Trang chủ Quảng cáo Luận bàn về Quyền lực và Quyền mưu

Luận bàn về Quyền lực và Quyền mưu

Đăng bởi HiephoaNet

Quyền lực

Con ong chúa, con sư tử đầu đàn, con khỉ đầu đàn: đầy quyền lực. Thủ lĩnh một bộ tộc, đứng đầu một tổ chức, một địa phương, một quốc gia: đầy quyền lực. Quyền lực mang cả yếu tố tự nhiên và xã hội, cả khái niệm và thực thể. Con vật sử dụng quyền lực theo bản năng tự phát. Con người sử dụng quyền lực tự giác qua trí tuệ. Thành bại đại nghiệp một đời, hay hưng vong một quốc gia phụ thuộc ở đấy. Bởi thế tinh thông quyền lực và quyền mưu là nhu cầu tất yếu cho bất kỳ đối tượng nào liên quan đến quyền lực. Nhà đại mưu lược Khương Tử Nha (đời nhà Chu) dạy: “Mưu trước hành sau sẽ sống. Hành trước mưu sau sẽ chết”. Trong trước tác “Lục thao”, bộ sách lý luận tương đối có hệ thống đầu tiên thời cổ đại của lịch sử Trung Hoa còn lưu giữ được trong 237 thiên thì Khương Tử Nha viết tới 81 thiên về “mưu”, 71 thiên về “ngôn”, 80 thiên về “binh”… Ông đặt “mưu” lên vị trí hàng đầu trong trị quốc, ngoại giao, quân sự… Chính nhờ mưu lược mà Khương Tử Nha đã giúp Chu Văn Vương đánh tan Trụ Vương kết thúc triều Thương Ân tồn tại đã hơn 600 năm giành bá chủ thiên hạ. Tôn Tử (thời Xuân Thu) nhà binh pháp lỗi lạc coi “đánh bằng mưu” là quan trọng nhất, coi «trí» là «điều kiện đầu tiên của tướng soái”. “Đánh bằng mưu” thì có thể lấy ít địch nhiều, lấy yếu địch mạnh mà vẫn thắng, thậm chí không đánh mà thắng.

Quyền lực gồm hai yếu tố cấu thành: thực quyềnthế quyền.

Thực quyền thuộc nội lực, là khả năng cá nhân gồm: học vấn, bề dầy kinh nghiệm, phương pháp tư duy, là nhân cách đạo đức…

Thế quyền thuộc ngoại lực, là chức vụ, quyền hạn được giao.

Thực quyền là chính. Thế quyền là phụ. Nội lực là chính. Ngọai lực là phụ. Thực quyền là cái đầu. Thế quyền là cái ghế. Cái đầu là của mình, thuộc sở hữu. Cái ghế không phải của mình, chỉ được sử dụng. Sử dụng phải đúng mục đích, đúng pháp luật. Có thực quyền mới được giao thế quyền. Thực quyền đến đâu, giao thế quyền đến đấy. Có thực quyền không được giao thế quyền, thực quyền không đủ điều kiện phát huy. Không có thực quyền mà giao thế quyền là đồng nghĩa với phá hoại. Thực quyền và thế quyền quan hệ biện chứng.

Quyền lực thể hiện qua ba mặt: Tài lực (tài chính), nhân lực (con người) và vũ lực (sức mạnh). Trong đó tài lực là chính. Có tài lực, sử dụng tài lực đúng mục đích, đúng pháp luật sẽ có nhân lực và vũ lực. Và, ngược lại. Ba mặt tương quan gắn bó chặt chẽ.

Bằng cách nào để có quyền lực?

Trước hết phải có thực quyền. Đồng thời kiếm tìm thế quyền.

Có ba cách để có thế quyền: cận quyền, cầu quyền và kích quyền.

