Trang chủ Tin TứcKinh tế Cụ Đồ Ba Ngô Văn Thấu: Một nhà nho yêu nước

Cụ Đồ Ba Ngô Văn Thấu: Một nhà nho yêu nước

Đăng bởi HiephoaNet

Thân thế, cuộc đời

Cụ Đồ Ba Ngô Văn Thấu (1883-1959) sinh năm 1883, tại Vân Xuyên, Hiệp Hòa, Bắc Giang, là hậu duệ đời thứ 9 họ Ngô –Vân Xuyên. Cụ là nhà Nho yêu nước xuất thân từ một dòng họ Khoa bảng. Cụ là hậu duệ đời thứ 7 của Tiến sĩ Quận công Tham Tụng Trịnh Ngô Dụng (1684-1746).

Ông nội của cụ Ngô Văn Thấu là cụ Ngô Văn Dũng (trong họ vẫn gọi là Cụ Hương), đỗ tam trường ở tuổi 20, không ra làm quan, ở tại gia dạy học và bốc thuốc chữa bệnh. Cụ vốn thông minh, tinh thông y nho lý số, lại giàu lòng nhân ái cứu giúp người nghèo khổ gặp khó khăn vận hạn.

Thân phụ của cụ Ngô Văn Thấu là cụ Ngô Văn Quán, thường gọi là cụ Đồ Tác, sinh năm 1844, vợ là Nguyễn Thị Vụ người làng Phù Khê phủ Từ Sơn. Cụ Đồ Tác có quan hệ rất mật thiết với Nguyễn Thiện Thuật, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy – Hưng Yên chống Pháp. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, gia quyến của Nguyễn Thiện Thuật được Cụ nuôi giấu che chở suốt 3 năm. Mãi sau này bị lộ Cụ đã bố trí cho họ bí mật trốn sang Trung Quốc. Hai cụ sinh được 7 người con trong đó có hai người nối được nghiệp cha, đó là cụ Ngô Văn Quỳ và cụ Ngô Văn Thấu. 

Bia ở sân nhà cụ Đồ Ba

Cụ Ngô Văn Thấu, thường gọi là cụ Đồ Ba, sinh 1883. Cụ vốn thông minh học giỏi, đỗ tứ trường nhưng không ra làm quan ở lại quê nhà dạy học, bốc thuốc chữa bệnh. Hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Yên Thế, gia đình cụ là nơi hội tụ của trai tráng trong vùng đầu quân ứng nghĩa trước khi lên căn cứ địa Phồn Xương. Cụ có tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục trong thời gian làm nghề bốc thuốc ở phố Thuốc Bắc, Hà Nội 1917-1920. Cuộc họp chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Yên Bái tháng 2 năm 1930 do Nguyễn Thái Học chủ trì tổ chức tại nhà Ngô Văn Thấu và Ngô Văn Quỳ ở làng Vân Xuyên. Gia đình cụ là cơ sở đầu tiên của khu căn cứ địa cách mạng Hoàng Vân – ATK2 của Trung ương và xứ ủy Bắc Kỳ. Cụ là một trong 60 đại biểu toàn quốc đi dự Đại hội quốc dân Tân Trào tháng 8 năm 1945. Ngôi nhà cụ Đồ Ba được nhà nước công nhận Di tích lịch sử văn hóa ATK2 Hiệp Hòa. Gia đình Cụ được Nhà nước tặng Bằng Gia Đình Có công với nước.

Năm 1926 Nguyễn Văn Cừ tham gia tổ chức lễ truy điệu Phan Chu Trinh và bị đuổi học khi đang học trường Bười, Hà Nội. Nguyễn Văn Cừ lánh lên ở nhà chú rể Ngô Văn Thấu ở làng Vân Xuyên một thời gian. Thời gian ở đây Nguyễn Văn Cừ đã tuyên truyền giác ngộ chủ nghĩa cộng sản và con đường đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc cho các em họ (con cụ Đồ Ba): Ngô Văn Đán, Ngô Văn Hiệp (tức Ngô Tuấn Tùng), sau này là những người cộng sản đầu tiên của tỉnh Bắc Giang.

