Home Tin TứcKinh tế Nhà báo Nguyễn Hoàng Sáu trao đổi với nguyên Trưởng ban Ban Biên giới Trần Công Trục

Nhà báo Nguyễn Hoàng Sáu trao đổi với nguyên Trưởng ban Ban Biên giới Trần Công Trục

by HiephoaNet

Tiến sĩ, Luật sư Trần Công Trục – nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ:

VĂN HÓA ỨNG XỬ TRÊN BIỂN ĐÔNG ĐANG BỊ COI NHẸ…

Lời dẫn: Sự kiện Trung Quốc (TQ) ngang nhiên hạ đặt giàn khoan Hải Dương – 981 vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt nam đã và đang được dư luận trong nước, quốc tế quan tâm đặc biệt và kịch liệt phản đối. Hơn lúc nào hết, an ninh trên Biển Đông bị đe dọa nghiêm trọng bởi luật pháp quốc tế dường như không được tôn trọng. Nhà báo Nguyễn Hoàng Sáu đã có cuộc trao đổi với TS, LS. Trần Công Trục – nguyên Trưởng ban Ban Biên giới Chính phủ. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. 

 

– Nguyễn Hoàng Sáu: Thưa ông, hiện nay trước việc TQ hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương – 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, có ý kiến cho rằng, Công ước của LHQ về Luật Biển – 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới lần II, nhiều nước ký kết và tham gia (trong đó có TQ), nhưng xem ra chưa đủ mạnh để ngăn cản những hành động như trên của TQ, xin ông có thể lý giải  về điều này?

– TS, LS. Trần Công Trục: Không phải là chưa đủ mạnh để ngăn cản những hành động như trên của TQ mà chính xác là TQ đã cố tình giải thích và áp dụng sai các quy định của Công ước để phục vụ cho yêu sách vô lý của họ. Chẳng hạn, việc họ giải thích và áp dụng các quy định có liên quan đến việc thiết lập hệ thống đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các hải đảo và quần đảo xa bờ, như Quần đảo Hoàng Sa, Quần đảo Trường Sa, thậm chí các nhóm đảo chìm, bãi cạn Macclesfils, Pratas mà TQ gọi là Trung Sa, Đông Sa, theo tiêu chuẩn của quốc gia quần đảo để mở rộng phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ, mặc dù các đảo, đá, bãi cạn thuộc các quần đảo này quá nhỏ bé, môi trường khí hậu thiên nhiên khắc nghiệt, không thích hợp cho đời sống con người và không có đời sống kinh tế riêng… Xuất phát từ sự cố ý giải thích và áp dụng sai Công ước LHQ về Luật Biển – 1982 mà TQ đã tiến hành các hoạt động vi phạm đến các quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam và các nước khác xung quanh Biển Đông. Vụ hạ đặt giàn khoan Hải Dương – 981 và vụ chiếm đoạt bãi ngầm Scarborough là những ví dụ điển hình…

Không phải không đủ mạnh mà vấn đề là các quốc gia thành viên của Luật Biển – 1982 có hoàn toàn dựa vào nó làm cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề có liên quan đến quyền lợi, trách nhiệm và  nghĩa vụ của mình hay không…; hoặc vai trò của các tổ chức quốc tế, các cơ quan tài phán quốc tế về Luật Biển đã được thành lập sẽ thực thi nhiệm vụ như thế nào… Đấy là những vấn đề có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu lực của Công ước này.

– Nguyễn Hoàng Sáu:Thưa ông, luật pháp quốc tế về biển thì ngoài Công ước của LHQ về Luật Biển – 1982, giữa ASEAN và TQ còn có một “Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông” (DOC), vậy thì theo ông, với việc hạ đặt giàn khoan Hải Dương – 981 và những hành động hiện nay của TQ trên Biển Đông, họ đã vi phạm vào điều khoản nào trong hai văn bản nêu trên?