Cận quyền:

Là tiếp cận quyền lực (cá nhân, hoặc tổ chức có quyền lực). Quan hệ trực tiếp và công việc cụ thể là điều kiện lý tưởng để thể hiện thực quyền. Người ta sẽ lấy đó làm căn cứ để giao thế quyền xứng đáng. Hoặc ngược lại.

Võ Tắc Thiên (triều nhà Đường-Trung Hoa) tên thật là Võ Mỵ Nương xuất thân tầng lớp bình dân tại Kinh Châu. Nhờ được tuyển vào cung mới có dịp gần gũi vua Đường Thái Tông, mới có điều kiện bộc lộ năng lực mọi mặt của mình khiến các quan đại thần khâm phục và được nhà vua phong làm «tài nhân», rồi «hoàng hậu», được uỷ thác nhiếp chính, được tôn là «đế hậu nhị thánh», rồi thâu tóm hết quyền lực lên ngôi Hoàng đế. Ở nước ta có Nguyên phi Ỷ Lan. Tên thật bà là Lê Thị Yến quê làng Thổ Lỗi (Thuận Thành, Bắc Ninh), mồ côi mẹ năm 12 tuổi, bố lấy vợ lẽ, ở với dì ghẻ vô cùng khổ. Năm ấy vua Lý Thánh Tông đi Chùa Đậu cầu tự. Dân làng kéo nhau đến xem, riêng cô Yến chăm chỉ hái dâu vừa làm vừa hát. Vua thấy lạ vời lại hỏi. Thấy người xinh đẹp, hiền thục, đối đáp lưu loát, nhà vua cảm mến đưa về cung phong làm Nguyên phi Ỷ Lan. Ỷ Lan không lấy việc chau chuốt nhan sắc làm trọng, ngày đêm miệt mài đọc sách, khổ công học hỏi. Triều thần kinh ngạc về sự thông thái, hiểu biết uyên thâm của bà. Năm 1069 nhà vua đi dẹp giặc Chiêm Thành bà được giao quyền nhiếp chính. Năm 1072, vua qua đời, Lý Nhân Tông mới 7 tuổi nối ngôi, bà vẫn nhiếp chính. Bà dựa vào các nhân tài như Lý Thường Kiệt, quy tụ sức mạnh cả nước tổ chức đánh tan giặc Tống xâm lược (1077). Có nhiều công lớn, khi qua đời bà được dân chúng xưng tụng là Quan Âm, được nhà vua phong là Phù Thánh Linh nhân Hoàng Thái hậu.

Nếu không được cận quyền thì mãi mãi Võ Mỵ Nương và Lê Thị Yến chỉ là hai cô gái quê.

Cần hiểu rằng quyền lực không chỉ có ở những cá nhân và tổ chức cấp trên, mà ở cả cá nhân và tổ chức cấp dưới, từ những người lao động bình thường, nhất là trong chế độ dân chủ tiến bộ. Được cấp trên biết, cấp trên “cử” nhưng cấp dưới không biết, nhân dân không biết, không “bầu” thì liệu có đề bạt, có trúng cử, có được giao thế quyền? Bởi vậy cận quyền không chỉ với cấp trên mà cả với cấp dưới.

Quyền từ cấp dưới, từ dân mới là gốc, mới bền vững. Coi thường quyền lực cấp dưới, coi thường quyền lực nhân dân sẽ không tránh khỏi hậu họa. Nhân dân là con số 1. Tất cả các thành phần xã hội, kể cả tầng lớp chóp bu độc quyền thống trị, muốn có nghĩa, muốn tồn tại, phát triển đều phải đứng sau con số 1 ấy. Bởi có 1 rồi mới có 2… Đó là đạo. Hữu đạo tồn, vô đạo vong. Nguyễn Trãi đã viết: “Dân bi thán tất thành tố” – Dân thở dài sẽ thành bão. Đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân. Quyền do dân giao cho thì phải dùng quyền ấy phục vụ dân. Đó mới là đạo.

