Home Tin TứcQuê hương Hiệp HoàHội đồng hương Những văn bia mới phát hiện ở xã Đông Lỗ

Những văn bia mới phát hiện ở xã Đông Lỗ

by HiephoaNet

Bắc Giang là một trong những địa phương có số lượng văn bia lớn nhất trên phạm vi toàn quốc. Đến nay, trên phạm vi toàn tỉnh đã phát hiện được gần một nghìn năm trăm tấm bia đá các loại. Gần đây, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang còn phát hiện thêm được một số văn bia ở các địa phương. Trong đó, phải kể đến số văn bia – bia đá phát hiện được ở thôn Khoát, xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hoà, với tổng số văn bia là 8 văn bia, chất liệu chính là đá xanh: 02 bia nguyên vẹn, 05 bia vỡ, 01 bia mờ hết chữ. Tuy nhiên, do điều kiện không cho phép nên chúng tôi đã tiến hành in dập được một số bia đá tiêu biểu: 01 bia đá 1 mặt nguyên vẹn, 01 mảnh bia đá 1 mặt, 01 cây hương 4 mặt bị vỡ đôi, 01 cây hương 4 mặt bị gãy mất một phần (trong đó 2 mặt bị mờ hết chữ).

Nội dung các văn bia như sau:

Bia 1: Thuỷ tạo, chúc đài, hưng công, sáng kí.

– Tạo năm Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717).

– Cây hương 4 mặt, kích thước 86 x 19 cm. Toàn văn chữ Hán, khắc chân phương, không hoa văn trang trí. Hiện cây hương đã bị gãy mất phần chân hương, chỉ còn một phần chữ Hán và hai mặt bị mờ hết chữ.

– Ghi họ tên những người cung tiến để xây dựng cầu đá và cây hương ở chùa Hưng Phúc, thuộc hai xã Đông Lỗ và Lỗ Hạnh, huyện Hiệp Hoà, phủ Bắc Hà, như: Phạm Hữu Việt, Đinh Quang Huy, Phạm Đăng Vinh, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Thị Đề

….

Bia 2: Thuỷ tạo, chúc đài, hưng công, sáng kí.

– Tạo năm Chính Hoà 17 (1696).

– Cây hương 4 mặt, kích thước 92 x 32 cm. Toàn văn chữ Hán, khắc chân phương, viền bia hoạ tiết hình rồng, hoa dây, khắc chữ; khoảng 20 dòng, 500 chữ. Hiện cây hương đã bị gãy đôi.

– Ghi họ tên các hội chủ hưng công, tín sĩ của hai xã Đông Lỗ và Lỗ Hạnh đã tiến cung tiền của để xây dựng cây hương ở chùa Hưng Phúc, như: Trần Nhân Chiêu, Trần Viết Lạc, Đặng Hữu Vô, Trần Văn Sử, Trần Thị Châu,….

Bia 3: Hậu Phật bi kí.

– Bia bị vỡ chỉ còn một mảnh. Trán bia trang trí hoạ tiết mặt trời, mây; viền bia hoạ tiết hoa dây. Toàn văn chữ Hán, khắc chân phương.

– Tạo năm Bảo Đại thứ 4 (1929).

– Trần Văn Cần, Trần Văn thuật, Đỗ Văn Các,… xuất gia theo Phật, tâm tính lương thiện, đã tiến cúng tiền và ruộng để xây dựng chùa. Do đó, quan viên, hương lão cùng toàn dân xã Lỗ Hạnh, tổng Đông Lỗ, huyện Việt Yên tổ chức hương hoả vào ngày 12 các tháng 8, tháng 10, tháng 9, tháng 4 hàng năm.

Bia 4: Hậu tư văn bi.

– Tạo ngày 16 tháng 10 năm Duy Tân thứ 8 (1914).

– Bia 1 mặt, còn nguyên vẹn, kích thước 74 x 40 cm, trán bia không hoa văn trang trí; viền bia hoạ tiết hoa dây, chữ Hán. Toàn văn chữ Hán, khắc chân phương, 20 dòng, 700 chữ nhưng hiện chữ cũng bị mờ không rõ nét.

