến trường”…

Hàng ngày, ở mỗi lớp, nhóm lớp nằm khắp các thôn trong xã, cứ đến non trưa, lại thấy phụ huynh dùng những chiếc xe đạp, xe máy, hay chỉ đơn giản là cặp quang gánh mang nồi niêu xoong chảo đựng thức ăn đến nuôi trẻ. Tiếng reo vui ríu rít như bầy chim non. Bên chiếc nồi cơm nóng hôi hổi, phụ huynh và cô giáo chia cho các cháu từng khẩu phần ăn. Cháu nào ăn cũng rất ngon, gọn gàng. Các phụ huynh chứng kiến con cháu ăn như vậy đều rất phấn khởi, nhiều người bảo: “Tài quá, ở nhà dỗ dành mãi ăn xong lưng cơm cũng mất hàng giờ, mà đến lớp thì lại ăn uống rất ngoan!”.

Cô giáo Nguyễn Thị Tuyết Thuý, Phó Hiệu trưởng cho biết: Một thời mô hình “những gánh cơm theo trẻ đến trường” là niềm tự hào của ngành giáo dục mầm non tỉnh Bắc Giang, bởi đây là một trong những địa phương khởi nguồn cho phong trào nuôi trẻ như thế. Nhưng giờ đây, khi điều kiện trường sở đã được nâng cấp, nhiều bếp ăn được xây dựng tại các điểm trường, thì chuyển sang nấu ăn tập thể. Tức là mỗi cụm lớp có một cô chuyên đảm nhiệm việc nuôi trẻ. Như thế vừa đảm bảo định lượng, vệ sinh, nhất là kiểm soát được khâu an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, trường Mầm non Thường Thắng là một trong ba trường còn lại trong huyện chưa có bếp ăn tập thể, nên việc nuôi trẻ vẫn phải bằng hình thức các gia đình luân phiên đảm nhiệm nấu ăn rồi mang đến lớp. Hằng tuần, nhà trường lên thực đơn chung cho các lớp theo từng ngày. Mỗi khi chuẩn bị đến phiên nấu ăn, cô giáo gửi phiếu ghi thực đơn cho gia đình trẻ. Định mức hiện tại là 5.000 đồng/xuất/ngày. Số tiền này được dùng để mua thực phẩm (thịt, đậu, rau…) ăn chính và ăn phụ là xôi, cháo, hoa quả…

– Số tiền như vậy có phù hợp nữa không khi mà giá cả leo thang như hiện nay?- Tôi hỏi, cô giáo Thuý trả lời ngay:

– Vâng, cũng còn thấp đấy, nhưng anh tính với mức thu nhập của nhà nông, họ nuôi con như thế cũng vất vả lắm rồi, nên chưa thể đưa lên cao hơn được anh ạ. Bình quân mỗi tháng, một gia đình phải nấu ăn nuôi trẻ một lần cũng chi hết gần 200 nghìn đồng, nhiều người thấy ít thì phụ thêm vào, nhưng cũng không ít người kêu ca phàn nàn vì tốn kém…

4. “Vì yêu trẻ mà gian khổ vẫn say nghề…”.

Đó là lời cô giáo Hiệu trưởng Văn Thị Nguyệt khi nói với tôi về đội ngũ giáo viên ở đây. Và đó cũng là điều dễ nhận thấy khi tôi tiếp xúc với các cô giáo mầm non xã Thường Thắng. Quả thật, dù vất vả, gian nan, thậm chí là nguy hiểm trong công việc “trồng người”, nhưng tôi vẫn thấy các cô thật say nghề. Hôm tôi đến thăm trường là ngày nghỉ, nhưng ở sân trường vẫn nhộn nhịp diễn ra hội thi sáng tạo mô hình, đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho dạy trẻ. Cô Nguyệt bảo: Đáng lẽ thì dành một buổi trong ngày hành chính để tổ chức hội thi, nhưng vì đang mùa màng, nếu các cô nghỉ thì hơn ba trăm trẻ phải nghỉ học, ảnh hưởng tới công việc đồng áng đang gấp rút của các phụ huynh. Các cô đành “hy sinh” ngày nghỉ vậy.