Cầu quyền:

Không phải cầu cạnh, cầu xin, chạy chọt, mà là tạo cầu nối giữa quyền lực với các đối tác cần quyền lực. Có hai cách cầu quyền: khách quan và chủ quan.

Cầu quyền khách quan:

Là được người khác tiến cử.

Thời nhà Hán, Hàn Tín có tài xuất chúng đã từng theo Hạng Vũ. Với danh nghĩa quan thị vệ nhiều lần ông tìm cách tiếp cận Hạng Vũ để trình bày kế sách, mưu lược. Đáng tiếc Hạng Vũ ngông cuồng tự đại không biết nghe, không biết dùng người, khinh thường Hàn Tín xuất thân nghèo hèn chỉ cho làm chức quan nhỏ. Hàn Tín thất vọng quyết định bỏ Hạng Vũ theo Lưu Bang. Lúc đầu không hiểu Hàn Tín, Lưu Bang cũng chỉ cho ông chức quan coi kho quân lương. Rất may ông gặp được Tể tướng Tiêu Hà. Là người sáng suốt Tiêu Hà nhận biết Hàn Tín là bậc kỳ tài, ông tiến cử với Lưu Bang. Nhưng Lưu Bang cũng chưa trọng dụng. Thất vọng Hàn Tín lại bỏ đi. Được tin Tiêu Hà đích thân đuổi theo. Suốt ba ngày ba đêm mới gặp được Hàn Tín. Ông cố thuyết phục Hàn Tín quay về rồi lại kiên trì tiến cử với Lưu Bang: «Nếu Bệ hạ chỉ muốn xưng vương ở đất Hán Trung này thì không cần Hàn Tín. Nhưng muốn đoạt cả thiên hạ, thì ngoài Hàn Tín ra không ai có thể cùng Bệ hạ bàn việc quốc gia đại sự». Sau nhiều lần nghe Tiêu Hà thuyết giải, lại biết Tiêu Hà xưa nay rất giỏi dùng người, nhà vua chuẩn y phong Hàn Tín làm đại tướng thống soái ba quân. Nhờ thế Hàn Tín mới có điều kiện bộc lộ thực quyền bằng khả năng siêu phàm trở thành danh tướng đầy mưu lược trí dũng song toàn, bách chiến bách thắng, lừng lẫy chiến công, được Lưu Bang phong tới chức Tề vương.

Bàng Thống người Tương Dương, lòng rộng, chí lớn, hiệu là Phục Phượng (Phượng hoàng ẩn mình) mai danh ẩn tích trong núi nghiền ngẫm binh thư mong tìm hào kiệt. Lỗ Túc biết, tiến cử với Lưu Bị. Thấy Bàng Thống diện mạo xấu xí, vừa đen, vừa lùn, mũi hếch, râu mọc đầy mặt Lưu Bị chỉ để Bàng Thống đảm nhận chức Huyện lệnh. Bàng Thống trong lòng bất mãn, muốn ra đi. Lỗ Túc liền viết thư cho Lưu Bị: “Quản lý một huyện nhỏ không nên dùng Bàng Thống. Để ông ta làm từ Tự trung, Biệt giá trở lên mới phát huy được tài năng”. Khổng Minh Gia Cát Lượng chỉ mấy lần tiếp xúc cũng đánh giá Bàng Thống rất cao và hết lòng tiến cử. Đến lúc này Lưu Bị mới cho Bàng Thống triệu kiến. Sau khi trò chuyện, Lưu Bị vô cùng quý trọng, khâm phục, liền bổ nhiệm chức Quân sư trung lang tướng, chỉ ở sau Gia Cát Lượng. Trận Xích Bích lừng danh, liên quân Ngô – Thục đại thắng Tào Tháo, công lớn là nhờ kế “hoả liên hoàn” của Bàng Thống. Ông trở thành nhà đại mưu lược nổi tiếng không kém Khổng Minh, giúp Lưu Bị lập nên đại nghiệp.