– TS, LS. Trần Công Trục: Để phân tích những vi phạm của TQ thì phải dùng rất nhiều thời lượng để mổ xẻ. Nhưng ở đây tôi chỉ nêu vắn tắt như thế này: Việc hạ đặt giàn khoan Hải Dương – 981, TQ đã vi phạm vào Điều 56, phần V của Công ước LHQ về Luật Biển – 1982 quy định về “Các quyền, quyền tài phán và các nghĩa vụ của các quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế”; Điều 77 cũng thuộc phần này quy định về “Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa”… Việc TQ dùng rất nhiều tàu, có cả tàu quân sự ngăn cản, thậm chí cố tình tấn công, phá hỏng các tàu chấp pháp của Việt Nam, tức là đã vi phạm Điều 30, Tiểu mục C quy định “Tàu chiến không tuân thủ các luật và quy định của quốc gia ven biển”… Còn nếu chiểu theo “Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông” (DOC) thì rõ ràng TQ đã hành động trái ngược với hầu hết các điều khoản đã được ghi trong đó.

– Nguyễn Hoàng Sáu: Trong các phát biểu của giới cầm quyền cũng như quân đội Trung Quốc, họ dường như phớt lờ cái sai pháp lý của họ, do vậy có người nhận định rằng đó là hành vi ứng xử thiếu… văn hóa. Vậy thì cốt lõi của văn hóa ứng xử trên Biển Đông trong bối cảnh hiện tại phải chăng đã bị coi nhẹ, thưa ông?

– TS, LS. Trần Công Trục: Theo tôi, cốt lõi của văn hóa ứng xử trên Biển Đông là phải chấp hành, các quy định, các nguyên tắc của pháp luật quốc tế hiện hành, tôn trọng Công ước của LHQ về Luật Biển – 1982; tôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia khác; phải ứng xử văn minh và nhân đạo theo đúng truyền thống của những người đi biển là đầy lòng bao dung, rộng lượng, sẵn sàng chia  sẻ ngọt bùi, cứu giúp lẫn nhau vô điều kiện khi gặp nạn trên biển… Rõ ràng những hành động vừa qua do TQ tiến hành đã đi ngược lại những tiêu chuẩn tối thiểu của văn hóa ứng xử trên biển… Cho nên, ngoài vấn đề an ninh ra thì vấn đề văn hóa ứng xử trên Biển Đông đúng là đang bị coi nhẹ, mà cụ thể là một nước lớn, giữ ghế Thường trực Hội đồng Bảo an LHQ như TQ lại vi phạm trước tiên trong vấn đề này.

– Nguyễn Hoàng Sáu: Nói về ứng xử văn hóa thì tức là nói đến chữ “tình”, mỗi bên đều phải tôn trọng thì mới giải quyết ổn thỏa được. Nhưng khi chữ “tình” đó bên đối phương coi nhẹ, vậy ta sẽ phải đối lý chứ không thể đơn phương giữ mãi chữ “tình” đó được, thưa ông?

– TS, LS. Trần Công Trục: Theo tôi, ứng xử văn hóa theo đúng nghĩa của nó trong xã hội văn minh hiện đại ngày nay không phải chỉ là chữ “tình” mà phải trên cơ sở chữ “lý” có kết hợp với chữ “tình”. Cái lý mới là cái cốt lõi của ứng xử văn hóa và mới tránh được tình trạng “bằng mặt mà không bằng lòng”, đấy mới là cơ sở của “niềm tin chiến lược”, mới là chỗ dựa cho mọi mối bang giao thực chất, bền vững, trường tồn. Cha ông ta vẫn nhắc nhở: “Thương yêu nhau thì phải rào giậu cho kỹ”, tức là muốn tránh sự tranh chấp thì trước hết phải phân định rõ ràng, mà phải bằng luật pháp, chứ không thể vì nể nhau mà bỏ qua được những nguyên tắc luật pháp, nhất là vấn đề biên giới, lãnh thổ, lãnh hải… Vấn đề của ta với TQ trên Biển Đông hiện nay, muốn giải quyết được, nhất định phải bằng luật pháp quốc tế chứ không thể vì nể mà cố giữ chữ “tình”…

– Nguyễn Hoàng Sáu: Vâng, nhưng lại có người tỏ ra e ngại rằng, khi “anh em” đã kiện nhau thì cái “tình” kia trở nên khó giữ, vậy phải làm sao để vừa thấu lý, lại vừa đạt tình, thưa ông?

