Trang chủ Quảng cáo Đội chèo nơi chót cùng châu thổ

Đội chèo nơi chót cùng châu thổ

Đăng bởi HiephoaNet

Có thể gọi đội chèo của Làng Phan, xã Quang Thịnh, huyện Lạng Giang đúng với cái tên và vị trí là: Làng chèo ở nơi chót cùng của châu thổ. Bởi từ bìa làng nhìn qua sông Thương bên kia là huyện Hữu Lũng, của Xứ Lạng, soi bóng những dãy núi lô xô cao dần về mạn bắc. Ngoảnh lại sau lưng là những đồi thấp, ruộng đồng và làng mạc ken dày chạy tít về phương nam kéo dài mãi về vùng châu thổ Sông Hồng.

Làng Phan là một khu dân cư đông đúc, có đội chèo nổi tiếng tồn tại đã mấy chục năm nay. Tương truyền rằng cách đây vài trăm năm, những cư dân lập làng, vốn là gia nhân của quan binh đi trấn ải. Vì từ làng Phan đi lên ải Chi Lăng chẳng đáng bao xa – nơi chiến địa và phên dậu của nhiều đời. Họ không chỉ lập nên làng xóm, mà còn xây dựng nên chỗ thờ tự và các thánh tích khác, đồng thời cũng mang theo cả giọng hát chèo ngọt lịm từ chốn quê hương, để mỗi lúc nỗi nhớ cồn cào thì lại ngân nga câu hát. Câu chuyện đó có thực hay hư thì chưa được kiểm chứng. Nhưng một điều rất hiển nhiên là những làn điệu chèo mượt mà, đã tồn tại đi qua bao thế hệ của dân làng. Mỗi dịp mùa vụ vừa xong, hay dịp đầu xuân mới, đó đây trong mỗi khoảnh tre lại rộn tiếng trống chèo, làm nền cho những câu hát, tạo lên hồn cốt cho một địa danh thêm giàu bản sắc. Trải qua bao bước thăng trầm, làng Phan trước đây lơ sơ nhỏ bé, nay đã trở thành một cộng đồng chiếm tới 1/3 của xã, với 6 thôn gồm: Núi Thượng, Phan Thượng, An Lạc, Tân Mỹ, Đồi Bụt và Tân Thịnh, với 750 hộ và trên 2.600 nhân khẩu. Mỗi tên đất, tên xóm của làng đều ẩn chứa trong đó những câu chuyện nửa thực nửa hư, nhưng đầy tính nhân văn và giáo dục.

Làng Phan – nguyên là xã Vĩ Liệt, thuộc Tổng Thịnh Liệt, phủ Lạng Giang, mãi đến năm 1953 thì thuộc xã Quang Thịnh. Làng Phan hiện còn lưu giữ nhiều phong tục, tập quán và di sản văn hoá vật thể. Đặc biệt, làng Phan có đình Bơi, nhìn về mạn bắc, nơi có đoạn Sông Thương chảy thẳng. Ở phía thượng nguồn có một mỏm ghềnh nhô ra sông, tạo thành dòng nước chảy ngược ở trước cửa. Truyền thuyết kể rằng mỗi khi làng đánh trống mở hội đua thuyền, thì bát đĩa ném xuống vực trước cửa đình từ mùa hội trước, lại được dòng nước ngược ấy lại đưa lên, để dân làng cọ rửa làm cỗ. Do biến thiên của thời gian và dòng chảy, lòng sông có phần bị bồi lấp, hiện tượng này đến nay còn hay không thì chưa rõ, vì chưa có được xác nhận. Nhưng dòng nước ngược kia vẫn tồn tại dù vật đã đổi, sao đã dời. Các cụ cao niên trong làng kể lại: trước đây làng Phan mở hội bơi trải vào 20/8 âm lịch hàng năm, là dịp để trai tráng các đội bơi trải khắp các xã ven sông Thương của vùng Kinh Bắc Thượng đua tài. Hội bơi trải của làng được duy trì suốt mấy thế kỷ, nhưng đã thất truyền hơn một thế kỷ. Hội đua thuyền chỉ tồn tại qua lời kể của mấy đời truyền lại, nhưng ngôi đình thì vẫn còn đó, với 7 gian được phục dựng lại vài thập kỷ trước, như đánh dấu và nói lên tinh thần thượng võ của người dân phên dậu bao đời. Bơi trải là môn thể thao truyền thống của vùng sông nước, nhưng ở làng Phan nơi giáp với thâm sơn, với dòng sông với tầng tầng núi đồi vây phủ, thì càng khẳng định thêm vị trí chót cùng châu thổ về mạn bắc, còn đậm đà nét sinh hoạt của cư dân miền sông nước xưa kia. Đình Bơi còn thờ 3 vị tướng có công dẹp giặc và hy sinh anh dũng vào thời Lý – Trần, đó là các vị: Đồng Đương Hương, Lan Đương Hương và Ma Đương Hương được phụng thờ là thành hoàng làng của các xã thuộc Tổng Thịnh Liệt xưa, từ Quang Thịnh đến Nghĩa Hoà và An Hà. Hiện nay, Đình Bơi còn lưu giữ sắc phong từ thời hậu Lê (1728) và được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.

