Trang chủ Quảng cáo Chuyện kể bên dòng sông Như Nguyệt

Chuyện kể bên dòng sông Như Nguyệt

Đăng bởi HiephoaNet

Nhắc đến Sông Cầu hẳn ai cũng nhớ đến trận đánh nổi tiếng của quân đội nhà Lý dưới sự chỉ của danh tướng Lý Thường Kiệt.Sông Cầu vào thời nhà Lý có tên là sông Như Nguyệt, dòng sông có tổng chiều dài 290km bắt nguồn từ núi Văn Ôn, chảy qua biết bao làng mạc, dòng sông đã nuôi nấng bao thế hệ để rồi khi chảy đến ngã ba Xà, là nơi hợp lưu của sông Cà Lồ chảy vào Sông Câu, dòng sông là minh chứng duy nhất còn sống sót để kể lại cho muôn đời về trận đánh hào hùng ,về phòng tuyến sông Như Nguyệt, nơi đánh đuổi 10 vạn quân bắc Tống do Quách Quỳ làm chỉ huy.

Hoàng hôn , mặt trời dát vàng ánh chiều trên dòng sông .Ngồi trong đền Xà nằm sát bên dòng sông nghe cụ Từ của đền kể về lịch sử. Nơi chúng tôi đang ngồi là đền thờ hai anh em Thượng tướng Trương Hống, phó tướng Trương Hát .Hai anh em ngài đều là bậc chí dũng song toàn, theo phò Triệu Việt Vương.Tương truyền thân mẫu của hai ông là người làng Vân Mẫu, nằm mộng đến tắm ở bến Nguyệt Giang (Như Nguyệt) bị giao long quấn rồi có mang sinh ra hai ông.

Khi lớn lên hai anh em đều tài giỏi, văn võ song toàn theo Triệu Việt Vương làm tướng đánh đuổi giặc Lương ra khỏi bờ cõi. Triệu Việt Vương lên ngôi vua. Lý Phật Tử âm mưu lật đổ, hai ông đã từng can ngăn Triệu Việt Vương không nên giảng hoà với Lý Phật Tử và gả con gái là Cảo Nương cho Nhã lang con trai Phật Tử. Sau khi Lý Phật Tử chiếm được nước, dụ hai ông ra làm quan. Hai ông trả lời: “Tôi trung không làm quan với kẻ đã giết chủ mình…” rồi lánh về ẩn ở núi Phù Long (có chỗ chép núi Lạn Kha). Hậu Lý Nam Đế cho vời nhiều lần, nhưng hai ông quyết không ra. Vua ra lệnh ai chém được thủ cấp hai người thì thưởng ngàn vàng.

Hai ông bèn cùng gia quyến lên thuyền chèo ra giữa dòng sông rồi tự đánh chìm thuyền mà chết. Thi thể ông Cả dạt vào cửa Vũ Bình, ông Hai thì trôi vào sông Nam Bình. Về sau âm hồn hai ông lại phù giúp Ngô Nam Tấn Vương đi dẹp giặc Lý Huy nên được phong là “Tam giang Khước Địch Đại vương” và “Tam giang Uy Địch Đại vương”.

Vào đầu triều đại Lý Nhân Tông thế kỷ thứ XI, nhà Tống lăm le xâm lược nước ta lần thứ 2. Tổng binh Lý Thường Kiệt thấu hiểu tâm đen của nhà Tống, ông xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt, dài theo bờ nam sông Cầu (từ ngã ba Xà trở xuống) để chặn bước tiến của quân xâm lược, khi chúng liều lĩnh sang đánh nước ta. Quả nhiên năm 1076 (năm thứ 5 triều đại Lý Nhân Tông) nhà Tống sai tướng Quách Quỳ, Triệu Tiết hợp binh với quân Chiêm Thành, Chân Lạp hùng hổ sang đánh chiếm nước ta. Đến bờ sông Cầu, chúng bị chặn đứng, phải lập trại đóng quân bên bờ Bắc, củng cố lực lượng, chờ thời cơ vượt sông Cầu chọc thủng phòng tuyến của quân ta, tiến về kinh đô Thăng Long.