– TS, LS. Trần Công Trục: Tôi cho rằng đấy là quan niệm hết sức sai lầm, là kiểu  tư duy cổ hủ , lạc hậu: “trăm cái lý không bằng một tí cái tình”, hoặc “chân lý thuộc về kẻ mạnh”… những điều mà nay đã không còn phù hợp. Trong xã hội dân sự hiện đại, việc sử dụng các cơ quan tài phán để bảo vệ chân lý, sự thật là điều hết sức bình thường, là văn minh, tiến bộ và đó là cách ứng xử bình đẳng… Chính nhờ việc “kiện”, hay nói cách khác là khi có tranh chấp về quyền lợi mà không thể thỏa thuận được với nhau thì phải đưa ra tòa án để phân xử đúng sai rạch ròi thì mới là cơ sở để bảo đảm cho mối quan hệ “anh em” được bình đẳng, đúng mực, thực chất, bền lâu không giả dối; đó cũng là cơ sở để tạo sự bền vững trong duy trì mối quan hệ bang giao. Ngay trong lời đầu tiên của Công ước LHQ về Luật Biển – 1982 đã ghi rõ: “Với lòng mong muốn giải quyết, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác với nhau, mọi vấn đề liên quan đến luật biển, và ý thức được tầm vóc lịch sử của Công ước là một cống hiến quan trọng vào việc giữ gìn hòa bình, công lý và tiến bộ cho tất cả các dân tộc trên thế giới”. Cho nên, theo tôi đấy mới là “ thấu lý, đạt tình” với đúng nghĩa của nó!

– Nguyễn Hoàng Sáu: Và cuộc đấu tranh bằng luật pháp quốc tế nếu xảy ra sẽ là lâu dài, đòi hỏi sự đồng thuận của cả trong và ngoài nước, nhưng chính nghĩa của ta sẽ chiến thắng, thưa ông?

– TS, LS. Trần Công Trục: Đúng thế! Nếu đấu tranh pháp lý xảy ra thông qua Tòa án quốc tế đòi hỏi phải có sự chuẩn bị, có sự nghiên cứu phân tích một cách khoa học, khách quan, phải có kiến thức pháp lý thấu đáo; và phải tuân thủ các thủ tục rất phức tạp… cho nên không thể một sớm một chiều được. Đây là công việc lâu dài, bền bỉ, phải được tổ chức tập trung nghiên cứu thực hiện một cách nghiêm túc bởi đội ngũ những luật sư, luật gia có trình độ ở cả trong và ngoài nước. Đương nhiên, phải trên cơ sở đó mới tạo được sự đồng thuận trên dưới, trong ngoài. Điều quan trọng là chúng ta có chính nghĩa, có lợi thế về mặt pháp lý và chúng ta phải nghiêm túc tuân thủ mọi thủ tục theo quy định của luật pháp quốc tế để phát huy được lợi thế đó. Cuộc đấu tranh pháp lý của ta nếu như xảy ra chắc chắn sẽ lâu dài, khó khăn, phức tạp; song chúng ta tin tưởng vững chắc rằng phần thắng sẽ thuộc về chúng ta, bởi ngoài sự đúng đắn được luật pháp quốc tế bảo vệ, chúng ta còn có sự ủng hộ vô cùng to lớn của cộng đồng quốc tế khắp năm châu bốn biển đã và đang lên tiếng đòi TQ phải rút giàn khoan Hải Dương – 981 ra khỏi vùng biển Việt Nam vô điều kiện, Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam…

– Nguyễn Hoàng Sáu: Được biết tuy đã nghỉ hưu nhiều năm rồi, nhưng ông vẫn hoạt động rất sôi nổi, nhất là trong việc nghiên cứu, biên soạn xuất bản các ấn phẩm về chủ quyền biển, đảo, biên giới… Điều đó xuất phát từ sự tâm huyết, hay do yêu cầu (hoặc “đặt hàng”) của cơ quan chức năng, thưa ông?