Cộng đồng cư dân của làng Phan có nhiều dòng họ lớn cư ngụ lâu đời như: Họ Hoàng, họ Trần, họ Nguyễn, nhưng họ Phan là dòng họ lớn nhất, có lẽ vậy nên làng mới có tên là Phan. Tuy không phải là vùng đất chữ nghĩa hiếu học, làng Phan cũng có nhiều người đỗ đạt cao trong các khoa thi cử, với các học hàm thạc sỹ, tiến sỹ hiện nay đã và đang công tác ở nhiều miền trên đất nước. Khi thực dân Pháp tổ chức các chiến dịch đánh vào chiến khu Việt Bắc, làng Phan đã bị ném bom NaPan cả làng bị cháy trơ trụi, trong đó có 1 chùa và một đình cũng trở thành phế tích không thể phục hồi. Làng Phan bây giờ được xây dựng lại cách đây hơn 60 năm là ở vị trí mới. Vào mùa xuân năm 1953, Đảng bộ huyện Lạng Giang tổ chức Đại hội Đảng bộ lần thứ III tại làng Phan, nhằm tập trung huy động lực lượng chuẩn bị cho chiến dịch đông xuân 1953 – 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ. Sự kiện và địa danh của Làng đi vào lịch sử đấu tranh của Đảng bộ huyện đánh dấu bước ngoặt của một thời kỳ sục sôi cách mạng. Sức người, sức của từ nơi đây tuôn chảy cùng với các làng xã trong vùng giáp ranh chảy về chiến trường với m ục tiêu vì độc lập tự do của dân tộc, vì sự thanh bình của quê hương. Tuy binh đao, giặc giã không làm thui chột, hoặc mai một đi di sản văn hoá của cha ông để lại, trong đó có hát chèo. Những làn điệu mượt mà ấy không chỉ động viên trong lao động sản xuất, trần lực thiên tai, mà còn được mang vào trong cuộc trường chinh của dân tộc, góp phần đánh đổ đế quốc, thực dân, phong kiến để xây dựng cuộc sống mới bắt đầu từ mấy mươi năm về trước.

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, làng Phan có 6 xóm thì đều có đội chèo. Các đội chèo đã từng được điều đi tham gia biểu diễn phục vụ bộ đội chỉnh huấn, chỉnh quân, huấn luyện chuẩn bị cho các chiến dịch và các đoàn dân công tiếp lương, tải đạn tạm nghỉ ở địa phương. Trước năm 1960, làng Phan có một đội tuồng cổ và hạt nhân văn nghệ cốt cán ở các đội chèo xóm thành lập đội chèo của làng. Ngay từ khi ra đời, đội tuồng và chèo đã thường xuyên biểu diễn phục vụ nhân dân vừa sản xuất, vừa chiến đấu, sau đó chỉ còn lại đội chèo. Khi hợp tác xã (HTX) nông nghiệp được thành lập, đội chèo do HTX quản lý trả công điểm. Khi ấy các ông Vũ Văn Bính, Đặng Tiến Dũng, Ngô Duy Chiêu, Vũ Văn Nhi đều là các chàng trai độ tuổi đôi mươi, có năng khiếu về âm nhạc, được cử đi học sử dụng nhạc cụ dân tộc về làm nhạc công cho đội chèo. Đội chèo làng Phan đã đi biểu diễn phục vụ bộ đội ở Cầu Lường, ở Ga Kép, ở sân bay, ở Cầu Bến Trăm, đèo Cà trong suốt những năm đánh Mỹ. Diễn viên, nhạc công của đội chèo được HTX tính trả bằng công điểm. Khi dự các hội diễn của tỉnh, của huyện, vừa được trả công điểm vừa hỗ trợ lương thực, thực phẩm luyện tập và dự thi. Đội chèo làng Phan khi ấy có tiếng trong tỉnh, vì đã giành được nhiều giải cao trong các kỳ hội diễn văn nghệ quần chúng bởi các giọng hát ngọt lịm và những tay đàn, nhị, trống điêu luyện. Thấm thoát đã nửa thế kỷ trôi qua, người mất, người còn đến nay các diễn viên, nhạc công trẻ trung thuở nào nay đã trên 70 tuổi. Do chất “nghệ” đã ngấm sâu vào trong máu thịt, các nhạc công của đội năm xưa vẫn tâm huyết và đau đáu với nghề.