Ở Hoàng Vân gia đình cụ Đồ Ba thông qua mối quan hệ gia đình bên ngoại ở làng Phù Khê, Tam Sơn, Bắc Ninh (quê đồng chí Nguyễn Văn Cừ – Tổng Bí Thư của Đảng) là Cơ sở cách mạng đầu tiên của huyện Hiệp Hòa (tháng 8 – 1938).

Cụ Đồ Ba là một Thầy đồ nho có uy tín, được nhiều gia đình gửi gắm con em theo học và có nhiều học trò thành đạt trên con đường cách mạng giành độc lập. Các con của Cụ được Cụ dạy chữ Nho và truyền bá tư tưởng cách mạng chống Tây từ rất sớm. Họ cũng học được ở người Cha, người Thầy nề nếp đạo đức của một gia đình Nho học.

Cụ cũng là một thầy thuốc Đông y giỏi, theo nghề thuốc gia truyền từ các đời trước, cứu chữa cho nhiều người trong vùng. Cụ đã bốc thuốc làm phúc, đúng theo đạo lí các cụ đời trước truyền lại. Vào năm 1939 đồng chí Hoàng Quốc Việt đang ở nhà cụ Đồ Ba bị ốm nặng, tưởng không qua khỏi, đồng chí đã đã dặn dò người nhà của cụ Đồ Ba: “Nếu tôi có chết thì chôn tôi ở luống củ, san phẳng đi đừng để lộ”. Nhờ sự thuốc thang cứu chữa của cụ Đồ Ba mà đồng chí Hoàng Quốc Việt đã được cứu sống. Cụ đã thuốc men, chữa bệnh cho hơn 20 chiến sĩ cách mạng, trong đó có 2 con trai Cụ là Ngô Tuấn Tùng và Ngô Duy Phương cùng nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng lúc đó, vừa thoát khỏi ngục tù Sơn La đầu năm 1945 về ở nhà Cụ.

Cụ mất ngày 2-9-1959 tại quê nhà, thọ 77 tuổi, mộ Cụ ở Gò Vườn Ngoài, nội Đống Mú, Vân Xuyên. Con cháu hàng năm luôn khắc ghi ngày giỗ Cụ.

Cụ bà Nguyễn Thị Uyên (1890-1942) quê Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh là bà cô họ của đồng chí Nguyễn Văn Cừ, cố Tổng bí thư Đảng cộng sản Đông Dương (1938 – 1940). Cụ là người con gái Kinh Bắc đảm đang, hiền hậu, chịu đựng, hết lòng vì chồng con, vì lí tưởng của chồng con là làm cách mạng giành độc lập cho dân tộc. Năm 1942 Cụ bị chó dại nhà hàng xóm cắn và mất ngày 25-4 âm lịch năm 1942 tại Vân Xuyên. Khi Cụ mất, con trai cả Ngô Văn Đán thì đang bị mật thám Pháp truy lùng gắt gao, đang bị kết án tử hình vắng mặt, hai người con trai nữa là Ngô Tuấn Tùng và Ngô Duy Phương đang bị Pháp giam ở nhà tù Sơn La, cả ba người con trai đều không thể có mặt để chịu tang mẹ. Cụ Đồ Ba chôn cất Cụ Bà ở Gò Vườn Ngoài nội Đống Mú, Vân Xuyên và dặn con cháu đào sâu chôn chặt, không được cải táng.

Cụ Đồ Ba sinh được 5 người con, 3 trai, 2 gái.

Những người con

Con trai cả Ngô Văn Đán (1910-1991) là Lão thành cách mạng, còn có tên Ngô Văn Hoạt. Ông nguyên là Thường vụ Tỉnh ủy,Trưởng Ban Tổ chức và Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tỉnh Thái Nguyên, Uỷ viên Ủy ban Khu tự trị Việt Bắc. Năm 1984 Ông được Nhà nước tặng Huân chương độc lập Hạng Hai. Ông mất ngày 11- 10 âm lịch năm 1991 tại tư gia xã Đức Thắng huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang, thọ 82 tuổi. Mộ của ông cũng ở Gò Vườn Ngoài nội Đống Mú, Vân Xuyên, gần mộ Cụ Đồ Ba.

