Trang chủ Quảng cáo Hát đối trong Quan họ

Hát đối trong Quan họ

Đăng bởi HiephoaNet

Lời BT: Tháng 9/2009, dân ca quan họ được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại. Thực hiện cam kết với UNESCO, Bắc Giang đã có nhiều hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy di sản đáng quý này của cha ông. Để tìm hiểu thêm về phong tục, cái hay cái đẹp của Quan họ, xin giới thiệu bài: Hát đối trong dân ca quan họ của Trần Thái, PGĐ Trung tâm Văn hoá tỉnh Bắc Giang.

Quan họ là loại hình dân ca phong phú, đa dạng về hình thức ca hát, giầu có về giai điệu và vốn bài bản lời ca, tạo nên giá trị đặc sắc của dân ca Quan họ.

Về hình thức ca hát: Các nhà nghiên cứu Quan họ đã nêu  nhiều hình thức ca hát, gồm: Hát chúc, hát mừng; Hát canh; Hát hội; Hát thờ; Hát cầu đảo; Hát giải hạn; Hát trùm đầu… trong đó , hát canh, hát hội là hình thức phổ biến, có lề lối quy định khá đầy đủ và chuẩn mực về ca hát Quan họ

– Hát canh; Thường diễn ra vào mùa xuân, trong dịp hội và được tổ chức vào ban đêm. Quan họ nam và nữ mời nhau đến nhà, “ ca một canh cho vui bầu, vui bạn, vui xóm, vui làng, cầu may, cầu phúc”. Canh hát thường được giữ đúng các lề lối như Quan họ diễn ra, thường từ 7-8 giờ tối đến 2-3 giờ sáng; đôi khi, có canh hát kéo dài 2-3 ngày đêm.

Trong canh hát, lề lối quy định là:Bọn Quan họ chủ ngồi một chiếu (một giường) hoặc một bê tràng kỷ. Quan họ khách ngồi một chiếu ( một giường) hoặc một bên tràng kỷ. Hai bên ngồi đối diện mà hát. ĐÃ LÀ HÁT CANH THÌ THÌ BÁT BUÔC PHẢI HÁT ĐÔI, ĐÔI NAM CA ĐỐI ĐÁP VỚI ĐÔI NỮ VÀ THỰC HIỆN “ NAM TÒNG NỮ” NGHĨA LÀ NAM NHƯỜNG PHẦN CHO BÊN NỮ RA CÂU TRƯỚC.Hát canh bắt buộc phải qua đủ ba chặng lề lối. Chặng thứ nhất; Ca các giọng lề lối. Có thể ca tất cả các giọng lề lối, song bắt buộc mỗi bên phải ca đưpợc năm giọng cơ bản là: La rằng; tình tang; bạn kim kanl cái ả, cây gạo. Trong chặng lề lối, không chấm diểm. Bên nào không ca được một trong năm giọng trên thì sẽ bị loại ngay để đôi khác vào thay. Chặng thứ hai: Ca các giọng lẻ, giọng vặt, tức là hát giao duyên. Đây là chặng chính. Ở chặng nà, bên nào không đối được một giọng thì sễ bị thua một điểm. Cũng ở giọng ca lẻ, giọng vặt, các bên được quyền tung ra “ bài độc” của mình. Bài độc là bài mới được sáng tác. Mỗi giọng Quan họ thường có hai câu. Câu ra và câu đối. Vì là bài mới sáng tác ( giọng mới) chưa có câu đối lại, nên mới gọi là ‘ bài độc” ( độc nhất). Trong một canh hát, nếu bên kia tung ra bài độc, mà bên đối lại không có bài độc của mình để đáo lại thì sẽ thua một điểm. Nếu có bài trả lời thì là hoà. Chặng thứ ba: Ca các giọng giã bạn, tức là hát để chia tay nhau. Quy định bắt buộc của chặng này là phải ca giọng “ Chuông vàng gác cửa Tam quan” trước, sau đó mới đến các giọng nói về sự xa cách, thương nhớ, như: “Kẻ Bắc người Nam ;Rẽ phượng chia loan;mặt trăng nay đã xế tà; con nhện giăng mùng… và cuối cùng là các giọng : Tạm biệt từ đây, Chia rẽ đôi nơi. – Hát hội:  Chủ yếu là hát ở trung tâm hội làng  ( Hội xuân), bao gồm cả hát trên bộ và hát dưới thuyền. Trong hát hội , lề lối quy định là; Hát trên bộ: Từng cặp Quan họ kết bạn tìm địa điểm thích hợp cho cuộc hát rồi đứng ngoảnh mặt vào nhau mà hát. Ở hát hội, bắt buộc phải là hát đôi, đôi nam ca đối đáp với đôi nữ, thực hiện nguyên tắc” âm xướng dương hoạ” nghĩa là bên nam bao giờ cũng phải nhường cho bên nữ ra câu trước. Mở đầu hát hội là ca câu mời giầu, mời nước. Đã là ca mời giầu ở hát hội thì buộc phải có giầu thật để mời. Tuỳ từng nơi mà mời loai giầu nào, song chủ yếu Quan họ dùng hai loại giầu là giầu  têm cánh phượng hoặc loại giầu  têm cánh quế. Sau câu mời nước, mời giầu, đôi bên ca đối đáp các giọng thuộc hệ thống giọng lẻ, giọng vặt ( giao duyên) và cuối cùng là giọng giã bạn. Xưa, vào những năm làng được mùa, phong đăng hoà cốc, hoặc làng giữ lệ hàng năm, khi mở họi, có thể có hát giải. Trong đó làng mở hội phải chọn được nhóm quan họ ra giữ giải đẻ Quan họ các nơi về phá giải ( giật giải). Trình tự cuộc hát thi ở hội; Mở đầu mỗi bên  hát một bài hát chúc theo giọng La rằng ( giọng Sổng) để chúc dân làng, sau đó chuyển sang giọng Lề lối (giọng cổ) bắt buộc, để khảo xem người dự thi có đủ điều kiện  dự thi hay không. Tiếp theo Quan họ sở tại ( giữ giải) hát 5 bài, bên phá giải đáp 5 bài, đối đúng cách, đúng giọng, đối lời. Cứ đủ cả 5 trên 5 dưới như thế. Nếu đối đủ và đúng thì hoà, nếu bên nào không đối bài nào thì coi như thua điểm…