– TS, LS. Trần Công Trục: Đúng là tôi có cơ duyên gắn bó với sự nghiệp biển đảo, biên giới. Tốt nghiệp Trường Đại học Ngoại thương năm 1968, tôi về công tác ở Tổng Công ty Xuất nhập khẩu Nông sản Thực phẩm – Bộ Ngoại thương, đến năm 1971 thì được điều động nhập ngũ. Trên đường đi B, tôi được lệnh ngược ra Bắc, về Bộ Tư lệnh Hải quân, nhận nhiệm vụ mới. Tại đây, tôi bắt đầu những nghiên cứu về biển đảo. Năm 1976, sau khi nước nhà thống nhất, tôi được biệt phái sang Ban Biên giới Chính phủ. Năm 1982, tôi chính thức chuyển ngành về công tác tại Ban Biên giới Chính phủ và từ năm 1995, được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Biên giới Chính phủ, rồi giữ cương vị này cho đến lúc nghỉ hưu (năm 2004).

Như vậy, hơn 30 năm, làm những công việc liên quan trực tiếp đến biên giới và biển, hải đảo, tôi đã dành cả tâm huyết, khả năng và trách nhiệm cho sự nghiệp này. Tôi đã từng tham gia đàm phán giải quyết tranh chấp biên giới đất liền và biển, đảo với các nước láng giềng với cương vị Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ (với Lào và Campuchia), Phó đoàn đàm phán cấp Chính phủ (với TQ), Trưởng nhóm chuyên viên về biên giới đất liền, vịnh Bắc Bộ, vấn đề trên biển giữa Việt Nam và TQ… Tại những cuộc đàm phán này, tôi và các cộng sự luôn khắc ghi lời Bác “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, giữ vững lập trường nhất quán của ta, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhưng cũng bày tỏ thái độ bình tĩnh, mềm dẻo, linh hoạt trong ứng xử với đối tác… Cuốn sách “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” là từ yêu cầu của công việc chuyên môn, cũng là từ tâm huyết sau hơn nửa cuộc đời gắn bó với chủ quyền biên giới quốc gia (đã đoạt giải Bạc, Giải thưởng sách hay Việt Nam – 2013). Ngoài ra, tôi còn tham gia biên soạn nhiều sách, tác phẩm báo chí về lĩnh vực biển, đảo và đã nhận được những phần thưởng cao quý, được dư luận đánh giá cao…

Trong những năm gần đây, vấn đề chủ quyền biển đảo vẫn là một đề tài nóng và nhận được sự quan tâm của đồng bào, chiến sĩ cả nước. Mặc dù đã nghỉ hưu và đang làm dịch vụ pháp lý với tư cách là Luật sư, Công chứng viên, tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu và cố gắng tham gia vào nhiệm vụ truyền thông, giáo dục về biển đảo với tư cách là chuyên gia biển đảo độc lập và vì vậy, mỗi khi nhắc tới lĩnh vực này, tôi được mọi người nhắc đến với cái tên thân mật là “Ông Biển Đông”.

– Nguyễn Hoàng Sáu: Trân trọng cảm ơn ông đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này. Kính chúc ông dồi dào sức khỏe để tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu biển đảo, cũng như nghề luật sư mà ông tâm huyết!

Nguyễn Hoàng Sáu (thực hiện)

Related Articles

Leave a Comment