Home Quảng cáo Xuân đầu tiên vắng anh Văn

Xuân đầu tiên vắng anh Văn

by HiephoaNet

Phỏng vấn Trung tướng Phạm Hồng Cư – nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam:

XUÂN ĐẦU TIÊN VẮNG ANH VĂN

LTS: 18 giờ 9 phút, ngày 4-10-2013, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – vị tướng huyền thoại, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam đã ra đi trong niềm tiếc thương vô hạn của đồng bào, đồng chí cả nước, cùng bạn bè khắp nơi trên thế giới. Mùa xuân Giáp Ngọ này đã vắng bóng một nhân vật lịch sử vĩ đại. Nhà báo Nguyễn Hoàng Sáu – Phụ trách Toà soạn  Tạp chí Văn hóa quân sự đã có cuộc trao đổi với Trung tướng Phạm Hồng Cư – nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, người bạn chiến đấu gần gũi, người em đồng hao với Đại tướng. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhà báo Nguyễn Hoàng Sáu (NHS): Thưa Trung tướng, xuân mới Giáp Ngọ đã đến, mùa xuân đầu tiên vắng Đại tướng – Anh Văn kính yêu của toàn quân, toàn dân, cảm giác của Trung tướng như thế nào? 

Trung tướng Phạm Hồng Cư: Tối 4-10, anh Nguyễn Huyên điện thoại báo tin Đại tướng – Anh Văn đã trút hơi thở cuối cùng lúc 18 giờ 9 phút. Tôi lặng người, nước mắt trào ra, dù biết tin dữ này rồi thể nào cũng phải xảy đến, nhưng vẫn thấy đột ngột, đau đớn. Tôi cứ nghĩ, chỉ còn vài tháng nữa là đến dịp kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, hơn một năm nữa là kỷ niệm 70 năm thành lập quân đội, thế mà Anh Văn đã ra đi, những buổi lễ trọng đại này sẽ diễn ra khi không còn Anh Cả nữa, tiếc lắm! Nhưng cũng lại nghĩ, Anh Văn đã sống qua hai thế kỷ, tuổi Anh cũng đã hơn thế kỷ; giờ Anh thanh thản về với Bác Hồ, gặp lại những người lính đã hy sinh trong suốt cuộc đời cầm quân lừng lẫy của mình. Anh Văn ra đi rồi, nhưng Anh sẽ sống mãi trong sử sách của Việt Nam và thế giới, sống mãi trong lòng dân, trong trái tim chúng tôi – những người lính của Anh năm xưa và các thế hệ cán bộ, chiến sĩ hôm nay, mai sau. Xuân Giáp Ngọ đã đến, mùa xuân đầu tiên vắng Anh Văn kính yêu, toàn quân, toàn dân thương tiếc Anh vô hạn, Anh sẽ sống mãi, sống mãi…

NHS: Là người bạn chiến đấu gần gũi, lại là em đồng hao trong gia đình, kỷ niệm với Đại tướng chắc hẳn rất nhiều, nhưng Trung tướng có thể chia sẻ kỷ niệm nào sâu sắc nhất?

Trung tướng Phạm Hồng Cư: Tôi làm việc dưới sự chỉ huy của Anh Văn suốt hai cuộc kháng chiến, qua rất nhiều chiến dịch, nhiều lần được chấp bút, tham gia biên soạn một số bài viết, một số cuốn sách của Anh… Lại là chỗ anh em trong gia đình, nên đúng là kỷ niệm với Anh Văn thì nhiều lắm, nhưng tôi chỉ xin nói về mấy kỷ niệm có thể coi là sâu sắc nhất.

Đầu tiên là việc được giao trách nhiệm sưu tầm tư liệu để viết về Anh thời trẻ. Cuộc đời và sự nghiệp của Anh từ giai đoạn gặp Bác Hồ (1941) đến Đại thắng mùa Xuân 1975 thì đã được thể hiện qua các tập hồi ức: “Điện Biên Phủ – điểm hẹn lịch sử”, “Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng”… nhưng quãng đời trước đó chưa ai viết. Anh Văn giao cho tôi việc này từ lâu rồi, tôi hứa khi nào nghỉ hưu tôi sẽ làm. Năm 1995, nghỉ hưu, tôi chính thức bắt tay vào công việc. Khó khăn nhất là việc sưu tầm tư liệu. Muốn có tư liệu phải do chính Anh Văn nhớ lại và kể, nhưng cũng nhiều tư liệu phải về tận quê, gặp những người cùng thời với Anh để nghe họ kể. Tôi  nhiều lần về làng An Xá quê Anh, đi bên bờ Kiến Giang, dòng sông nơi vùng quê heo hút đã sinh ra con người “làm thay đổi dòng chảy của lịch sử” như đánh giá của một học giả nước ngoài. Tôi cũng vào nhà lao Thừa Phủ ở Huế, tận mắt thấy nơi địch từng giam giữ Anh Văn và bao chiến sĩ cách mạng… Phải gần chín năm, bản thảo “Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ” mới cơ bản hoàn thành. Và trong đó, có bút tích sửa chữa trực tiếp của Anh Văn, phần sau nhờ sự chỉnh sửa của chị Đặng Thị Bích Hà, vợ anh. Năm 2004, cuốn sách được xuất bản lần đầu (bản thảo hiện được Nhà xuất bản Thanh niên lưu giữ, coi như một báu vật), đến nay đã tái bản lần thứ tư, và đã được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp. Tôi coi việc viết sách về thời trẻ của Anh Văn là một vinh dự lớn và là kỷ niệm vô cùng sâu sắc.