Ông vào Đảng ngày 1-6-1938 tại Đào Xuyên, Gia Lâm. Người kết nạp là đồng chí Lê Hoàng, và đồng chí Hoàng Cừ, lúc đó cả hai ông đều là Xứ ủy viên Bắc Kỳ. Ngày chính thức vào Đảng: 1-9-1938 (chỉ sau 3 tháng được kết nạp). Ngay hôm sau, ông được chỉ định làm Bí thư chi bộ ghép Gia Lâm, Thuận Thành (Bắc Ninh) vì đồng chí Bí thư chi bộ cũ vừa bị Pháp bắt. Chính trong khoảng thời gian này (1938-1940), ông đã bồi dưỡng, kết nạp vào Đảng đồng chí Lê Quang Đạo (sau này là Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, từ 1987-1992).

Từ cuối năm 1940 đến cuối năm 1942 ông làm Bí thư các huyện Ân Thi, Phủ Cừ, Văn Lâm tỉnh Hưng Yên.

Ông tham gia cách mạng từ 1935 tại Sen Hồ. Khi đó ông là học sinh Thành Chung năm thứ 3. Người giới thiệu tham gia cách mạng là ông Nguyễn Văn Luận, bạn học cùng lớp. Ông Luận tức Trần Danh Tuyên sau này là Bộ Trưởng Bộ Vật tư.

Ông là một Thầy giáo, một trí thức yêu nước, trung thành tuyệt đối với lí tưởng của mình: làm cách mạng để đánh đuổi giặc Tây, xây dựng chính quyền mới ưu việt hơn. Lí tưởng đó chính là lí tưởng Cộng sản thời kỳ đang cần giành chính quyền. Ông là Người cộng sản trung kiên, là người đồng chí thủy chung có trước có sau. Ông đã từng rất đau lòng và chịu hy sinh mất mát vì trong tổ chức, có những kẻ đã từng là đồng chí mình phản bội mình, phản bội Đảng. Trước khi ông mất mấy tháng, ông lại phải rất đau lòng chứng kiến sự sụp đổ của Liên bang Xô viết. Con cháu ông kể lại, những ngày sau đó ông rất buồn và càng trầm lặng, ít nói.

Năm 1965 ông bị xuất huyết dạ dày và phải mổ cấp cứu, cắt 2/3 dạ dày, ông nghỉ hưu sớm lúc 55 tuổi. Từ khi nghỉ hưu đến khi mất, gần 30 năm ông làm thuốc gia truyền của các cụ đời trước truyền lại, cứu chữa, giúp đỡ cho nhiều người, đặc biệt là những người nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều gia đình có người thân được ông cứu chữa nay vẫn ghi ơn Ông.

Ông sống rất khảng khái, khiêm tốn, giản dị, bao dung và gần gũi với mọi người. Ông được nhiều người kính nể, tôn trọng. Tính ông ít nói, điềm đạm, nhận định suy xét các vấn đề rất thận trọng, khách quan đúng mực và đúng lúc.

Ông cũng là người có uy tín trong dòng họ và địa phương. Sau khi ông mất, Ông để lại những tình cảm, những ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài cho con cháu, cho dòng họ, cho dân làng và cho cả những người đã từng cùng công tác với Ông!

Con trai thứ hai Ông Ngô Tuấn Tùng (1913-1998) cũng là Lão thành Cách mạng, tên lúc sinh là Ngô Văn Hiệp. Ông nguyên là Phó Chủ tịch tỉnh Thái Nguyên,Vụ trưởng Vụ tiền lương Uỷ ban Kề hoạch nhà nước, Huân chương Độc lập Hạng Ba.