Hoặc triều Tống, Triệu Phổ tiến cử một người, nhưng hoàng đế Triệu Khuông Dẫn không ưa người ấy. Lần thứ nhất không được phê chuẩn. Lần thứ hai Triệu Phổ vẫn tiến cử người ấy. Nhà vua vẫn không phê chuẩn. Lần thứ ba Triệu Phổ vẫn tiến cử người ấy. Nhà vua giận giữ xé tờ tấu ném xuống đất. Triệu Phổ bình thản cúi xuống nhặt lại bản tấu, cáo lui. Về nhà ông đem tờ tấu bị xé dán lại. Lần thứ tư lại vẫn dâng tờ tấu tiến cử người ấy. Triệu Phổ vốn là bậc trung thần đức độ, bốn lần kiên trì tiến cử một người khiến nhà vua nghĩ lại, đoán rằng đó chắc là nhân tài và phê chuẩn. Quả nhiên người ấy sau này trở nên trụ cột cho vương triều của ông. Đó là Đại tướng Tào Bân.

Nếu không có Tiêu Hà, Triệu Phổ, Lỗ Túc và Gia Cát Lượng làm cầu quyền thì liệu Hàn Tín, Bàng Thống và Tào Bân có trở thành Tề Vương, Quân sư Trung lang tướng và Đại tướng?

Cầu quyền chủ quan:

Là tự tiến cử. Muốn thế, trước hết phải có thực quyền, rồi tự gửi tấu trình tới cá nhân hoặc tổ chức quyền lực đề xuất ý tưởng, dùng chính bản tấu làm cầu quyền.

Năm 140 trCN Hán Vũ Đế ban chiếu kêu gọi thiên hạ tiến cử hiền tài. Chu Mại Thần, một ẩn sĩ nghèo đã bao năm dầy công nghiên cứu binh pháp dâng sớ tự tiến cử và được Hán Vũ Đế triệu kiến. Chu Mại Thần hiến kế đánh Đông Việt. Ông nói: «Vương Dư Thiện ở Tuyền Sơn, dựa vào thế hiểm trở cố thủ nên không phá được. Nay ông ta đi xuống phía Nam ta chớp thời cơ xuất binh theo đường biển tiến đánh úp Tuyền Sơn thế nào cũng thắng». Quả nhiên bằng kế đó Đông Việt đại bại. Hán Vũ Đế phong ông làm Đô uý chủ tước.

Nghiêm An, một tài năng chờ thời cũng dâng tấu trình bày chính sự, đặt ra những kế sách trị quốc mà Hán Vũ Đế rất quan tâm. Đọc xong nhà vua đích thân triệu kiến, hết lời khen ngợi, rồi bổ nhiệm làm Từ lang trung. Một năm sau thăng liền bốn bậc tới chức Trung đại phu, trở thành mưu thần quan trọng của nhà vua.

Thời nhà Nguyên, Quách Thủ Kính nhiều năm nghiên cứu thiên văn, toán học, chế tạo cơ khí…Tự dâng tấu lên Hốt Tất Liệt đề xuất sáu điểm về phát triển thuỷ lợi kèm các giải pháp cụ thể. Xem xong Hốt Tất Liệt khen: “Những người như Quách Thủ Kính trẫm đang cần”, liền phong cho chức Phó hà cừ xứ Tổng quản thuỷ lợi. Qua hai năm công trình hoàn thành giúp giao thông đường thuỷ thuận tiện, làm chủ tưới tiêu cho chín vạn mẫu đất trồng trọt. Ngoài ra Quách Thủ Kính còn hợp tác với học giả Hứa Hoành và Vương Tuần năm 1280 soạn xong “Lịch thụ thời” là bộ lịch ưu tú nhất thời bấy giờ.

Bằng cách tự tiến cử Chu Mại Thần, Nghiêm An và Quách Thủ Kính đã thực hiện kế cầu quyền chủ quan để đạt được đỉnh cao quyền lực.