Kỷ niệm thứ hai là lần tôi trực tiếp nhận lệnh từ Anh Văn hồi cuối năm 1947. Tôi là Chính trị viên Tiểu đoàn 42 quyết tử quân Hà Nội, đóng tại bến Bình Ca, cửa ngõ phía tây của căn cứ địa Việt Bắc. Lúc đó, thực dân Pháp chuẩn bị mở cuộc tiến công quy mô lớn lên Việt Bắc, hòng tiêu diệt Thủ đô kháng chiến, sớm kết thúc chiến tranh. Ngày 7-10, chúng nhảy dù xuống Bắc Kạn, thì trưa hôm đó, tôi và Tiểu đoàn trưởng Vũ Phương nhận được mệnh lệnh rất ngắn gọn của Anh Văn: “Tiểu đoàn 42 sống chết với con đường Bình Ca – Thái Nguyên. Ký tên: Văn”. Chúng tôi nhận định, đây không chỉ là một mệnh lệnh quân sự, mà còn như một lời hịch thiêng liêng, bởi trách nhiệm giữ vững địa bàn huyết mạch này để bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc là vô cùng nặng nề và vẻ vang. Tôi đi đến từng tổ, truyền đạt mệnh lệnh và động viên bộ đội khi mà anh em đa số đang run lên vì cơn sốt rét hành hạ. Khi nghe “lời hịch” của Anh Văn, tất cả anh em đều  vùng dậy lẩy bẩy cầm súng đi ra trận địa. (Sau này nhà thơ Chính Hữu đã lấy chi tiết này sáng tác bài thơ “Đồng chí” có câu “Đầu súng trăng treo” rất nổi tiếng). Trận chiến đấu đó đã đi vào lịch sử, bởi lần đầu tiên tàu chiến của thực dân Pháp bị quân ta bắn chìm trên dòng sông Lô. Chúng tôi đã thực hiện được đúng “lời hịch” của Anh Văn!

PV: Thưa Trung tướng, khi nói về Lễ Quốc tang Đại tướng hồi đầu tháng 10 năm ngoái, có người gọi đó là một sự kiện văn hóa – lịch sử đặc biệt rất đáng được ghi nhận, Trung tướng có ý kiến gì về vấn đề này?

Trung tướng Phạm Hồng Cư: Đúng là trong tháng 10-2013 đã diễn ra một sự kiện lịch sử – văn hóa đặc biệt, đó là Lễ tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ghi nhận về sự kiện này thì đã có không biết bao nhiêu cơ quan báo chí truyền thông cả trong và ngoài nước phản ánh bằng dung lượng đậm, vị trí trang trọng nhất. Đây còn là một hiện tượng đặc biệt của lòng dân. Ai cũng biết rằng, từ ngày mùng 5-10, đến ngày tổ chức lễ truy điệu và an táng, dòng người khắp nơi đổ về Thủ đô, về làng An Xá, về Vũng Chùa để viếng Anh Văn, rồi suốt dọc đường nơi linh xa chở linh cữu qua, với cả hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu người, họ tự nguyện, thành kính xếp hàng trong trật tự để tiễn đưa Đại tướng, điều đó đã tạo nên nét văn hóa cực kỳ đẹp đẽ, hiếm có. Điều này đã nói lên rằng: Anh Văn là Anh Cả của quân đội với tài đức trọn vẹn, uy tín tuyệt đối, một vị Đại tướng của nhân dân, một danh nhân quân sự thế giới, là một trong số những vị Thống soái lớn nhất của mọi thời đại như đánh giá của một số học giả nước ngoài. 

NHS: Chỉ còn vài tháng nữa là kỷ niệm tròn 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, đón xuân Giáp Ngọ, chúng ta lại nhớ đến mùa xuân Giáp Ngọ của 60 năm trước, với những quyết định vô cùng quan trọng của Đại tướng. Trung tướng có muốn chia sẻ điều gì thêm về sự kiện lịch sử này?