Lý Thường Kiệt đóng đại bản doanh ở đền thờ Cao Sơn trên núi đền Yên Phụ. Ông cho sắm lễ cầu đảo xin thần giúp kế đánh giặc. Đêm ấy Lý Thường Kiệt nằm mộng gặp thần hiện lên bảo rằng: “Tướng quân hãy đến đền Xà mượn quân của Thánh Tam Giang, còn ta không có lính tráng, nhưng cũng sẽ giúp Tướng quân”.

Nghe lời dặn của Cao Sơn, Lý Thường Kiệt sắm lễ tới đền Xà cầu xin Thánh Tam Giang. Tam Giang vui vẻ nhận lời và cho mượn quân chia làm hai đạo đi đánh quân Tống: đạo Cờ trắng đánh từ Ngã Ba Xà ngược lên tới Đu, Đuổm (Thái Nguyên), đạo quân Cờ xanh đánh từ Ngã Ba Xà xuôi xuống tận sông Lục Đầu. Thế rồi vào một đêm mưa to gió lớn được quân của Thánh Tam Giang ngầm giúp, Lý Thường Kiệt tổ chức đánh úp đồn quân Tống ở Mai Thượng. Từ trong đền Xà bỗng vang lên văng vẳng người đọc vần thơ đanh thép:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Hoàng thiên phân định tại thiên thư

Như hà nghịch tặc lai xâm ngã

Nhất đán phong vân tận tảo trừ.

Tạm dịch:

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Vua trời đã định tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Một trận gió thổi quét sạch không.

Quả nhiên trận ấy quân ta vừa đánh thì giặc đã tan. Sau khi thắng trận, Lý Thường Kiệt tâu lên vua Lý về công trạng của Thánh Tam Giang, vua rất tán thưởng và phong cho Thánh Tam Giang làm phúc thần Thượng đẳng phối thờ với các vị Thành hoàng ở miếu, đền, đình của nhiều làng, xã…

Không biết đền được xây dựng từ bao giờ , kiến trúc cổ của đền còn lại như nền móng ,chân cột và cổ vật của thời kỳ Lê Trung Hưng. Trong đền còn thác bản bia ” Linh Từ bi Ký” niên đại Minh Mệnh 16 (1835) nói khá rõ về việc trùng tu đền vào thế kỷ XVIII.Trong kháng chiến chống Pháp đền bị hư hại nặng nề.Mãi tới năm 1993 đền mới được xây dựng lại trền nền cũ. Trước cửa đền Xà, năm 2000 Nhà nước đã xây dựng một nhà bia hình tứ giác hai tầng mái. Bên trong dựng một tấm bia lớn đặt trên mình con rùa. Đầu rùa đặt một bình hương. Mặt trước bia nhìn vào đền khắc bài thơ Thần bằng chữ Hán. Mặt sau, phần trên dịch âm, phần dưới dịch nghĩa bài thơ Thần.

Bài thơ Thần – bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước ta, ra đời trong bối cảnh lịch sử đặc biệt như vậy. Bài thơ có sức công phá vào tinh thần và ý chí xâm lược của quân bắc Tống, khích lệ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân ta, góp phần làm nên chiến thắng hào hùng của quân dân thời nhà Lý đánh tan 10 vạn quân Tống bên bờ sông Như Nguyệt.

Đoàn chúng tôi ra về khi hoàng hôn đã xuống núi, chiều chạng vạng bên trên con đê. Mỗi người một dòng suy nghĩ, nhưng chắc rằng khi trở về nhà sẽ có rất nhiều bài học lịch sử từ chín

Hà Nội 23h  29/07/2010- Trần Minh Đứcminhducvtc@gmail.com gửi trực tiêp cho hiephoa.net

Bài liên quan

Gửi bình luận