Kích quyền:

Là dùng thuật công kích gây phản ứng mạnh để cá nhân hoặc tổ chức có quyền lực biết đến mình. Đây là kế mạo hiểm, thành bại trong gang tấc. Bởi cũng bằng cách tấu trình nhưng nội dung không chỉ đề xuất cải cách mà có cả phê phán, chỉ trích, thậm chí phản đối, lên án mạnh mẽ. Làm được việc này trước hết phải có thực quyền, đặc biệt phải dũng cảm dám chấp nhận hy sinh.

Thời nhà Thanh, Tăng Quốc Phiên trở thành nhân vật nổi tiếng nhờ kích quyền. Nhiều năm đảm nhiệm các chức Hữu thị lang Bộ Lễ ông dầy công nghiên cứu thời cuộc, đặc biệt từ “Chiến tranh nha phiến” đến “Khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc” và thấy rõ những nguyên nhân khiến triều Thanh ngày càng hủ bại về chính trị, hỗn loạn về xã hội, đình đốn sa sút về kinh tế, lòng người ly tán…là do triều chính không đủ uy, quan lại tham nhũng, bè phái, dân bị đè nén áp bức thậm tệ, luật pháp không nghiêm, kỷ cương phép nước buông lỏng…Ông dâng sớ lên Hoàng đế tỏ rõ bức xúc, bất bình và thuyết phục nhà vua cải cách. Nhưng tiếc thay tấu trình của ông không được hồi âm. Không nản, năm sau ông lại dâng tấu lên Hoàng đế, thái độ mạnh mẽ, cứng rắn hơn, nội dung sâu sắc, khúc triết hơn, những đề xuất cải cách cụ thể hơn. Thậm chí ông dám cảnh cáo Hoàng đế: “Nếu Bệ hạ nghe lời nói thẳng mà cảm thấy đáng ghét, còn nghe lời nịnh hót cảm thấy thân tình thì sẽ không thể ngăn chặn được tệ nạn”. Đọc xong Hoàng đế Hàm Phong nổi giận lôi đình, lập tức sai quân cơ bắt vào trị tội. Các quan đại thần ra sức can ngăn Tăng Quốc Phiên mới được tha.

Tuy nhiên các bản tấu đó đã làm Tăng Quốc Phiên nổi tiếng khiến Hoàng đế phải suy nghĩ lại và thấy Tăng Quốc Phiên đúng là bậc trung quân ái quốc, tư chất hơn hẳn bọn gian thần. Không trị tội, hơn thế Hoàng đế còn khen ngợi Tăng Quốc Phiên dám nói những điều mà người khác không dám, bổ nhiệm ông chức Thự hình Bộ thị lang.

Dùng kích quyền để đạt quyền lực như Tăng Quốc Phiên không nhiều. Đa phần chết thảm, bởi minh quân ít mà bạo chúa nhiều. Hầu hết kẻ nắm quyền tham vọng lớn bất chấp luật pháp, đạo lý, dám coi thế quyền thuộc sở hữu riêng, độc đoán, tác quái, biết sai không chịu sửa còn hãm hại trung thần. Gương tiền nhân đó: Văn Vương do thuyết phục vua Trụ mà bị Trụ nhốt ngục. Nhiều bậc gián quan cũng vì xã tắc khuyên can vua mà mang họa như Dục Hầu bị thiêu sống, Quỷ Hầu bị phơi khô, Tỷ Can bị moi gan, Mai Bá bị làm mắm, Quản Di Ngô bị hành hình, Bách Lý Hề phải đi ăn xin, Quản Long Bàng bị chém, Thành Hoành bị phanh thây, Tư Mã Tử bị giết xác trôi trên Sông Giang, Điền Linh bị liệng đá đến chết…

Tuy nhiên lịch sử vẫn đánh giá cao những nhân cách ấy. Quan văn chết vì can gián, quan võ chết nơi sa trường. Đó là chết vinh…

( Còn nữa ) Đắc Trung.

Bài liên quan

Gửi bình luận