Tôi lại thêm một bất ngờ: Trong điều kiện thời gian eo hẹp như thế, khó khăn về thu nhập như thế, vậy mà ai cũng cố gắng làm được những sản phẩm rất đẹp, rất hữu dụng, dù nguyên liệu chỉ từ những thứ rất đơn giản. Ví những bộ bàn ghế, các ngôi nhà… được cắt bằng xốp; các con vật, những bông hoa, xúc xích… được làm bằng vỏ đồ hộp, bằng giấy loại…; những pa-nô vẽ hình, vẽ chữ…v.v… rất nhiều loại, được đôi bàn tay khéo léo của các cô tự tạo ra. Có người không giấu giếm chuyện “huy động” cả chồng, con cùng hỗ trợ làm giúp để có được sản phẩm đem ra “trình làng”.

– Điều quan trọng là các cô làm để cho trẻ, vì trẻ- Cô giáo Nguyệt khẳng định- chứ không phải vì có cuộc thi mới làm, mà đây là việc làm thường xuyên của các giáo viên mầm non. Nó xuất phát từ tình yêu thương trẻ, và sự say mê với nghề. Nếu không say mê không thể làm được.

Cô giáo Thuỷ tâm sự: “Trước đây, em cũng phải nghỉ dạy mất hơn hai năm vì chồng em đi bộ đội nghĩa vụ, con nhỏ. Lúc ấy, em nhớ lớp, nhớ trẻ lắm. Cứ mong từng ngày để được trở lại nghề dạy trẻ. Bây giờ làm công việc quản lý, nhưng em vẫn tham gia mỗi tuần có 4 giờ trực tiếp đứng lớp, rồi còn trực tiếp dạy thay những cô vì ốm đau, hay có việc phải nghỉ để lớp không bị trống. Nghề dạy trẻ như là đã “ngấm vào máu” của bọn em vậy!

Vâng, tôi đã hiểu, bởi yêu trẻ, yêu nghề mà cho dù giờ đây, mới chỉ có 3 cán bộ quản lý của trường đã vào biên chế, hưởng lương, còn lại 17 cô giáo vẫn là diện hợp đồng, phụ cấp không đủ chi sinh hoạt tối thiểu cho một gia đình, dù có lúc như “đi trên dây”, nhưng không còn ai nghĩ đến chuyện bỏ nghề nữa…

 

5. Nỗi niềm của người quản lý.

Cô giáo Hiệu trưởng Văn Thị Nguyệt dẫn tôi gặp Nhà giáo ưu tú Nguyễn Thị Hoa, Phó trưởng phòng Giáo dục- Đào tạo phụ trách giáo dục Tiểu học và Mầm non huyện Hiệp Hoà. Trò chuyện với cô giáo Hoa, tôi nhận được sự đồng cảm sâu sắc với những trăn trở về nghề giáo viên mầm non ở quê. Tuy mới được giao phụ trách khối Mầm non của ngành giáo dục huyện chưa lâu, nhưng cô giáo Hoa đã khảo sát rất kỹ lưỡng về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, cũng như chất lượng dạy học của khối. Thấu hiểu nỗi vất vả, thu nhập lại rất thấp của giáo viên mầm non, cô giáo Hoa luôn trăn trở làm thế nào để góp phần giúp cho giáo viên mầm non yên tâm công tác. Bậc học mầm non ở các vùng nông thôn hiện vẫn thực hiện theo mô hình dựa vào nguồn lực của thôn là chính, nên rất khó khăn trong việc xây dựng cơ sở vật chất. Nếu thôn nào có quỹ đất chuyển nhượng thu được nhiều tiền thì trường học được đầu tư chu đáo, còn nếu không có thì rất khó khăn. Hiện nay số được vào biên chế còn quá ít, cả huyện chỉ có 108/556 giáo viên là các cán bộ quản lý và giáo viên nòng cốt được vào biên chế.