Trung tướng Phạm Hồng Cư: Chi tiết này chính Anh Văn đã kể lại, mọi người đã rõ, nhưng tôi xin nói thêm mấy điều theo hiểu biết và cảm nhận của riêng tôi. Theo kế hoạch tác chiến đã xác định trước thì trong một ngày đầu Xuân Giáp Ngọ (25-1-1954), là thời điểm ta sẽ đồng loạt tấn công Điện Biên Phủ (sau lui lại sang ngày 26-1). Đến sáng ngày 26, tức là chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa là đến giờ “G”, sau bao đêm thức trắng suy nghĩ nung nấu đến độ phải buộc trên đầu nắm ngải cứu, Anh Văn đã đưa ra ý định chuyển cách đánh từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định này là quyết định khó khăn nhất trong đời chỉ huy của Anh Văn bởi ngoài việc phải thuyết phục được cố vấn nước bạn, thì không dễ gì thuyết phục được Đảng ủy. Song Anh Văn đã phân tích những bất cập của quân ta nếu áp dụng cách “đánh nhanh thắng nhanh” theo kinh nghiệm của bạn. Và đặc biệt, Anh nhắc lại lời cặn dặn của Bác Hồ: “Trận này rất quan trọng, nhất định phải thắng. Không chắc thắng không đánh” để cuối cùng dám chịu trách nhiệm cá nhân trong thay đổi cách đánh, đảm bảo chắc thắng. Kết quả của chiến dịch đã rõ, nhưng qua quyết định lịch sử này của Anh Văn, đã tạo nên một bài học vô cùng quý giá và không bao giờ cũ về việc đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, đồng thời tôn trọng, phát huy sự lãnh đạo tập thể của cấp ủy. Người đứng đầu trước khi đưa ra một quyết định phải xuất phát từ thực tiễn, phân tích tình hình thực tiễn, tìm ra quy luật và hành động theo quy luật, không giáo điều, chủ quan duy ý chí; phải có tư duy độc lập, tự chủ, không phụ thuộc vào kinh nghiệm của bạn…

Sau này, chính các đồng chí từng trực tiếp chỉ huy chiến đấu trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã bình luận: “Nếu Anh Văn không thay đổi cách đánh thì chắc chúng tôi đã nằm lại ở cánh đồng Mường Thanh rồi”. Thậm chí: “Nếu không thay đổi cách đánh thì cuộc kháng chiến sẽ phải làm lại từ đầu”. Hiện nay chúng ta đã và đang triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI), trong đó có vấn đề trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu gắn với nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, bài học từ quyết định lịch sử mùa Xuân 60 năm trước vẫn nguyên giá trị.

NHS: Nếu như quyết định “chậm”, “chắc” ở mùa Xuân 1954, thì ngược lại trong mùa Xuân 1975, Đại tướng lại nêu quyết định “thần tốc”, “táo bạo”. Hai quyết định này phải chăng đã thể hiện được tầm nhìn chiến lược thiên tài của Anh Văn, thưa Trung tướng?

Trung tướng Phạm Hồng Cư: Đúng như vậy. Tôi có vinh dự đặc biệt đó là được trực tiếp nhận bức điện “Thần tốc…” của Anh Văn gửi vào chiến trường ngày 7-4-1975, khi ấy tôi là Phái viên của Tổng cục Chính trị đi cùng cánh quân Quân đoàn 2. Khi các chiến sĩ thông tin, cơ yếu chuyển bức điện đến tôi, tôi liền báo cáo anh Lê Trọng Tấn và anh Lê Quang Hòa, các anh chỉ thị phải lập tức phổ biến sâu rộng đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Tôi còn nhớ nguyên cái cảm giác vô cùng thiêng liêng khi tôi xuống đơn vị cơ sở, dùng loa đọc to bức điện của Anh Văn cho mọi người. Khi dứt lời, những tiếng hô: “Quyết chiến quyết thắng, giải phóng miền Nam! Thần tốc táo bạo…” âm vang không dứt. Thực hiện “lời hịch” của Đại tướng, 5 cánh quân đã thần tốc xốc tới diệt thù. Vào cái thời khắc lịch sử trưa ngày 30-4 ấy, có mặt tại Dinh Độc Lập trong tư thế người chiến thắng, chúng tôi đã bật khóc vì hạnh phúc tột độ.

