Home Tin TứcVăn hoá - Xã hội Cựu chiến binh say văn nghệ

Cựu chiến binh say văn nghệ

by HiephoaNet

 

“Tớ hát cho cậu nghe mấy đoạn tớ cải biên từ các loại dân ca quan họ, cải lương, chèo… nhé!”- Anh nói rồi hát cho tôi nghe “liên khúc dân ca” cải biên. Giọng anh luyến láy, ngân nga, đang từ điệu này chuyển sang điệu khác mà vẫn giữ rất đúng “chất” của nó. Vừa hát, anh vừa diễn tả động tác i như đang trên sân khấu, khiến tôi chỉ còn biết… vỗ tay: “Hay, hay quá! Anh có học trường nghệ thuật nào không mà hát, múa cứ i như văn công vậy?”. Anh cười khà khà: “Chả có trường nào đâu! À, mà tớ học trong trường… quân đội đấy!”. Đó là lần tôi gặp anh trong Hội thi các làng văn hóa tiêu biểu của huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang) năm 2009. ở phần thi văn nghệ, đội tuyển làng văn hóa Hòa Tiến (xã Hùng Sơn) của anh giành giải nhất tuyệt đối. Không chỉ khán giả chật cứng hội trường mà cả ban giám khảo sau khi xem cũng phải trầm trồ khen ngợi, bởi một chương trình có kết cấu hợp lý, các tiết mục đều được diễn hết sức nhuần nhuyễn và đặc biệt là khả năng tự biên rất “có nghề”. Tiếp xúc hỏi chuyện, tôi mới biết, để có được điều đó, là nhờ tài sáng tác, dàn dựng và biểu diễn của anh: Cựu chiến binh Phạm Văn Tác.

Có “lưng vốn” 13 năm quân ngũ, giữ nhiều cương vị, trước khi về phục viên năm 1990, anh Tác là phụ trách Thanh niên-Tuyên huấn của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lạng Sơn. Nhưng anh bảo, ấn tượng nhất của đời quân ngũ lại là được làm anh “chiến sĩ văn nghệ”. Ngày đầu nhập ngũ, Tác đã xung phong vào đội văn nghệ xung kích 857 (Đoàn 431). Sở trường của anh là đọc tấu (tấu nói). Anh vừa có tài đọc tấu, vừa có thể sáng tác tự biên những bài tấu đậm chất lính. Đôi khi chỉ từ câu chuyện tưởng chả có gì đặc sắc mà anh nghe kể, hoặc trực tiếp mắt thấy tai nghe trong đơn vị, nhưng được anh bồi đắp bằng vốn từ ngữ (Tác vốn học khá môn Văn) có “chất thơ” “chất hài” vào; cũng “thắt nút”, cao trào, rồi “cởi nút”, thế là đã ra đời một bài tấu hay. Cái “nghệ danh”: “Cây tấu hài của đơn vị” mọi người đặt cho anh từ đấy…