Ông Ngô Tuấn Tùng là một trong năm Đảng viên cộng sản đầu tiên của Chi bộ đầu tiên của tỉnh Bắc Giang: Chi bộ Phủ Lạng Thương (năm1938, người kết nạp và thành lập chi bộ là đồng chí Hoàng Quốc Việt, lúc ấy là Thường Vụ TW). Ông Ngô Tuấn Tùng cũng là Vị Chủ tịch đầu tiên của huyện Hiệp Hòa từ 1-6-1945.

Ông là người Cộng sản trung kiên, trung thành tuyệt đối với lí tưởng, một nhân cách ngay thẳng, rất khinh ghét những kẻ a dua, xu nịnh, là ngừời sống rất khảng khái, thẳng thắn và quyết đoán.
Ông mất ngày 22-7-1998 tại Bệnh viện Việt Xô, hưởng thọ 86 tuổi. Mộ của ông cũng ở Gò Vườn Ngoài, nội Đống Mú, gần mộ Cụ Đồ Ba.

Năm 1933, ông Ngô Văn Hiệp xây dựng gia đình với bà Nguyễn Thị Cẩn (1913-2010) quê ở Cẩm Giàng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Thân mẫu bà Cẩn là chị ruột của thân phụ đồng chí Nguyễn Văn Cừ. Bà Cẩn là Lão thành Cách mạng. Bà mất 24-4 âm lịch năm 2010, thọ 97 tuổi. Mộ bà cũng ở Gò Vườn Ngoài nội Đống Mú, cạnh mộ ông Ngô Tuấn Tùng.

Con thứ ba Ngô Thị Phát , sinh năm 1917, là lão thành Cách mạng, vợ của Liệt sĩ Nguyễn Trọng Uẩn. Nhiều năm tháng bà làm liên lạc cho tổ chức Đảng thời kì bí mật. Bà cũng là người phụ giúp phần nội trợ cùng bà Nguyễn Thi Dư, con dâu trưởng của Cụ Đồ Ba nuôi giấu, thuốc men cho nhiều cán bộ cách mạng tại nhà Cụ Đồ Ba.

Con thứ tư Ngô Duy Phương (1922-1999) là Lão thành cách mạng, tên lúc sinh là Ngô Văn Thạnh. Ông nguyên là Đại biểu Quốc hội khóa 2- 1960- 1964, Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Tỉnh Bắc Giang, Chánh văn phòng bộ Thủy lợi, Huân chương Độc lập Hạng Ba. Ông mất ngày 13-3 âm lịch năm 1999 tại Bệnh viện Việt Xô, thọ 78 tuổi. Mộ của ông cũng ở Gò Vườn Ngoài nội Đống Mú, gần mộ Cụ Đồ Ba.

Ông là một trong ba Đảng viên đầu tiên của Chi bộ đầu tiên của Huyện Hiệp Hòa (chi bộ Hoàng Vân). Ngày được kết nạp cũng chính là ngày thành lập Chi bộ này: ngày 16 tháng 2 năm 1940, tại địa điểm Nội Đống Mú. Bí thư chi bộ khi đó là đồng chí Lê Hoàng – Xứ ủy viên xứ ủy Bắc Kỳ. Những hạt giống Cộng sản đầu tiên đó sau này đã ươm mầm cho nhiều cán bộ kế tiếp của Đảng.

Ông Ngô Duy Phương đã dìu dắt và bồi dưỡng nhiều thanh niên hăng hái của làng Vân Xuyên tham gia cách mạng. Có người trong số đó sau này cũng trở thành những cán bộ chủ chốt của địa phương.

Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, ông Ngô Duy Phương làm Bí thư huyện ủy Việt Yên, tiếp theo là Bí Thư huyện ủy Yên Thế (lúc đó gồm cả huyện Tân Yên). Sau đó trở thành Chủ tịch Tỉnh Bắc Giang (1958-1963).

Ông là người Cộng sản trung kiên, là ngừời sống rất khảng khái, tuy nóng tính nhưng rất tình cảm, cả tin, nhân hậu và thương người.

Con gái út Ngô Thị Phấn (1924-1956) tính tình hiền dịu. Bà lấy chồng người Cẩm Giàng Từ Sơn, mất tại Vân Xuyên do hậu sản, mộ bà cũng ở gò Vườn Ngoài, nội Đống Mú.