Cùng với quyết định chuyển cách đánh từ “nhanh” sang “chậm” ở mùa Xuân 1954, thì bức điện lịch sử mang tính quyết định ở mùa Xuân 1975 đã khẳng định tài thao lược của Anh Văn khi nhận thấy thời cơ chiến lược đã chín muồi, không thể chậm trễ. Như trên tôi đã nói, ở Anh Văn, Trí đi liền với Dũng, sự anh dũng đi liền với trí thông minh, dám đánh đi liền với biết đánh… cho nên mới có được những quyết định vô cùng sáng suốt như vậy.

NHS: Nhiều người khẳng định Đại tướng Võ Nguyên Giáp là “Anh Bộ đội Cụ Hồ tiêu biểu nhất”, Trung tướng có thể khái quát những nét tiêu biểu nhất đó của Đại tướng là ở những điểm nào?

Trung tướng Phạm Hồng Cư: Danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” không phải là danh hiệu vinh dự do Nhà nước phong tặng mà chính nhân dân vì quý trọng, tin yêu, cảm phục mà vinh danh. Danh hiệu đó đã tạo nên một nét văn hóa riêng biệt chỉ có ở Quân đội nhân dân Việt Nam, đã trở thành truyền thống vô cùng quý báu, vô cùng thiêng liêng cao đẹp. Với Anh Văn, Bác Hồ từng nói: “Quân đội ta quen gọi Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là Anh Cả. Cách gọi thân ái ấy rất đúng với tinh thần và lịch sử của quân đội ta…”. Điều này cũng vô cùng đặc biệt, chỉ có ở quân đội ta. Khẳng định Anh Văn là một “Anh Bộ đội Cụ Hồ” tiêu biểu nhất là hoàn toàn đúng. Trước hết thể hiện ở chỗ, Anh Văn là học trò xuất sắc đã triệt để học tập và làm theo lời Bác Hồ: “Làm cách mạng phải dĩ công vi thượng”, cho nên trọn đời Anh sống, chiến đấu, công tác vì nước vì dân, được toàn quân, toàn dân tin tưởng, kính trọng tuyệt đối. Anh Văn là vị tướng đã thực hiện trọn vẹn nhất 6 chữ của đạo làm tướng: “Nhân – Trí – Dũng – Tín – Liêm – Trung”mà Bác Hồ từng căn dặn.

NHS: Di sản mà Đại tướng để lại là vô cùng đồ sộ và đa dạng, không chỉ riêng lĩnh vực quân sự và còn nhiều lĩnh vực khác, vậy thì theo Trung tướng, chúng ta cần phải làm những gì ngay từ bây giờ để giữ gìn, phát huy những di sản đó?

Trung tướng Phạm Hồng Cư: Trong con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp hội tụ phẩm chất, tài năng của nhà quân sự lỗi lạc, nhà giáo, nhà khoa học, nhà báo, nhà sử học lớn. Do vậy di sản Anh Văn để lại là vô cùng đồ sộ. Ngoài di sản về tư tưởng, nhân cách cao cả (phi vật thể) đã và sẽ sống mãi trong lòng dân tộc và nhân loại, thì những di sản vật thể Anh Văn để lại chính là những công trình nghiên cứu nghệ thuật quân sự, hồi ức, luận văn… đã xuất bản trong suốt hơn nửa thế kỷ qua đã trở thành những di sản vô giá. Chúng ta cần tiếp tục khai thác, nghiên cứu sâu hơn nữa, rộng hơn nữa về những chỉ đạo mang tầm chiến lược nhìn xa trông rộng của Anh Văn trên nhiều lĩnh vực khác, ngoài lĩnh vực quân sự. Đồng thời, tôi cũng đồng tình với những ý kiến nêu rằng cần phải xây dựng bảo tàng Võ Nguyên Giáp, đặt tên những con đường, những địa danh mang tên Anh. Tuy nhiên, để những di sản Anh Văn được phát huy thì không chỉ bằng “bề nổi” mà phải đi vào chiều sâu, áp dụng vào thực tiễn ngày nay.

Học tập Anh Văn là phải học cái tinh thần “dĩ công vi thượng” tất cả vì nước vì dân, đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí; học cái tinh thần “quyết chiến, quyết thắng”, trước đây ta “không cam chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “dù khó khăn đến đâu cũng quyết giành cho được độc lập”… thì nay ta quyết không để đất nước nghèo nàn, tụt hậu so với thế giới.

Mùa xuân này, dù Anh Văn đã về với Bác Hồ, với các chiến sĩ đã ngã xuống, nhưng Anh vẫn sống mãi với non sông đất nước.

NHS: Nhân mùa xuân mới, kính chúc Trung tướng dồi dào sức khỏe, hạnh phúc! Trân trọng cảm ơn Trung tướng đã dành thời gian cho cuộc trò chuyện này!

Nguyễn Hoàng Sáu (thực hiện)

{jcomments on}

Related Articles

Leave a Comment