Sau này, dù làm cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị tiểu đoàn, hay làm công tác thanh niên, tuyên huấn, Phạm Văn Tác vẫn đam mê văn nghệ. Anh có thể biểu diễn, lại vừa có thể sáng tác tự biên, vừa dàn dựng chương trình. Dù không được học về nghiệp vụ văn hóa nghệ thuật, nhưng anh tự mày mò học hỏi. Mỗi lần có liên hoan, hội diễn, khi được giao xây dựng chương trình, anh đều phát huy khả năng của anh em trong đội, biết lắng nghe để “gọt rũa”; vừa chịu khó ngồi xem rất kỹ các đội bạn để rút kinh nghiệm. Những lần được xem các đoàn văn công chuyên nghiệp về biểu diễn cũng là cơ hội quý cho anh học hỏi. Anh nhớ mãi hồi đang là chính trị viên của đại đội hỏa lực (Tiểu đoàn 131- Huyện đội Đình Lập- Lạng Sơn). Lần ấy, anh được giao làm đội trưởng đội văn nghệ “dê”, biểu diễn giao lưu với đoàn chèo Hà Bắc lên phục vụ bộ đội ngay trên chốt. Trước giờ biểu diễn, bất ngờ đơn vị nhận được cú điện của gia đình Tác: “Bố mất, về ngay”. Chỉ huy đơn vị cố giữ chưa cho anh biết, để anh hoàn thành tiết mục cuối cùng mới báo tin dữ. Đêm ấy, vừa diễn xong, đơn vị cử hai chiến sĩ đưa anh đi bộ suốt đêm mấy chục cây số đường rừng núi để đến bến xe về nhà. Rất may là bố anh vừa qua cơn nguy kịch… “Nghề” làm văn nghệ quần chúng mười mấy năm trong quân đội, dẫu có lúc vui, lúc buồn, nhưng đó chính là dấu ấn khó phai, đặc biệt là giúp anh có kinh nghiệm để khi trở về gây dựng phong trào văn nghệ ở quê nhà.

Lúc khoác ba lô trở về, làng Hòa Tiến quê anh nghèo lắm, ăn còn chưa no, mặc còn chưa lành, nói gì đến chuyện “hát hò”. Tưởng như không có “đất dụng võ”, nhưng anh nghĩ, đã là văn hóa văn nghệ thì ở đâu có điều kiện thì cứ phát huy, chả cứ gì phải liên hoan hay hội diễn. Thế là mỗi khi có điều kiện, ở đám cưới hay hội làng, Tác đều “trổ tài”. Lúc thì anh làm “trưởng trò” đám cưới, lúc anh hát với thanh niên, phụ nữ trong hội làng… Ở đâu có anh là ở đấy không khí “xôm” hẳn. Sau hai năm kể từ ngày về làng, năm 1992, anh được tín nhiệm bầu làm Bí thư Đoàn xã. Sau đó được chuyển sang phụ trách văn hóa thông tin. Bấy giờ, tài năng văn nghệ của cựu chiến binh Phạm Văn Tác mới có dịp “nở rộ”. Anh mải mê sáng tác tự biên, đôn đáo vận động hạt nhân vào đội văn nghệ thôn, xã, rồi dàn dựng tiết mục để biểu diễn. Những lần tổ chức giao lưu, liên hoan văn nghệ quần chúng ở thôn xã do anh “cầm càng”, người đến xem còn đông hơn cả xem văn công chuyên nghiệp. Anh cho tôi xem tập bản thảo với chằng chịt những chữ viết tay, đó là những tiểu phẩm mà anh sáng tác. Mỗi lần có hội thi về chủ đề gì, anh lại cho ra đời ít nhất một tiểu phẩm. Ví dụ, hội thi tuyên truyền dân số kế hoạch hóa gia đình, anh có tiểu phẩm “Chuyện vợ tôi”; hội thi công an xã giỏi, anh có tiểu phẩm “Tình đời”… Mỗi tiểu phẩm là một câu chuyện rất đời thường, nhưng lại mang tính giáo dục rất cao, để lại ấn tượng rất sâu sắc trong người xem nhờ chất hài hước, dí dỏm và tình huống bất ngờ.

Hôm về Hòa Tiến thăm nhà anh, gặp một bác hàng xóm đang ngồi chơi, biết tôi đến “phỏng vấn” viết bài về anh Tác, bác bảo: “Mọi người ở thôn Hòa Tiến mỗi khi thấy bóng dáng anh Tác đâu là lại hỏi: “Bác Tác có tiểu phẩm gì mới, đem trình làng xem với!”. Anh ấy lại cười: “Có đấy! Hôm nào diễn ở nhà văn hóa nhé!”. Đấy, làm trưởng công an xã mà say văn nghệ đến thế là cùng!”.

Nguyễn Hoàng Sáu, 9/8/2010

 

Related Articles

Leave a Comment