Điều đáng quan tâm là, trong các hình thức ca hát  của Quan họ chủ yếu là hát đối đáp nam nữ, đối giọng, đối lời, hát đôi nam đối với đôi nữ.

Đối đáp nam nữ là bên gái hát một bài, tiếp đó bên trai lại hát một bài, có thể kéo dài đến hết cuộc hát hoặc canh hát.

Đối giọng: Bên hát trước hát bài có làn điệu âm nhạc như thế nào thì bên hát sau phải hát đối lại một bài cũng có làn điệu âm nhạc như thế.

Đối lời: Đối lời khác với đối giọng không chỉ ở chỗ một bên thuộc lĩnh vức âm nhạc, một bên thuộc lĩnh vực thơ ca, mà còn khác ở chỗ nếu bên hát trước đã hát một lời ca nào đấy ( một đoạn thơ, một bài thơ) thì bên hát sau cũng sử dụng làn điệu âm nhạc giống như bên hát trước, nhưng lời ca phải khác đi mà vẫn gắn bó với tình,ý, hình tượng… của lờ ca người hat trước để tạo nên hiệu quả hô – ứng,tương hằng, đối xứng. Đặc biệt, trong hát hội và hát canh, thì bắt buộc phải là hát đối, đôi nam ca với đôi nữ, thực hiện nguyên tắc “ nam tòng nữ” “ âm xướng dương hoạ” theo quy trình: Nữ ( ra) , nam (đối)- Nam ( ra), nữ (đối)…cứ như thế cho đến hết.

Có thể nói, hát đối nam nữ, đối giọng, đối lời được coi là sự đối đáp hoàn chỉnh theo lề lối của Quan họ ,trong đó quá trình sáng tạo sáng tác những bài mới, những “bài độc” ( độc nhất, mới nhất) làm cho Quan họ luôn mới, luôn phát triển./.

T.T

( Trần Thái-Trung tâm Văn hoá tỉnh Bắc Giang)

Bài liên quan

Gửi bình luận