Hiện nay da đã mồi, tóc đã bạc nhưng họ vẫn là những nhạc công chính của làng Phan của 50 năm về trước. Khi chuyển đổi cơ chế quản lý từ kế hoạch tập trung sang hạch toán kinh doanh từng phần, nhất là từ “khoán 10”, đã giải phóng triệt để sức sản xuất trong nông nghiệp, thì ngược lại các hoạt động văn hoá – văn nghệ bị tác động không nhỏ, trong đó có các hình thức bán chuyên ở cơ sở. Đội chèo làng Phan phải giải thể. Nhớ nghề, thỉnh thoảng những hạt nhân năm xưa, vẫn tụ tập ở các gia đình thành viên cũ luyện giọng, ôn lại nhịp phách trống, đàn, nhị với hy vọng gìn giữ các làn điệu chèo truyền thống cho thế hệ sau. Do tác động của các phương tiện nghe nhìn, giải trí hiện đại, không ít người, nhất là thế hệ trẻ đã quay lưng với sân khấu và nhạc truyền thống, chạy theo các mốt của văn hoá Âu – Mỹ làm tăng thêm sự giãn cách giữa các thế hệ ngay trong một gia đình. Trước thực trạng ấy, nhiều “nghệ sỹ chân đất” của làng Phan rất lo lắng về một vốn quý của văn hoá dân tộc đang bị mai một dần. May thay, cuối năm 2007, được sự giúp đỡ của Sở Văn hoá – Thông tin – thể thao và du dịch, khôi phục loại hình nghệ thuật chèo trong tỉnh. Đội chèo làng Phan được tái lập lại với 23 thành viên, gồm có ban lãnh đạo đội 3 người, còn lại là diễn viên và nhạc công. Đặc biệt là toàn bộ nhạc công của đội đều là những người của năm xưa. Các diễn viên thì hầu hết trên 40 tuổi, là hạt nhân văn hoá của làng từ thời bao cấp. Ngay sau khi được tái lập và đi vào luyện tập, tại hội diễn văn nghệ quần chúng không chuyên của tỉnh, tuy đã dời chiếu chèo nhiều năm, nhưng đội vẫn xuất sắc giành giải nhì.

Đến tháng 9/2009, đội tiếp tục giành giải nhì tại Liên hoan các làng chèo của tỉnh. Dự án của tỉnh khôi phục đội chèo làng Phan, đã góp phần bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể ở cơ sở một cách thiết thực. Nhưng nhìn vào thực tế đội chèo làng Phan sẽ khó tồn tại cùng năm tháng, bởi tuổi đời của đội đã cao, hoạt động hoàn toàn tự nguyện và đáng ngại nhất là không có lớp kế cận. Hiện nay trang bị của đội cũng còn rất thiếu thốn, chỉ có những nhạc cụ còn giữ được từ thời bao cấp, trang phục diễn rất thiếu và không có kinh phí để mua sắm lại, cũng như dàn dựng các vở mới đưa ra công diễn phục vụ dân làng trong các dịp lễ tết. Tuy vậy vào những đêm trăng thanh, gió mát, tiếng trống chèo vẫn thì thùng rộn rã, như thúc giục mỗi người dân trong làng khi vừa cấy hái, hay gặt xong cố thu xếp công việc để đến sân đình, hay nhà văn hoá thưởng thức những làn điệu chèo quen thuộc của những lão ông lão bà đắm say với nghề còn ngân mãi, ngân mãi ở một vùng quê nơi chót cùng của vùng châu thổ. Với hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển nhưng đội chèo làng Phan đã góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân trong làng và trở lên thân thiết. Một điều mặc nhiên là làng chèo này đang đứng trước nguy cơ mai một. Vũ trụ vẫn xoay vần, thời gian như thoi đưa, mong rằng bằng cơ chế chính sách nào đó phù hợp, các cấp, các ngành có liên quan cần tạo thuận lợi cho hạt nhân văn nghệ nơi đây lưu giữ được vốn văn hoá cổ truyền và người dân nơi đây được nghe những làn điệu hát chèo….

Thanh Thảo, (Thân Văn Phương – Đài Lạng Giang)

 

 

Bài liên quan

Gửi bình luận