Trả lời băn khoăn của tôi về cách trả phụ cấp một mức bằng nhau như thế có gây tệ bình quân chủ nghĩa hay không, cô giáo Hoa tỏ ra đồng tình: “Đấy cũng là điều rất bất cập. Tuy nhiên, khi chưa có chính sách mới, thì theo chúng tôi để khuyến khích giáo viên phấn đấu, nên phân loại chuyên môn, hằng năm nên xét lựa chọn người có đủ tiêu chí về văn bằng, khả năng chuyên môn… để được vào biên chế. Như thế họ sẽ có động lực để thi đua, phấn đấu”. Cũng theo cô giáo Hoa, hiện tại giáo viên mầm non trong toàn huyện còn thiếu rất nhiều, nếu mức lương, phụ cấp như hiện tại thì rất khó có thể thu hút được người đã qua đào tạo bậc học này trở về quê dạy học…

Cô giáo Nguyệt tâm sự: Làm cán bộ quản lý ở trường mầm non xã, thương chị em giáo viên lắm, nhưng chưa có cách gì để nâng cao thu nhập cho chị em được, đành lấy sự động viên, khích lệ là chính. Quan điểm của đội ngũ cán bộ quản lý là luôn sâu sát, bám lớp, xây dựng mối đoàn kết thương yêu, giúp đỡ nhau kể cả trong giảng dạy cũng như trong cuộc sống đời thường. Đối với chị em, điều đó như liều thuốc tinh thần để cùng nhau vượt qua khó khăn trước mắt, yên tâm gắn bó với nghề.

6. Vĩ thanh…

Lúc đang ngồi ở quê để hoàn chỉnh phần kết bài viết này, tôi gặp ông cụ hàng xóm dắt cháu bé sang chơi. Cháu bé ngoan ngoãn khoanh hai tay trước ngực: “Cháu chào bác ạ!”. Tôi xoa đầu bé, khen ngoan. Ông cụ bảo: “Từ ngày đi mẫu giáo ngoan lắm, bố mẹ chả phải bận tâm mấy”. Rồi không chỉ có vậy, cậu bé còn múa, hát cho tôi xem khá nhiều bài mà cô đã dạy. Tiếng cười, tiếng vỗ tay rộ lên. Nhìn cháu bé, tôi lại thấy thêm cảm phục những người giáo viên mẫu giáo ở quê tôi. Chợt nghĩ, cứ nhìn vào những mầm non mà họ có công ươm trồng kia, thì nghề của họ không còn “như người đi trên dây” nữa, cũng không còn bị coi là “nghề phụ” nữa, bởi mọi người đã và sẽ luôn tôn vinh họ…

Khi bài báo sắp lên khuôn, tôi lại nhận được điện thoại của cô giáo Hiệu trưởng Văn Thị Nguyệt. Giọng rất vui, cô Nguyệt thông báo: Hội đồng Nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có Nghị quyết số 31/2008/NQ-HĐND, trong đó có chính sách hỗ trợ giáo viên mầm non thực hiện từ 1-1-2009, có mức thu nhập mỗi tháng bằng mức lương khởi điểm của giáo viên trong biên chế cùng trình độ đào tạo. Cụ thể, ngân sách tỉnh hỗ trợ hàng tháng bằng mức lương tối thiểu, còn lại giao cho cấp huyện cân đối từ các nguồn ngân sách huyện, xã, thu học phí và các nguồn thu khác hỗ trợ đạt mức lương khởi điểm của giáo viên trong biên chế cùng trình độ đào tạo hỗ trợ thêm cho giáo viên. Thông tin này chắc chắn sẽ là niềm khích lệ rất lớn cho đội ngũ giáo viên mầm non trong đầu xuân mới. Cô Nguyệt hẹn, nếu tuần tới tôi về được thì mời đến dự lễ cắt băng khánh thành một phòng học mới ở thôn Hiệp Đồng. Đây là phòng học đạt chuẩn, có diện tích 90m2 nhà kiên cố mái bằng, trên khuôn viên rộng 360m2, trị giá công trình hơn 250 triệu đồng. Kinh phí nhà nước hỗ trợ hơn 60% nhằm xoá phòng học tạm, còn lại do dân đóng góp. Vâng, tôi chia vui với niềm vui của cô giáo Nguyệt, và mong sao sẽ có nhiều phòng học mới mọc lên ở vùng quê thuần nông này, để dần xua đi nỗi nhọc nhằn vất vả của những người giáo viên mầm non như thế. Và như thế, chắc chắn nghề giáo viên mầm non ở nông thôn sẽ không bị coi là “nghề phụ” nữa…

Tác giả: Nguyễn Hoàng Sáu, Tạp chí Văn hoá Quân sự, Số 23- Lý Nam Đế- Hà Nội, ĐT: 0985.696 711 – 069.551 207- 04. 37345947

Nguồn: Báo Giáo dục và Thời đại số tết xuân 2008

Related Articles

Leave a Comment