– Chánh phó tổng, chánh phó lý nhân, hội tư văn nhân phối hợp với bản xã lý trưởng xã Đông Lỗ, tổng Đông Lỗ, huyện Việt Yên lập bia ghi chép. Trần Quý Viên khoan hoà nhân hậu, đã cúng tiến tiền của và ruộng để xây dựng chùa. Do đó, toàn dân thấy tấm lòng như vậy bèn lập bia ghi chép công lao và hương hoả quanh năm.

Từ nội dung các văn bia trên, chúng tôi nhận thấy số văn bia đó được đem từ một số di tích về, mà điển hình là từ chùa Hưng Phúc (hay còn gọi là chùa Cả) thuộc xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hoà. Tuy nhiên, hiện nay những văn bia này mới chỉ được nhân dân trong xã tập kết về khu miếu chợ Đông Lỗ mà chưa có chương trình, kế hoạch gìn giữ, bảo quản để phát huy vai trò, giá trị của các văn bia. Và không chỉ nơi đây, mà rất nhiều các địa phương khác trong tỉnh cũng diễn ra tình trạng bia đá nằm vạ vật bên đường, bên bờ ao, mương máng,… Trong khi đó, văn bia Hán Nôm lại là những di sản văn hoá vô cùng quý báu của dân tộc, do các thế hệ đi trước tinh luyện tạo tác trao lại cho thế hệ hôm nay và mai sau. Từ không gian, thời gian của văn bia, người ta có cơ sở đoán định, kết luận, giải trình nhiều sự kiện kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa xã hội có liên quan trong vùng, ở địa phương và lịch sử đất nước nói chung bởi văn bia ghi những điều không thể chối cãi và khắc sâu niên đại dựng bia, thời điểm công bố thông báo những thông tin cần thiết cho mọi người. Vì vậy, vấn đề bảo tồn, khai thác phát huy giá trị của văn bia đã trở nên cấp thiết. Từ đó, chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến sau:

– Thứ nhất: Đưa số văn bia – bia đá phát hiện được tại thôn Khoát, xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hoà về đúng vị trí vốn có của nó (như chùa Hưng Phúc) để tiện cho việc bảo quản, khai thác.

– Thứ hai: Cần làm tốt công tác tuyên truyền nhiệm vụ bảo vệ văn bia Hán Nôm bằng một số biện pháp, như:

+ Mở các lớp tập huấn về di sản Hán Nôm nói chung, văn bia Hán Nôm nói riêng, cho cán bộ văn hoá – thông tin cơ sở, các chủ di tích, các địa phương có văn bia – bia đá.

+ Tổ chức trưng bày giới thiệu chuyên đề hình ảnh bia đá, thác bản văn bia qua Bảo tàng tỉnh, nhà truyền thống, nhà văn hoá ở các địa phương; đồng thời tích cực viết bài, hình ảnh tuyên truyền về văn bia trên các phương tiện thông tin đại chúng.

+ Hàng năm tổ chức các hội nghị thông báo phát hiện mới về văn bia Hán Nôm, những thông tin mới về khoa học nghiên cứu văn bia Hán Nôm.

+ Ngành văn hoá cũng cần có văn bản hướng dẫn các địa phương về hình thức xây dựng nhà bia, cách thức dựng đặt bia sao cho hợp lý, tiện khai thác sử dụng.

– Thứ ba: Để khai thác phát huy giá trị của văn bia thì việc in dập toàn bộ thác bản văn bia ở các địa phương đưa về Thư viện hoặc Bảo tàng tỉnh để phục vụ công tác trưng bày giới thiệu với khách tham quan và phục vụ công tác nghiên cứu đã trở nên cần thiết.

– Thứ tư: Cần xuất bản công bố rộng rãi các công trình nghiên cứu, dịch thuật về văn bia Hán Nôm tỉnh Bắc Giang.

Nguyễn Thị Châm

Nguồn: http://www.vanhoabacgiang.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1105;nhng-vn-bia-mi-phat-hin–xa-ong-l-huyn-hip-hoa-tnh-bc-giang&catid=72;ditich&Itemid=65 , 30/12/2010

 

Related Articles

Leave a Comment