Bà Phấn sinh được 2 người con gái, con gái trưởng là chị Nguyễn Thị Xuyên là giáo viên cấp 3 môn Vật lí của Từ Sơn (đã nghỉ hưu); con thứ 2 là Nguyễn Thị Vinh, sau này trở thành con nuôi ông Nguyễn Thanh Quất xóm Đá, Vân Xuyên. Từ khi ông Quất nhận chị Vinh làm con nuôi (1957), tình cảm giữa ông Quất và ông Ngô Duy Phương trở nên thân thiết.

Phần kết

Năm 1941 ông Ngô Tuấn Tùng và ông Ngô Duy Phương bị giặc Pháp bắt đi tù ở Sơn La, ông Ngô Văn Đán đang phải trốn chạy khỏi sự truy lùng gắt gao của mật thám. Đúng những lúc gian khó nhất đó của gia đình thì cụ bà Đồ Ba Nguyễn Thị Uyên bị chó dại nhà hàng xóm cắn, cụ mất ngày 25-.4 âm lịch năm1942. Lúc đưa tang bà, cả ba người con trai của Cụ đều không có mặt để chịu tang mẹ. Sau này Ông Ngô Văn Đán kể lại với con cháu: sau khi Bà mất, có đêm ông đã bí mật lẻn về ngồi ở phía bờ ao bên kia nhà nhìn về bàn thờ mẹ, rất đau khổ mà không thể về được.
Cụ Đồ Ba an táng cho Cụ Bà ở Gò Vườn Ngoài nội Đống Mú. Cụ dặn con cháu đào sâu, chôn chặt không cải táng. Sau này, khi Cụ Đồ Ba mất (2-9-1959), trước khi mất Cụ cũng dặn con cháu an táng Cụ tại gò Vườn Ngoài nội Đống Mú nơi Cụ đã chọn từ trước (vốn xưa kia là ruộng mạ của gia đình) và cũng đào sâu chôn chặt không cải táng. Từ đó về sau tất cả con Cụ đều noi theo Cụ: khi an nghỉ được về với đất mẹ, về với Tổ tiên và đều đào sâu chôn chặt không cải táng.

Nay nội Đống Mú là nơi an nghỉ của Hai Cụ và 4 người con của Hai Cụ, tất cả các nấm mộ đều có chung một hình dạng: góc cạnh nhưng vẫn chân phương, nắng mưa bạc mầu rêu phong cùng năm tháng. Trên tất cả các nấm mộ đều không khắc bia, không ghi tên, mà chỉ ghi ngày giỗ (hầu hết theo lịch âm). Trời đã định ngày ấy các Cụ về với Đất Mẹ Vân Trùy, với Tổ tiên.

Nội Đống Mú chiều nay, chiều Ba Mươi Tết Giáp Ngọ 2014, sau gần một thế kỷ, gia đình cụ Đồ Ba Ngô Văn Thấu gần như đông đủ. Hai Cụ gọi các con về chuẩn bị tất niên: Đán, Hiệp, Phát, Thạnh, Phấn. Chỉ thiếu một đứa con vẫn ở dương gian chưa về kịp hôm nay. Cả nhà lại nhìn về đình làng Vân Xuyên, nhìn về xóm Đông: nhà ta đây, ao xưa, vườn cũ, bể nước đâu rồi?
Giặc Tây đã bị đuổi rồi, chính quyền mới ta đã có gần 70 năm, nhưng sự vững vàng giầu mạnh của một Quốc gia thì vẫn còn ở phía trước.

Nội Đống Mú, nơi an nghỉ của gia đình Cụ Đồ Ba – một gia đình yêu nước, một gia đình cách mạng cúa một dòng họ yêu nước và cách mạng (họ Ngô Vân Xuyên, họ Ngô gốc Bùi Hưng Yên, họ Ngô của Danh nhân Trịnh Ngô Dụng).

Tác giả Ngô Thành Trung

Bài liên quan

Gửi bình luận